Thứ Tư, 12 tháng 7, 2023
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NHẦM CHỖ RỒI… NGÀI TỔNG THỐNG ZELENSKY…
SINH HOẠT TƯ TƯỞNG: CÂU CHUYỆN KỶ LUẬT “CHẾT” VÌ... SĨ DIỆN!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TÂN TRÀO - THỦ ĐÔ KHU GIẢI PHÓNG, TRUNG TÂM THỦ ĐÔ KHÁNG CHIẾN!
XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TRƯỚC SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!
Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn về vai trò lãnh đạo của Đảng
Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
Thực
tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình
cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai
trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc muốn xóa bỏ
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều trái với
điều kiện thực tế của nước ta.
Sự
cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà
có, nó là tất yếu của lịch sử. Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam
trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân
tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác . Tuy nhiên, những tổ chức, đảng
phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do
đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát
triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân...
nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan
rã, thất bại.
Cơ sở lý luận, thực tiễn vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để làm rõ vấn đề, chúng ta phân tích và làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn trên các khía cạnh sau.
Một
là, mục đích của Đảng Cộng sản
Việt Nam là lãnh đạo đất nước phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là
kết quả sự hợp nhất của 3 tổ chức cách mạng tiền thân là Đông Dương Cộng sản
Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Trước khi hợp
nhất, các tổ chức này hoạt động độc lập và có hiện tượng tranh chấp sự ảnh
hưởng trong quần chúng và mỗi tổ chức đều muốn đứng ra thống nhất các tổ chức
cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt tình trạng phân tán
lực lượng, tạo sự thống nhất về tổ chức trong cả nước, nâng tầm ảnh hưởng và vị
thế của Đảng. Đảng trở thành hiện thân đại diện tiêu biểu cho lợi ích của toàn
thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
Hai
là, Đảng đã tìm ra định hướng phát triển và trực tiếp lãnh đạo các cuộc cách
mạng để phát triển. Trong những năm của thập niên 1920, cách mạng Việt Nam rơi
vào bế tắc, tưởng như không có đường ra. Nhiều sĩ phu yêu nước, nhiều phong
trào cách mạng đưa ra những lựa chọn để giải phóng dân tộc, phát triển đất
nước, song tựu trung, tất cả đều thất bại. Giữa lúc đen tối ấy, Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời, rẽ đám mây mù, chỉ ra con đường duy nhất đúng đắn để giải
phóng dân tộc, đưa giống nòi bước qua lầm than, nô lệ.
Ba
là, thực tế đất nước đạt nhiều thành tựu và phát triển không ngừng. Trên cơ sở
đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI
của Đảng (tháng 12-1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra
bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chế độ một đảng lãnh đạo không cản trở dân chủ và phát triển ở Việt Nam
Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang tính chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp mà nó đại diện.
Trong
xã hội có phân chia giai cấp, mỗi giai cấp khác nhau có đảng khác nhau, thậm
chí trong cùng một giai cấp cũng có thể có nhiều đảng khác nhau. Những đảng của
cùng một giai cấp sẽ có cùng bản chất của giai cấp, có lợi ích gắn liền với
giai cấp sinh ra nó, chúng chỉ khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt
động và những mục tiêu cụ thể mà không đối lập về bản chất. Những đảng của các
giai cấp khác nhau hoặc đối lập nhau thì không chỉ khác nhau về tôn chỉ, mục
đích, phương cách hoạt động, nguyên tắc tổ chức mà còn đối lập về bản chất của
đảng. Như vậy, sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa
đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời là đa
nguyên chính trị.
Về
vấn đề một đảng thì mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa
với dân chủ, phát triển, cho đến hiện nay, vẫn chưa có cơ sở khoa học nào chứng
tỏ được điều này. Thực tiễn cho thấy, dân chủ và sự phát triển của một nước
không tỷ lệ thuận với số lượng các đảng mà nước đó có. Có nước một đảng vẫn bảo
đảm dân chủ và phát triển; có nước nhiều đảng vẫn kém phát triển, vẫn mất dân
chủ. Vấn đề thuộc về bản chất của các đảng, lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo
vệ; uy tín và năng lực tập hợp, liên kết, lãnh đạo các lực lượng xã hội cùng
thực hiện mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi
ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì đảng đó khó có thể được các giai
tầng khác chấp thuận làm lực lượng lãnh đạo xã hội, lãnh đạo đất nước. Một đảng
đại diện cho lợi ích của giai cấp, của nhân dân và dân tộc, vì dân, vì nước mà
hành động, chắc chắn sẽ được nhân dân suy tôn, ủy thác làm lãnh đạo.
VĂN HÓA ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!
Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam
Thời gian qua, lợi dụng môi trường internet và truyền thông xã hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”...
Thông
qua những quan điểm, luận điểm này, chúng đã bộc lộ dã tâm, mưu đồ đen tối là
xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi Đảng ta
phải thoái lui, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, từ bỏ con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội để đưa đất nước theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản; từ đó gây tâm
lý hoài nghi, dao động, giảm sút niềm tin trong nhân dân, đặc biệt là niềm tin
vào vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là những quan điểm, luận điểm hết sức
phản động, sai lầm, phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn,
chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá; nhiều nhận xét là chủ
quan, vô căn cứ.
Ngăn ngừa sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân đội
Quân đội là trường học lớn, nơi giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống tốt đẹp. Vì vậy, không thể để cho sự tồn tại của sản phẩm văn hóa xấu độc xuất hiện trong môi trường văn hóa quân sự.
Để
phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào môi trường Quân
đội hiện nay, trước hết, các đơn vị cần tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị
văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán
triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt
đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao
nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”, các đơn vị
cần tập trung giáo dục lòng tự hào, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và
truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang của Quân đội, bồi đắp phẩm chất cao đẹp
của người quân nhân cách mạng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên
truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn, những thói hư tật xấu
nảy sinh trong một bộ phận quân nhân.
Trong
tình hình hiện nay, các đơn vị cần phối hợp với địa phương trong phòng, chống
sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa
những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các sản phẩm
văn hóa xấu độc vào đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các đơn vị cần cụ thể
hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ cho đơn vị, gắn
kết giữa đề cao văn hóa, đạo đức với tuân thủ pháp luật, kỷ luật cho mọi quân
nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ, quy định của đơn vị, nhất
là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân, giáo dục bộ đội không truy
cập trang tin xấu độc, không tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực,
sai trái trên các trang mạng xã hội.
Các sản phẩm văn hóa xấu độc có nguy cơ làm tha hóa nhân cách quân nhân
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, bảo đảm vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế”. Đảng ta cũng kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những nhận thức, hành vi phi giá trị, phản văn hóa: “Đấu tranh, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, góp phần xây dựng xã hội an ninh, an toàn, dân chủ, tiến bộ”. Chính vì vậy, phòng, chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào Việt Nam nói chung, vào các đơn vị Quân đội nói riêng là vấn đề quan trọng, cấp thiết hiện nay.
Có thể thấy sự xâm nhập
của các sản phẩm văn hóa xấu độc vào đơn vị Quân đội thường
thông qua một số con đường sau.
Thứ
nhất, xâm nhập thông qua việc quân nhân sử dụng internet và mạng xã hội. Các
thế lực thù địch tận dụng tối đa những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện
đại để tán phát sản phẩm văn hóa xấu độc trên internet và mạng xã hội
với nhiều chiêu thức mới, tinh vi. Thông qua internet và các nền tảng mạng xã
hội mà quân nhân sử dụng, các sản phẩm văn hóa xấu độc trôi nổi tràn lan trên
không gian mạng có thể thẩm thấu, tác động và gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách
quân nhân.
Thứ
hai, xâm nhập thông qua hoạt động giải trí vào ngày nghỉ, giờ nghỉ. Tưởng chừng
như sản phẩm văn hóa xấu độc không thể xâm nhập bằng con đường này vào đơn vị,
nhưng thực tế vẫn xảy ra. Một bộ phận quân nhân vẫn lén lút, tùy tiện nghe, xem
các sản phẩm nghệ thuật thiếu lành mạnh như xem phim bạo lực, khiêu dâm, sản
phẩm nhạc chế với lời lẽ thô tục.
Thứ
ba, xâm nhập khi cán bộ, chiến sĩ được đi phép, tranh thủ, làm nhiệm vụ độc lập
và công tác xa. Đây là con đường xâm nhập nhanh nhất, có tính chủ động nhất và
ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của nhân cách quân nhân. Sau
thời gian dài sống và làm việc trong môi trường chính quy, kỷ luật, khi được đi
phép, tranh thủ, nếu không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì quân nhân thường
tìm cách để “xả hơi” và sẵn sàng tiếp cận, thu nạp các sản phẩm văn hóa xấu
độc.
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 12 THÁNG 7 NĂM 1951!
CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: SAO CHO ĐÁNG MẶT LÀM ANH!
SỸ QUAN TRẺ - TỪ NHÀ TRƯỜNG ĐẾN ĐƠN VỊ: HỌC Ở TRƯỜNG KHÔNG PHẢI LÀ “CÂY ĐŨA THẦN”!
Thực hiện “7 dám” chính là giữ gìn và phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam - Không để mất niềm tin vào những người đứng đầu
Nhận diện, dập tắt "Bệnh” thiếu niềm tin, là nguy cơ của mọi nguy cơ, là mất tất cả
Luận Kiên trì, kiên quyết thực hiện đường lối đối ngoại tiến bộ, nhân văn
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn nhất quán tư duy độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và đường lối đối ngoại Việt Nam “đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống và