Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

Thủ đoạn xuyên tạc về đổi mới chính trị - xã hội ở Việt Nam

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...
          Thủ đoạn của chhúng là tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

          Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

          Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta mà thôi.

Trắng trợn hơn trong xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc thiểu số và tôn giáo

- Chúng chỉ đạo, cung cấp tài chính cho các phần tử cơ hội chính trị, chống đối công khai hoạt động chống phá ta, khi ta xử bọn này tội vi phạm an ninh quốc gia thì chúng vu cáo ta là vi phạm dân chủ, nhân quyền. Chúng trao các phần thưởng cho bọn chống đối này và kích động các tổ chức phản động, các tổ chức chính trị đòi ta thả cái gọi là "tù nhân lương tâm".

- Chúng chỉ đạo, hướng dẫn một số nhân vật phản động đội lốt tôn giáo công khai hoạt động phá hoại an ninh, trật tự công cộng, khi ta xử lý bọn này theo đúng pháp luật của ta thì chúng vu cáo ta đàn áp tôn giáo.

- Chúng mua chuộc, lôi kéo, kích động, đe dọa một số bà con người dân tộc vượt biên sang Campuchia, rồi vu cáo ta đàn áp người dân tộc thiểu số.

Sử dụng bọn phản động người Việt lưu vong để chống phá ta về dân chủ, nhân quyền

- Tổ chức "Nhà nước Đề ga" của Ksor Kơk ở Mỹ.

- "Ủy ban Tự do tôn giáo cho Việt Nam" của Ngô thị Hiền ở Mỹ.

- "Ủy ban cứu trợ người vượt biên" của Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ.

- "Ủy ban Bảo vệ quyền làm người" của Võ Văn Ái ở Pháp.

- Tổ chức "Chính phủ lâm thời Việt Nam tự do" chủ trương xây dựng Đảng dân tộc để thành lập lực lượng chính trị đối lập ra tranh cử công khai.

- "Tổ chức phong trào Huân chương 2000" của Nguyễn Bá Long xây dựng "Đảng dân chủ ly khai".

- "Đảng Việt Tân ở Mỹ do Nguyễn Kim Lâm làm Chủ tịch đã ra mắt công khai ở 7 nước...

Tất cả các tổ chức này dang móc nối với nhau để tác động với Chính phủ Mỹ và Tây Âu tăng cường các chính sách chống phá cách mạng Việt Nam, đồng thời tăng cường đẩy mạnh các hoạt động chống phá ta về mặt dân chủ, nhân quyền. Năm 2004, chúng đã biên soạn và tung vào Việt Nam trên 200 tài liệu phản động, đáng chú ý nhất là chúng thành lập "ủy ban toàn quốc bảo vệ Nguyễn Vũ Bình", "Ủy ban dân chủ”, "Đảng của trí thức"... đẩy mạnh chống phá ta trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tạo dựng ngọn cờ, hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở trong nước.

Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, một số người lợi dụng tình hình đó để phản bác quy luật độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Họ đặt ra vấn đề về con đường đã đi, thậm chí có một số người muốn nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa hoặc con đường xã hội dân chủ; bác bỏ tính chất thời đại; bác bỏ vai trò lịch sử của giai cấp công nhân coi chế độ tư bản là hoàn hảo và hy vọng con đường tư bản chủ nghĩa sẽ đưa đất nước đến phồn vinh.

Tình hình thế giới mấy thập kỷ gần đây xuất hiện nhiều nhân tố mới, nhất là trong khoa học và công nghệ, nhưng quy luật phát triển khách quan của lịch sử, những động lực cơ bản của cách mạng xã hội, vai trò của giai cấp công nhân mà chủ nghĩa Mác - Lênin phát hiện vẫn giữ nguyên giá trị, tất nhiên, nội dung và hình thức biểu hiện của chúng có nhiều nét mới.

Nắm vững phương pháp luận khoa học, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội đung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức".

Với tinh thần trên, chúng ta coi sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và ở một số nước Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn lịch sử cho chứng ta thấy trong sự phát triển chung không loại trừ những bước thụt lùi tạm thời và chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản là quy luật khách quan.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh tính tất yếu của độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Đường lối này là một trong những nguyên nhân của mọi thắng lợi và trở thành một bài học lớn của lịch sử Đảng.

Người đã giải quyết vấn đề dân tộc theo một quan điểm khác về cơ bản của nhà yêu nước cùng thời. Theo Người, sau khi đã giành được độc lập thì "quyền trao cho dân chúng số nhiều”, nhân dân không phải sống cảnh nghèo nàn, bị áp bức mà trở thành người chủ thật sự của đất nước và bản thân.

Sau nhiều năm đi khắp các lục địa trên đường cứu nước, với thiên tài và những kiến thức, tình cảm mới Người đã tiếp thu chân lý: chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ"

Nhận thức của Người về chủ nghĩa xã hội không chỉ từ phương diện lý thuyết, mà còn qua khảo sát thực tiễn.

Giữa năm 1923, Người sang Liên Xô và có điều kiện nghiên cứu chế độ Xô-viết. Nhân dân Liên Xô vừa ra khỏi chiến tranh, dù đời sống còn thiếu thốn, nhưng Chính phủ và nhân dân đã giành mọi thứ tốt nhất cho trẻ em; nhân dân thực sự là người chủ đất nước, nền dân chủ Xô-viết hơn hẳn nền dân chủ tư sản.

Trong khi nhiều người yêu nước còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản thì Người đã khẳng định, cách mạng Pháp cũng như cách mạng Mỹ là cách mạng tư bản, cách mạng không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, những kỳ thực trong thì nó bóc lột công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.

Lúc này, Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại nổ ra và thắng lợi, mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Trong bối cảnh đó, cách mạng Việt Nam muốn thành công cần đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười và phải do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo. Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Pháp, phát triển mạnh về số lượng và từng bước phát triển về chất lượng. Tuy nhỏ so với số dân, nhưng giai cấp công nhân Việt Nam hội đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc tế.

Vào những năm 1926 - 1928, ở nước ta đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai đường lối cứu nước: đường lối cứu nước của giai cấp tư sản và đường lối cứu nước của giai cấp công nhân Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định đường lối cứu nước theo lập trường giai cấp công nhân.

Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 đã tán thành hợp nhất các tổ chức thành một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tến là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, mà tư tưởng cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Sự phát triển của thế giới đương đại đã tạo ra những điều kiện mới để độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp giải phóng dân tộc và giải phỏng giai cấp.

Thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam trong hơn 70 năm vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền với nhau là hoàn toàn đúng.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một chân lý lớn của thời đại

Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu và phát triển nội dung chân lý đó. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nguyên nhân của mọi thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng Việt Nam, đó là ánh sáng chỉ đường cho ta giành mọi thắng lợi cho giai đoạn cách mạng hiện nay. Đất nước bước vào thế kỷ XXI, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định quan điểm có tính nguyên tắc: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta.

Vận dụng lý luận Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam trong đường lối của mình ngay từ đầu đã chỉ rõ cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa; giữa hai giai đoạn cách mạng không có bức tường nào ngăn cách.

Trong giai đoạn cách mạng thứ nhất, Đảng đã thực hiện một phần của nhiệm vụ thuộc giai đoạn cách mạng thứ hai và ở giai đoạn cách mạng thứ hai, Đảng sẽ hoàn thành phần còn lại của giai đoạn thứ nhất.

Trong giai đoạn cách mạng thứ nhất, Đảng chủ trương nêu cao ngọn cờ dân tộc để tập trung lực lượng chung đế quốc và tay sai giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Khi mất nước, nhân dân ta có nguyện vọng tha thiết giành lại nền độc lập dân tộc, dù phải hy sinh xương máu. Nguyện vọng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc của nhân dân là sức mạnh vật chất to lớn và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức đúng đắn nguyện vọng đó trên lập trường của giai cấp vô sản và đã thể hiện được nguyện vọng đó trong đường lối, chính sách của Đảng. Đường lối cứu nước do Người vạch ra đã khắc phục được hạn chế của những nhà yêu nước cùng thời chỉ chóng thực dân, hoặc chỉ chống bọn tham quan ô lại, không thấy được sự câu kết giữa chủ nghĩa đế quốc và bọn phong kiến là đặc trưng của một nước thuộc địa.

Tư tưởng của Người đã khắc phục tư tưởng sai lầm, hẹp hòi, không thấy đầy đủ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời, Người cũng chỉ ra những đặc điểm của chủ nghĩa xã hội - con đường đi tới của cách mạng Việt Nam. Người cho rằng, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ; chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ, chủ nghĩa xã hội là một xã hội không có người bóc lột người, mọi người đều no ấm.

Chủ nghĩa xã hội đã đáp ứng những nguyện vọng trước mắt và lâu đài của nhân dân lao động, nên nó là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam. Sức mạnh của chủ nghĩa xã hội sẽ được tăng lên khi đường lối cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm dân tộc, cũng như phát huy sức mạnh toàn dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Từ kết quả nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh xây dưng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu lên những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó là xã hội:

" Do nhân dân lao động làm chủ;

- nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân;

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ;

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới".

Chủ nghĩa xã hội quy định tính triệt để của cách mạng giải phóng dân tộc, giành được độc lập dân tộc tạo tiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội; và xã hội chủ nghĩa xã hội vững mạnh lại càng củng cố vững chắc nền độc lập dân tộc. Như vậy, chủ nghĩa xã hội đã, đang và sẽ là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng ta và nhân dân ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và của Đảng ta.

Các thế lực cực hữu ở Mỹ và Tây âu đẩy mạnh các hoạt động tạo cơ sở pháp lý để gây sức ép với ta về các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để can thiệp sâu vào nội bộ của ta

- Trong năm 2004, Quốc hội Mỹ đã tổ chức 2 cuộc điều trần: "Nhân quyền Việt Nam"; "Thương mại và nhân quyền - tương lai của quan hệ Mỹ - Việt".

Quốc hội Mỹ đã ban hành 7 nghị quyết vu cáo ta vi phạm dân chủ nhân quyền, tự do tôn giáo.

- Chính quyền Trung ương Mỹ đã thao túng cho các hành động chống Việt Nam của một số chính quyền địa phương ở Mỹ: 49 thành phố, 3 quận, hạt và 3 tiểu bang cho phép treo cờ 3 sọc, 3 thành phố ra nghị quyết "không cho phép các đoàn cao cấp cộng sản Việt Nam tới thành”.

Đáng chú ý, sau nhiều năm, lần đầu tiên cả Quốc hội và Chính phủ Mỹ công khai cùng gây sức ép với Việt Nam:

- Hạ viện Mỹ thông qua Dự luật nhân quyền Việt Nam 2004 (HR1587).

- Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách "Các nước cần đặc biệt quan tâm" về tôn giáo (CPV). Sau khi Thượng viện Mỹ không thông qua dự luật, một số đối tượng cực hữu tìm cách đưa một số nội dung chủ yếu của dự luật này vào "Điều khoản bổ sung" trong luật phân bố ngân sách tổng hợp tài khóa 2005, nhưng âm mưu này một lần nữa đã thất bại.

Các thủ đoạn hoạt động này cho thấy Mỹ đang đẩy mạnh luật pháp hóa một số vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc tôn giáo để can thiệp công khai, trắng trợn vào nội bộ ta, nhằm đẩy nhanh tiến trình chuyển hóa "dân chủ” ở Việt Nam. Chúng ép ta phải "mở rộng dân chủ', "cải thiện tình trạng nhân quyền", cho "tự do tôn giáo", thực chất chúng đòi ta phải thay đổi pháp luật, cải cách chính trị theo hướng chế độ chính trị đa nguyên, phủ định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI CÓ DŨNG KHÍ BẢO VỆ LẼ PHẢI

Đức tính thanh liêm, chính trực và danh dự của người đảng viên là nền tảng để họ có dũng khí đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, tham ô, lãng phí…

Trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng (PCTN), tiêu cực (TC), không ít người phải chịu cảnh bất công khi bị cô lập, trù dập, thậm chí bị cấp trên kỷ luật vì lý do “không biết điều”, “không biết mình là ai”... Nhưng nhiều người đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống tiêu cực, bảo vệ lẽ phải với tinh thần “chỉ biết còn Đảng là còn mình”. Trường hợp của cựu chiến binh Đàm Tiến Chiêm (Phó Ban liên lạc Cựu chiến binh Đặc công tỉnh Ninh Bình) là một ví dụ.

Năm 1999, khi giữ cương vị làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp xã Ninh Tiến (TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình), ông Chiêm phát hiện nhiều cán bộ lạm dụng chức quyền chiếm đoạt 5% đất của xã làm của riêng. Khi ông và các xã viên đấu tranh chống tiêu cực, có nhiều đối tượng đã đến gặp ông dụ dỗ, không được thì đe dọa. Nhưng với “tinh thần thép” của người chiến sĩ, ông không cho phép mình chùn bước. Vì việc làm này, ông Chiêm trở thành “vật cản” trong mắt một số cán bộ thoái hóa, biến chất ở địa phương.

Năm 2015, chi ủy đặt vấn đề với ông không tham gia ứng cử vào vị trí Phó Giám đốc Hợp tác xã với lý do ông đã cao tuổi. Tuy nhiên, khi ra Đại hội, ông vẫn được các xã viên tín nhiệm và được bầu vào vị trí này. Lấy lý do ông không chấp hành nghị quyết của chi bộ, chi ủy đã ra quyết định kỷ luật ông. Sau đó, cấp ủy lại đề xuất khai trừ ông ra khỏi Đảng. Điều đáng buồn là tổ chức đảng các cấp cũng thống nhất theo đề xuất này, dẫn đến việc Ban Thường vụ Thành ủy Ninh Bình ra quyết định xóa tên đảng viên Đàm Tiến Chiêm.

Với danh dự của người lính Cụ Hồ, ông Chiêm luôn vững lòng tin với Đảng và quyết tâm tranh đấu với tiêu cực đến cùng. Và niềm tin của ông đã được đền đáp khi Thường vụ Thành ủy Ninh Bình sau đó ban hành các quyết định khôi phục quyền đảng viên đối với ông. Năm 2018, trong lễ khôi phục quyền đảng viên, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình lúc đó là bà Nguyễn Thị Thanh (nay là Trưởng Ban công tác đại biểu - Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã bày tỏ sự nể trọng đối với ông, bởi vì lòng tự trọng và danh dự của đảng viên, ông đã đấu tranh tìm lại sự trong sạch cho chính mình và cũng là góp phần củng cố niềm tin trong Đảng.

Trường hợp của ông Chiêm là một trong những điển hình của hàng triệu đảng viên “không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào và cũng không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào, dám nói, dám làm, kiên quyết làm vì lợi ích chung” như lời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thực tế cho thấy, trong đấu tranh PCTN,TC, hầu hết đối tượng bị tố cáo đều là những người có chức vụ, quyền hạn, còn người tố cáo thường là cấp dưới hoặc yếu thế hơn. Điều này dẫn đến việc có rất nhiều cá nhân biết về hành vi tham nhũng, tiêu cực nhưng lại e ngại và không dám tố cáo do sợ bị “sứt đầu, mẻ trán”. Không ít cán bộ, đảng viên thực sự chính trực đã phải ngậm ngùi rời khỏi cơ quan, tổ chức, vì họ không thể chấp nhận sống chung với tiêu cực. Một số người khác thì chấp nhận sống trong im lặng, an phận thủ thường bởi suy nghĩ “đấu tranh thì tránh đâu”. Tuy nhiên, nhiều người đã vượt qua được nỗi sợ hãi này. Họ đã đấu tranh với chính mình, với cái lợi bất chính, cái tâm vô cảm.

Rất nhiều cán bộ, đảng viên đã được khen thưởng vì dũng cảm tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đây chính là niềm động viên, khích lệ, lan tỏa tinh thần đấu tranh PCTN,TC mà Đảng, Nhà nước ta đang đẩy mạnh. Minh chứng là ngày 16/9/2022, Thanh tra Chính phủ đã có Quyết định 331/QĐ-TTCP khen thưởng cho 4 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc tố cáo hành vi tham nhũng tại tỉnh Hà Giang. Đó là ông Phạm Ngọc Chuyển và ông Phạm Văn Phú - công chức thuộc Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hà Giang, mỗi người 20 tháng lương cơ sở, tương đương 29,8 triệu đồng; khen thưởng ông Khuất Duy Mỹ và ông Nguyễn Ngọc Đức, hai cán bộ thuộc Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Hà Giang mỗi người 30 tháng lương cơ sở, tương đương 44,7 triệu đồng.

Có thể khẳng định, những người dám đứng ra tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực hoàn toàn không phải vì mục đích để được khen thưởng, được vinh danh, mà đó là bổn phận, trách nhiệm và danh dự của người đảng viên buộc họ phải lên tiếng để bảo vệ niềm tin yêu của nhân dân với Đảng và chế độ.

Trong cuộc họp báo sau khi kết thúc Đại hội XIII của Đảng (ngày 01/02/2021), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chia sẻ: “Có người hối lộ, xách vali tiền đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương định biếu xén, lấp liếm. Cán bộ kiểm tra bảo mở ra xem nó là gì, mở vali ra thấy toàn là tiền đô-la. Cán bộ liền bảo khóa lại, lập biên bản, ký vào đây rồi xách va li đó về”. Kể lại câu chuyện này, Tổng bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: đấu tranh chống tham nhũng là phức tạp, khó khăn, nếu không có bản lĩnh, dũng khí, tình cảm chân chính thì không làm được./.

VTN-STT (B PL VN)

Biểu hiện "lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn" - Cần đấu tranh loại bỏ

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống rất nghiêm trọng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Chính vì vậy, đấu tranh loại bỏ nó là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Hiện nay, trong bộ máy công quyền ở nước ta, đa phần cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với những thủ đoạn rất tinh vi. Có người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái nhằm chiếm đoạt tài sản (cá nhân, tổ chức, nhà nước), làm sai lệch kết quả hoặc thông tin nào đó,… để trục lợi cá nhân. Có người lại thao túng công tác cán bộ, lạm dụng quyền lực để cất nhắc, bổ nhiệm đề bạt người thân, người nhà, “cánh hẩu” vào các vị trí, chức vụ được cho là nhạy cảm, “dễ sinh lời”, v.v. Việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, đảng viên do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là do cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các tổ chức của Đảng, các cơ quan của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng như các tổ chức chính trị xã hội các cấp chưa thật sự đồng bộ, hiệu quả; còn có những kẽ hở để một số cán bộ, đảng viên lợi dụng, lạm dụng, cố ý làm trái. Trên thực tế, việc thực hiện quyết tâm phòng, chống tham nhũng và thực thi Luật Phòng chống tham nhũng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ sau Đại hội XII đến nay đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng. Đã có hơn 1.300 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý liên quan đến các biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chuyên quyền, độc đoán trong công tác cán bộ,... dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước, nhân dân; làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, lợi dụng biểu hiện đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động xuyên tạc, quy kết, thổi phồng, thực hiện ý đồ xấu. Bởi vậy, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn là một trong những vấn đề cấp bách, giải pháp rất quan trọng nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh hiện nay. Để thực hiện mục tiêu đó, cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau: Một là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phòng, chống hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho mọi người thấy rõ việc đấu tranh xóa bỏ hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là tất yếu khách quan, giải pháp quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân. Để đạt hiệu quả cao, các tổ chức đảng, nhất là chi bộ phải làm tốt công tác giáo dục, quán triệt cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức vụ trong hệ thống chính trị về tinh thần, ý thức phục vụ, chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định; nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình; phân tích chất lượng cán bộ, đảng viên hằng năm phải lấy Luật Công chức, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, đảm bảo quá trình thực thi công vụ của công chức Nhà nước phải “suốt đời làm công bộc của nhân dân, không màng đến vòng danh lợi” làm căn cứ đánh giá. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa để thực hiện tốt Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên nêu gương “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống lợi dụng chức vụ, quyền hạn”; nguwoif có chức vụ càng cao thì sự gương mẫu, tinh thần “dĩ công vị thượng” càng phải được khẳng định; tuyệt đối “không để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi”. Hai là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ, chức trách, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện, hành vi vi phạm quy chế, quy định pháp luật,… của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của bộ máy công quyền. Vì thế, phải tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; duy trì nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, kiên quyết ngăn chặn tình trạng quan liêu, buông lỏng quản lý, xa rời thực tiễn, cơ sở. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, giúp việc các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải vững mạnh, thực sự là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có bản lĩnh bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng. Cùng với đó, phải phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, kịp thời phát hiện những biểu hiện sai trái, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân và gia đình; có quy định chặt chẽ để ngăn ngừa hiệu quả những sự tác động vào hoạt động của các cơ quan này; tránh tình trạng làm cho qua, hình thức, chiếu lệ, nể nang, thậm chí biểu hiện bao che, chống lưng, sân sau, lợi ích nhóm. Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị. Các cơ quan, đơn vị cần nhanh chóng hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; quy định về việc ngăn chặn những người có chức, có quyền lợi dụng cương vị công tác để trục lợi; quy định về cho thôi, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định về điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, lợi dụng chức, quyền, tham nhũng, uy tín thấp. Song song với đó, cần thực hiện tốt cơ chế kiểm soát, giám sát và phản biện từ trên xuống, từ dưới lên, từ bên ngoài (của nhân dân, các tổ chức xã hội,…) và từ trong nội bộ cơ quan, tổ chức, làm cho cán bộ, đảng viên “không thể” và “không dám” lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái trong khi thi hành công vụ. Trong đó, việc phát huy tai mắt nhân dân, vai trò của báo chí là một giải pháp rất quan trọng. Thực tế thời gian qua cho thấy, nhiều vụ án tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phát giác từ quần chúng nhân dân và báo chí, dư luận xã hội. Bốn là, kịp thời xử lý đối với cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Đây là việc làm hết sức quan trọng, có tác dụng trực tiếp cảnh báo, phòng ngừa, răn đe đối với các tổ chức đảng và đảng viên, cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật của Đảng. Các cơ quan, đơn vị phải quán triệt và thực hiện đúng phương châm chỉ đạo của Đảng xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật nói chung, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn nói riêng một cách nghiêm minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; tạo môi trường làm việc văn hóa, thân thiện, đoàn kết , … để cán bộ, đảng viên được tôi luyện và trưởng thành. Đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn ra khỏi suy nghĩ, hành vi của cán bộ, đảng viên là việc làm mang tính cấp bách và là một trong những giải pháp rất cơ bản làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, uy tín, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Hà Nội đứng đầu cả nước về thu hút vốn FDI trong 6 tháng đầu năm 2023

 

Chiều 30-6, UBND TP Hà Nội tổ chức Họp báo thông tin về tình hình kinh tế-xã hội quý II năm 2023 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023.

Chánh văn phòng UBND TP Hà Nội kiêm người phát ngôn của UBND thành phố Trương Việt Dũng; Phó giám đốc phụ trách Sở Thông tin và Truyền thông Nguyễn Tiến Sỹ đồng chủ trì họp báo.

Buổi họp báo được tổ chức theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu UBND thành phố tới điểm cầu UBND 30 quận, huyện, thị xã.

Tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm

Theo Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội Vũ Duy Tuấn, từ đầu năm 2023, tình hình thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường. Kinh tế Thủ đô bị ảnh hưởng rõ rệt, nhưng vẫn đạt những kết quả quan trọng, trên các mặt.  

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 220.121 tỷ đồng, đạt 62,4% dự toán, bằng 122,9% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương 39.769 tỷ đồng, đạt 37,8% dự toán, bằng 126,8% so với cùng kỳ.

Xuất, nhập khẩu suy giảm do ảnh hưởng suy giảm kinh tế thế giới; kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm đạt 8.084 triệu USD, giảm 2,7% (cùng kỳ tăng 17,1%); kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm đạt 17.386 triệu USD, giảm 16,3% (cùng kỳ tăng 24,5%).

Chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát; bình quân 6 tháng đầu năm CPI tăng 1,22% - thấp hơn cùng kỳ (tăng 3,25%) và đạt mục tiêu đề ra (dưới 4,5%).

GRDP 6 tháng đầu năm 2023 tăng 5,97% - là mức tăng khá trong bối cảnh kinh tế bị ảnh hưởng kép từ sự mất cân đối cung - cầu do xung đột vũ trang Nga - Ucraina và từ tác động chính sách thắt chặt tiền tệ của các quốc gia.

Về thu hút vốn FDI, 6 tháng đầu năm đạt 2.265 triệu USD, dẫn đầu cả nước và vượt kết quả năm 2022. Doanh nghiệp tiếp tục phát triển với 15.618 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 5%.

Các ngành kinh tế duy trì phát triển. Du lịch và vận tải hành khách phục hồi mạnh. Văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển. Các hoạt động văn hóa, thể thao, lễ hội phục hồi mạnh sau đại dịch Covid-19. Đoàn thể thao Hà Nội tham dự SEA Games 32 đạt thành tích ấn tượng với 99 huy chương - gần 1/3 tổng số huy chương toàn đoàn Việt Nam.

Thành phố cũng đẩy mạnh tiến độ công tác quy hoạch; xây dựng hạ tầng và phát triển đô thị, đặc biệt là đã khởi công dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện còn lại đảm bảo tiến độ dự án; tiếp tục phát triển nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư; đẩy nhanh tiến độ 4 dự án nước sạch và dự án mạng cấp nước cho các xã còn lại...

Công tác quốc phòng được củng cố; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; các hoạt động đối ngoại tiếp tục duy trì và phát triển.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2023: Đẩy mạnh thực hiện các công trình trọng điểm

Để đạt chỉ tiêu tăng trưởng GRDP cả năm 2023 là 7,0% thì quý III phải tăng từ 7,54% trở lên, quý IV phải tăng từ 8,23% trở lên, thành phố tiếp tục tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:

Đảm bảo tăng trưởng ổn định kinh tế Thủ đô, kiểm soát lạm phát; tiếp tục củng cố, phát huy các động lực tăng trưởng. Đảm bảo nhu cầu vốn cho nền kinh tế và thanh khoản của hệ thống. Cân đối thu, chi ngân sách; cân đối cung - cầu, nhất là cân đối về xăng, dầu và các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng; cung cấp điện an toàn, ổn định…

Đẩy mạnh thực hiện dự án và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công nhất là các công trình trọng điểm. Thực hiện hiệu quả Kế hoạch phát triển công nghiệp văn hóa; kế hoạch đầu tư 3 lĩnh vực; kiểm soát dịch Covid-19, các dịch bệnh mùa hè.

Đẩy nhanh công tác lập quy hoạch; nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý nhà nước về quy hoạch, đất đai, đô thị và bảo vệ môi trường, như: Hoàn thành và trình duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; triển khai thực hiện Nhiệm vụ đồ án Điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065; hoàn thành một số quy hoạch chi tiết khu chung cư cũ và đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án cải tạo chung cư cũ; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất.

Đồng thời, tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đảm bảo quốc phòng, an ninh và an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao trên địa bàn. 

 

Loại bỏ thói xu nịnh trong cơ quan, đơn vị

 

Từ xưa đến nay, trong xã hội đã hình thành nét văn hóa ứng xử để làm cho con người có những hành vi chuẩn mực với nhau hơn. Văn hóa ứng xử là nét đẹp của mỗi người được hình thành trong quá trình tương tác giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa các thế hệ thông qua hành vi giao tiếp (ngôn ngữ, cử chỉ) nhằm hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Tuy nhiên, trong thực tế, bên cạnh những nét đẹp trong văn hóa ứng xử lại xuất hiện những hành vi lệch chuẩn như thói xu nịnh, làm ảnh hưởng đến nhân cách con người, gây nên những hệ lụy khó lường.

Thói xu nịnh có nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều cấp độ khác nhau, với muôn hình vạn trạng, biến hóa khôn lường, nịnh trên, nịnh dưới, ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành trong các cơ quan, đơn vị, có khi tiềm ẩn rất lâu, đến một thời điểm nhất định nào đó mới bộc lộ. Kẻ nịnh trên thì thường chèn dưới, thích báo cáo vẽ vời, ba hoa, khoác lác. Họ sẵn sàng uốn lưỡi, cong lưng, hạ mình để được trọng dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng, thậm chí có thể được che chở khi “lâm nạn”…
Không phải bây giờ, mà từ xưa, thói xu nịnh đã tồn tại trong xã hội. Hình ảnh của Hòa Thân thời vua Càn Long chính là bậc thầy của thói xu nịnh. Tương truyền, có lần Càn Long hỏi Hòa Thân: “Khanh là trung thần hay gian thần”. Hòa Thân đáp: “Thần không phải trung thần, cũng không phải gian thần. Thần là nịnh thần”. Vua Càn Long hỏi tại sao, Hòa Thân tiếp tục đáp: “Trung thần rồi cũng sẽ bị giết. Gian thần càng bị giết. Chỉ có nịnh thần là sống lâu nhất!”…
Ngày nay, cùng với việc số người có bằng cấp ngày càng gia tăng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thói xu nịnh cũng có sự “đổi mới”, đa dạng, phong phú và tinh vi hơn, nhiều người “mượn” cả phê bình để xu nịnh. Họ thường tùy cơ ứng biến, bất kể trường hợp nào cũng nịnh được, thậm chí nịnh rất hay, như câu chuyện sinh hoạt tại cơ quan công quyền có anh cấp dưới đứng lên hùng hồn phát biểu: “Tôi thẳng thắn phê bình thủ trưởng. Thủ trưởng làm việc nhiều quá, ảnh hưởng đến sức khỏe, mà sức khỏe của thủ trưởng là vốn quý của cơ quan”; hay họ mượn các cuộc rượu để nịnh nọt “Em kính thủ trưởng một ly!”, “Em kính sức khỏe sếp!”…
Người nịnh nọt và người ưa nịnh là hai mặt của một vấn đề. Có người nịnh bởi vì có người ưa nịnh. Hai “đối tác” này kết thành phe cánh, tạo nguồn lợi cho nhau. Tuy nhiên, chúng ta cần khẳng định, người nịnh và người được nịnh đều tự làm mất nhân cách của họ. Thói nịnh bợ gây tác hại không nhỏ. Nó làm cho chính người nịnh mất hết bản lĩnh, trở thành biến chất, thoái hóa. Nó làm cho người được nịnh không đánh giá đúng bản thân mình, sinh ra chủ quan, tự mãn. Nếu người được nịnh là cán bộ có chức, có quyền thì có thể sẽ làm tổn hại đến công việc chung, dẫn đến đánh giá sai lệch cán bộ dưới quyền. Hậu quả là người tốt không được trọng dụng, người xấu lấn lướt lộng quyền và là một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ, chia bè, kéo cánh trong cơ quan, đơn vị, làm suy yếu tổ chức…
Trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên khá nhiều khuyết điểm của không ít cán bộ, đảng viên, dẫn ra nhiều “căn bệnh”, trong đó có “bệnh xu nịnh, a dua”. Bác khẳng định: Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”. Người căn dặn “chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy”.
Giờ đây, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, việc chống thói xu nịnh theo quan điểm của Bác cần phải được quán triệt sâu rộng trong Quân đội nói chung, trong Quân chủng nói riêng, theo đó các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện tốt Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27-12-2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt “Đề án văn hóa công vụ” và Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”, trọng tâm giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ có lối sống văn hóa lành mạnh, đạo đức cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp của người quân nhân cách mạng. Thông qua xây dựng môi trường văn hóa, tạo phong trào tự giác rèn luyện của mọi quân nhân theo những chuẩn mực văn hóa, không ngừng củng cố mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh, hành vi ứng xử có văn hóa trong đơn vị, giải quyết mối quan hệ cấp trên, cấp dưới, đồng chí, đồng đội, giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân. Nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, đấu tranh loại bỏ thói xu nịnh và mọi biểu hiện ứng xử thiếu văn hóa; tạo môi trường và điều kiện tốt nhất cho bộ đội tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ, góp phần xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội.
Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải gương mẫu, đi đầu trong rèn luyện, phấn đấu theo các chuẩn mực về lối sống văn hóa, thực sự là tấm gương để cán bộ, chiến sĩ noi theo. Tự thân mỗi cán bộ, chiến sĩ phải luôn nghiêm khắc với bản thân, thường xuyên tỉnh táo, sáng suốt để không bị mê hoặc, quyến rũ bởi những lời lẽ vuốt ve, ngợi ca mình không đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ của người khác; đồng thời cần tạo môi trường giao tiếp, ứng xử lành mạnh để mọi người trong tập thể được bày tỏ chính kiến, lập trường đúng đắn của mình, bảo đảm cho mỗi tập thể là một “Đơn vị văn hóa”, góp phần hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
ST

Việt Nam đang là miền đất hứa với "đại bàng" FDI

 

6 tháng đầu năm 2023, theo xu hướng chung, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng chậm lại, song vốn giải ngân tháng 6 đã tăng trở lại.

Nhưng hơn cả các con số, chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang được cải thiện đáng kể khi ngày càng nhiều tập đoàn đa quốc gia, nhà đầu tư lớn, với công nghệ hiện đại đầu tư vào Việt Nam. Với những diễn biến mới, triển vọng tăng vốn ngoại trong thời gian tới khá cao.

Nhà đầu tư giữ vững niềm tin

Trong bối cảnh khó khăn, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn quyết định đến đầu tư và mở rộng dự án hiện hữu tại Việt Nam. Việt Nam đang trở thành điểm đến đầy hứa hẹn đối với các doanh nghiệp lớn. Điển hình, tháng 3 vừa qua, 52 doanh nghiệp lớn của Mỹ, trong đó có Boeing, SpaceX, Netflix, Apple... đã đến Việt Nam tìm cơ hội hợp tác ở nhiều lĩnh vực. Tiếp đến, cuối tháng 6, đoàn 205 doanh nghiệp Hàn Quốc sang Việt Nam để tìm hiểu cơ hội đầu tư. Các doanh nghiệp này thuộc nhiều lĩnh vực như: Phân phối, tài chính, luật, y tế, công nghệ thông tin, lĩnh vực dịch vụ. Đáng chú ý, cùng tham gia đoàn có chủ tịch của 5 tập đoàn hàng đầu Hàn Quốc gồm: Samsung Electronics, SK, Hyundai Motor, LG và Lotte. Tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc vừa qua, hơn 100 biên bản ghi nhớ hợp tác đã được các doanh nghiệp Hàn Quốc và Việt Nam trao đổi. Chi tiết các bản ghi nhớ không được tiết lộ, nhưng đây là cơ sở để hợp tác đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc sẽ bước vào thời kỳ mới với sự bùng nổ của những dự án hàng tỷ USD... Ông Lee Jae Yong, Chủ tịch Tập đoàn Samsung nhấn mạnh: Samsung cũng như các doanh nghiệp Hàn Quốc khác vinh dự được đồng hành với sự phát triển của Việt Nam. Samsung đã đầu tư 18 tỷ USD vào Việt Nam và sẽ tiếp tục đồng hành với Việt Nam, trong đó có mục tiêu đổi mới sáng tạo.

Việc vốn đầu tư nước ngoài mở rộng đang cải thiện đáng kể cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của nước ta. Thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cập nhật cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2023, tổng vốn FDI đăng ký đạt 13,43 tỷ USD, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm 2022, nhưng mức giảm nhỏ dần. Cụ thể, so với cùng kỳ năm trước, tháng 5 mức giảm là 7,3%, tháng 4 giảm gần 18%, tháng 3 giảm 38,8%... Đặc biệt, trong cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 6 tháng đầu năm, chỉ có vốn điều chỉnh là giảm so với cùng kỳ (giảm hơn 57%). Còn lại vốn đăng ký mới tăng mạnh 31,3%, đạt 6,5 tỷ USD; vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần đạt hơn 4 tỷ USD, tăng 76,8% so với cùng kỳ. Theo Cục Đầu tư nước ngoài, các dự án đầu tư mới hiện vẫn tập trung vào các tỉnh, thành phố có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư nước ngoài như cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực ổn định, nỗ lực cải cách thủ tục hành chính và năng động trong công tác xúc tiến đầu tư... như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bình Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đồng Nai.

Đáng lưu ý, số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài cũng cho thấy, vốn FDI giải ngân tăng nhẹ trong 6 tháng qua, ước đạt 10,2 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ. Mức tăng nhẹ nhưng đây có thể là một sự khởi đầu tích cực cho xu hướng tăng trở lại của vốn giải ngân. Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài nhận xét, vốn giải ngân tăng trở lại cho thấy các giải pháp quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong những tháng qua đã phần nào hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp. Xu hướng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta cũng cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang thận trọng trong việc đưa ra quyết định cuối cùng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có rất nhiều bất ổn.

Sẵn sàng các điều kiện cần thiết 

Thế giới vẫn đang tiếp tục đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Lạm phát tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao. Trên toàn cầu tăng trưởng thấp, cộng thêm nhiều vấn đề phát sinh như từ năm 2024 dự kiến áp dụng thuế suất tối thiểu toàn cầu đã ảnh hưởng lớn đến dòng vốn đầu tư toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Bối cảnh này đòi hỏi Việt Nam cần thực thi nhiều giải pháp hiệu quả để thu hút dòng vốn FDI có chất lượng trong thời gian tới trong bối cảnh dòng vốn FDI có xu hướng chậm lại. Việt Nam cần chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cần thiết để thu hút đầu tư như: Rà soát, bổ sung quỹ đất sạch; rà soát lại quy hoạch điện; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bổ sung chính sách để phát triển công nghiệp hỗ trợ; xây dựng các quy định, tiêu chuẩn như một bộ lọc mới nhằm lựa chọn các nhà đầu tư FDI có công nghệ tiên tiến, có khả năng chống chịu sức ép từ bên ngoài để phát triển bền vững và bảo đảm an ninh quốc gia.

Để thu hút hiệu quả dòng vốn ngoại, theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đỗ Thành Trung, Chính phủ Việt Nam đã và đang chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả các giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Cùng với đó, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài, Chính phủ cũng đã chỉ đạo tiếp tục cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài, trên phương châm “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.

Bổ sung các giải pháp, bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho rằng, cần loại bỏ hoàn toàn các chi phí không chính thức bởi đây là nút thắt cản trở dòng vốn đầu tư không chỉ của các doanh nghiệp FDI mà còn của các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Đồng thời chủ động triển khai các chiến dịch vận động xúc tiến đầu tư, khẳng định Việt Nam là điểm đến đầu tư an toàn, tin cậy. Chủ động kết nối, làm việc với các tập đoàn lớn của thế giới để trao đổi, chia sẻ những cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

THIẾU TƯỚNG LÊ HUY MAI VÀ HÀNH TRÌNH "ĐẾN SÔNG HƯƠNG XỨ HUẾ"

 


Tháng 6-2018, gia đình Thiếu tướng Lê Huy Mai, (nguyên Phó chánh thanh tra Bộ Quốc phòng) và Ban liên lạc Cựu chiến binh Sư đoàn 324 tổ chức lễ ra mắt cuốn hồi ký “Từ châu thổ sông Hồng đến sông Hương xứ Huế”.

Được biết Thiếu tướng Lê Huy Mai bắt đầu hồi tưởng, ghi chép và tập hợp những thông tin, tư liệu để lên ý tưởng về cuốn hồi ký từ năm 2013. “Sau khi nghỉ công tác, được sự động viên của bạn bè, đồng đội, gia đình, tôi mới chính thức quyết định thực hiện cuốn hồi ký này. Mục đích là để ghi nhớ một thời đã đi qua và mong muốn con cháu của tôi ít nhiều biết tới những năm tháng chúng tôi từng chiến đấu, công tác trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như giai đoạn sau này”, Thiếu tướng Lê Huy Mai bộc bạch.
Với độ dày gần 600 trang, cuốn hồi ký do Nhà xuất bản Quân đội ấn hành đã phản ánh khá đầy đủ, sinh động hành trình 40 năm quân ngũ của người lính Lê Huy Mai. Nhất là thời gian trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Trị Thiên; trên đất bạn Lào và chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc…
Sinh ra và lớn lên tại quê hương Giao Thủy, Nam Định, năm 1963 chàng trai Lê Huy Mai lên đường nhập ngũ. Ông có đến 15 năm rèn luyện, chiến đấu tại Sư đoàn 324, trong đó có 10 năm trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Trị Thiên. Đây là một chiến trường đầy ác liệt, gian khổ hy sinh nhưng cũng không kém phần vinh quang của người lính. Nơi ấy đã hun đúc, đào luyện nên nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất sắc. Và Sư đoàn 324 (nay thuộc Quân khu 4) là một trong những tập thể anh hùng cùng nhiều chiến thắng vang dội đã ghi vào lịch sử của Quân đội ta.
Trong chiến công chung đó có sự đóng góp của đồng chí Lê Huy Mai. Là người tham gia trực tiếp chiến đấu rất sớm trên chiến trường Trị Thiên, liên tục từ tháng 3-1966 đến tháng 4-1975, từ một chiến sĩ trinh sát, Lê Huy Mai dần trưởng thành, lần lượt giữ các cương vị: Trung đội trưởng, Đại đội trưởng, Trợ lý Trinh sát Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 đến là Trưởng ban Trinh sát - Đặc công Sư đoàn 324… “Đồng chí Lê Huy Mai đã dũng cảm, mưu trí trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, lập công xuất sắc”-Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, nguyên Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật, người bạn chiến đấu thân thiết của ông cho biết.
Những chiến công, thành tích tiêu biểu của đồng chí Lê Huy Mai có thể kể đến là: Dũng cảm điều tra nghiên cứu, hiến kế phương án tác chiến vây lấn, tiến công cứ điểm Cồn Tiên - một chiến lũy thép vững chắc trên tuyến hàng rào điện tử McNamara của Mỹ ở nam sông Bến Hải. Trực tiếp chỉ huy đội mở cửa đánh lấn cứ điểm Cồn Tiên, ông đã cùng tổ trinh sát 4 người kiên cường dũng cảm giữ chốt Cồn Hụ - cạnh cứ điểm Cồn Tiên, đánh tan nhiều đợt tiến công của một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ trong điều kiện pháo oanh kích vô cùng ác liệt, giữ vững được thế trận bao vây của ta. Tiếp đó là trận chiến đấu bảo vệ hơn 50 thương binh đang điều trị tại Bệnh xá của Trung đoàn 1 ở làng An Hưng (xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị); bảo vệ Sở chỉ huy Trung đoàn 1 ở làng Sơn Tùng (xã Phong Nhiêu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên) và tham gia phá vây ở làng Hiền Lương (xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên) trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968…
Đặc biệt phải kể đến nhiệm vụ ông được giao ngày 27 Tết Mậu Thân 1968 khi đang là Đại đội trưởng Đại đội trinh sát Trung đoàn 1, Sư đoàn 324. Ông kể: “Trung đoàn 1 chúng tôi sẽ phải vượt sông Cửa Việt, băng qua vùng đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên rồi tiến vào bờ bắc sông Hương, cắt đứt đường vận chuyển thủy của địch từ cảng Thuận An vào Thành phố Huế. Tại cuộc họp ở Trung đoàn bộ, đồng chí Trung đoàn trường Từ Duyệt phổ biến nhiệm vụ và giao cho chúng tôi đảm nhiệm một mũi thọc sâu chiến dịch, các đơn vị được lệnh trở về chủ động ăn Tết sớm. Chậm nhất ngày 30-1-1968 phải hoàn thành công tác chuẩn bị, sẵn sàng xuất phát tiến công. Nhiệm vụ cụ thể của tôi ngoài việc nắm địch thì phải tìm mọi cách liên lạc với các lực lượng địa phương, xác định đường tiến quân của Trung đoàn nhanh nhất, tốt nhất. Đồng thời cử một tổ trinh sát đi trước chuẩn bị phương án cho Trung đoàn vượt sông.
Chiều 30 Tết, Trung đoàn 1 bí mật hành quân tiếp cận bờ Bắc sông Bến Hải để đêm sẽ vượt sông. Nhưng khi đến phía tây đồn Nhị Hạ ở Gio Linh, pháo và súng cối địch bắn trúng đội hình khiến bộ đội thương vong nhiều. Hành quân tiếp đến cách bắc cầu Lâm Xuân khoảng 200m, đội hình tiếp tục bị ùn lại vì pháo địch bắn chặn. Quan sát thấy cứ 5 phút địch sẽ bắn một loạt pháo và bắn chụm trong bán kính chừng 100m quanh cầu, Lê Huy Mai đã đề xuất với chỉ huy Trung đoàn 1 cho các đơn vị chia thành phân đội nhỏ, khi địch vừa dứt loạt pháo thì nhanh chóng vượt cầu để tránh thương vong. Được cấp trên đồng ý, đại đội trinh sát đi trước "thử nghiệm". Họ đã vượt cầu an toàn và cách vượt cầu này sau đó ngay lập tức được phổ biến cho từng đơn vị. Hai tiếng sau, toàn Trung đoàn 1 đã vượt cầu Lâm Xuân thành công và an toàn. Đơn vị tiếp tục hành quân. Nhưng lại đột ngột gặp pháo địch bắn tới tấp vào đội hình hành quân của Trung đoàn 1. Gần 1.000 người lúc này đang phơi mình trên bãi cát. Trong phút chốc, 50 đồng chí bị thương vong. Tin phía trước chuyền về: “Lạc đường rồi!”. Đại đội trinh sát do Lê Huy Mai chỉ huy nhận được lệnh khẩn trương tổ chức tìm đường đưa bộ đội vào chiếm lĩnh bờ bắc sông Cửa Việt trước khi trời sáng để hạn chế thương vong.
Đại đội trưởng Lê Huy Mai lần nữa nêu ý kiến: “Trong lúc tìm đường, đề nghị cho bộ đội dừng lại tản ra, đào hầm nhanh trên cát ẩn nấp tránh bom bi và mảnh đạn pháo của địch”. Ý kiến đề xuất trên được Trung đoàn trưởng cho chuyển tới các đơn vị và có hiệu quả rất rõ trong phòng tránh bom đạn địch. Ông nhớ lại: “Thời hạn chốt tập kết là 4 giờ 30 thì đến gần 3 giờ sáng, chúng tôi đã tìm được đường. Đó là con đường hành quân đến làng Vinh Quang Hạ và Vinh Quang Thượng ở bắc sông Cửa Việt. Theo trinh sát dẫn đường, các đơn vị nhanh chóng chiếm lĩnh hai làng đúng địa điểm đã định vào rạng sáng ngày mồng 1 Tết. Sau này chúng tôi mới biết, do bị lộ thông tin nên Trung đoàn bị địch pháo kích như vậy. Rất may tổn thất không lớn và chúng tôi vẫn đạt được mục tiêu”.
Từ ấn tượng ban đầu là sự gần gũi, cởi mở, sau này chúng tôi có dịp gặp và trò chuyện với Thiếu tướng nhiều hơn. Dù trong các chuyến công tác, trở lại chiến trường xưa hay nhà riêng ở quận Hà Đông (Hà Nội) thì vợ ông-cô giáo Nguyễn Thị Bình luôn có mặt đồng hành, hỗ trợ ông từ việc nhỏ nhất. Bà bảo, tuổi trẻ của hai người là tháng ngày biền biệt xa cách. Vì vậy, giờ đây là khoảng thời gian đồng hành của họ khi trở về vui thú điền viên và con cháu đều đã yên bề gia thất.
Hai người vốn là hàng xóm cách nhau “giậu mồng tơi xanh rờn” nên tuổi thơ gắn bó không rời. Trưởng thành, đi bộ đội, mỗi lần về phép chàng thanh niên Lê Huy Mai lại nhìn qua hàng rào nhìn sang nhà hàng xóm lòng thầm nhủ chiến tranh kết thúc, nếu Bình chưa yêu ai sẽ ngỏ lời cầu hôn. Nhưng thật không ngờ, điều mong ước ấy lại đến sớm hơn dự định.
Cuối tháng 7-1973, Chủ nhiệm Trinh sát-Đặc công Sư đoàn 324 Lê Huy Mai lại được ra Thủ đô Hà Nội dự Hội nghị tổng kết công tác quân báo-trinh sát toàn quân nên ông tranh thủ về thăm nhà. Dịp ấy, cô giáo Bình đang nghỉ hè, vẫn hồn nhiên, xinh tươi, và dành tình cảm đặc biệt với Huy Mai. Cha mẹ hai bên hình như cũng đoán biết tình ý của các con nên đã tạo điều kiện cho đôi trẻ gặp nhau.
“Chẳng biết đời lính trận sẽ đi về đâu, nên đắn đo mãi tôi mới quyết định ngỏ lời xin cưới Bình. Dù tương lai chắc chắn sẽ phải chịu những thiệt thòi nhưng em đã bỏ qua tất cả mà đồng ý khiến tôi vô cùng phấn chấn. Ngay khi Bình đồng ý, chúng tôi đã thưa chuyện và được cha mẹ hai bên hoàn toàn ủng hộ. Mừng cho chúng tôi, Thượng tá Lê Văn Dánh-Phó chính ủy Sư đoàn 324 đang tập huấn tại Học viện Quân sự cấp cao đã cùng với bạn bè trong lớp tập huấn mua giúp tôi bánh kẹo, thuốc lá để tiếp khách trong tiệc cưới. Sau đám cưới tôi phải chuẩn bị trở lại đơn vị nên không thể cùng vợ vào Thanh Hóa lo đám cưới cho em tôi. Thậm chí em chẳng kịp về tiễn chồng lên đường vào lại chiến trường. Mấy chục năm nên duyên, ngày xa cách nhiều hơn ngày gần gũi. Tôi luôn cảm ơn em đã lặng thầm chăm lo mọi việc trong nhà để tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ của một người lính Bộ đội Cụ Hồ”-Thiếu tướng Lê Huy Mai tâm sự./.
ST

ĐỊA CHỈ ĐỎ RỰC SÁNG VỀ ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH GIỮA LÒNG THỦ ĐÔ

 “Lịch sử viết nên bởi dàn đồng ca và lịch sử cũng được viết nên từ những con người lỗi lạc như Đại tướng Nguyễn Chí Thanh” - đó là chia sẻ, nhận định của PGS, TS Bùi Chí Trung, giảng viên Viện Đào tạo Báo chí - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, cố vấn Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại sự kiện “Mở cửa đón khách tham quan thử nghiệm Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Hà Nội”, diễn ra sáng 6-7.

“Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh hướng đến một không gian học thuật cho các nhà nghiên cứu trẻ trong và ngoài nước. Do đó, bảo tàng là nơi trưng bày hiện vật - văn bản gốc, góp phần làm nổi bật từng giai đoạn cuộc đời của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, PGS, TS Bùi Chí Trung nói.
Theo PGS, TS Bùi Chí Trung, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sẽ hướng việc kết nối lịch sử của Việt Nam thông qua “triết lý số” trên toàn cầu. Bởi lẽ, 10% hiện vật tại bảo tàng có thể thấy bằng mắt thường; 90% còn lại sẽ phụ thuộc vào phương tiện số như tư liệu, phim, ảnh… của bảo tàng.
Nhờ vậy, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tạo nên một thiết chế văn hóa mạnh mẽ, trở thành địa chỉ đỏ rực sáng giữa lòng Thủ đô về người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng, vị tướng tài ba, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.
Thượng tá Lê Vũ Huy, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đánh giá, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mang dấu ấn về sự tôn vinh, tri ân. Cùng với hơn 162 bảo tàng, 36 bảo tàng ngoài công lập, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sẽ đóng góp to lớn vào mạng lưới bảo tàng quốc gia.
Tại sự kiện mở cửa, Đại tá Phạm Văn Phi, Giám đốc Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng cho biết, cùng với hệ thống hiện vật trưng bày, bảo tàng cũng giới thiệu về những tài liệu lần đầu được công bố, như: Thư của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Ba Lan gửi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Chí Thanh đề nghị giúp đỡ trong công tác trưng bày triển lãm của Bảo tàng Quân đội Ba Lan.
Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tọa lạc tại số 81 Tân Nhuệ, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, được xây dựng theo kiến trúc ngôi nhà số 34 Lý Nam Đế (Hà Nội), nơi đại tướng và gia đình đã ở trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1986, với 3 tầng nổi, 1 tầng hầm, trưng bày theo 8 chủ đề, 105 hiện vật, 90 tài liệu, 214 hình ảnh và trên 100 đầu sách.
Từ ngày 6-7, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mở cửa đón khách tham quan theo 2 khung giờ, buổi sáng (từ 8 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút), buổi chiều (từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút). Theo kế hoạch, Bảo tàng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh chính thức khánh thành đúng ngày kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1-1-1914/ 1-1-2024).
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1-1-1914 tại làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông tham gia cách mạng từ năm 1934 và được phong hàm Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam vào năm 1959.
Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Năm 1967, thời điểm chuẩn bị vào Nam để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đột ngột qua đời.
Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Cúc và có 4 người con. Trong đó, nổi bật nhất là Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng./.
ST


Việt Nam coi trọng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Israel


Ngày 6-7, tại trụ sở Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã tiếp Đại sứ Nhà nước Israel tại Việt Nam Yaron Mayer.

Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định Việt Nam coi trọng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với Israel, một trong những đối tác quan trọng tại khu vực Trung Đông; đánh giá cao các nỗ lực của Đại sứ Yaron Mayer nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Israel.

Nhân dịp Việt Nam và Israel kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đề nghị hai bên phối hợp thúc đẩy và chuẩn bị tốt các hoạt động trao đổi đoàn các cấp, tổ chức các sự kiện giao lưu văn hóa, thể thao... nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Bộ trưởng đề nghị hai bên sớm tổ chức kỳ họp lần thứ 3 Ủy ban liên Chính phủ, đẩy nhanh đàm phán và ký kết các văn kiện hợp tác, trong đó có Hiệp định hợp tác lao động, đồng thời nghiên cứu mở đường bay thẳng giữa Việt Nam và Israel, tăng cường các hoạt động quảng bá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của công dân mỗi nước nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế và du lịch.

Đồng tình với các định hướng hợp tác của Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn, Đại sứ Yaron Mayer cho biết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp của Việt Nam để triển khai hiệu quả FTA sắp ký kết nhằm tạo đột phá cho quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian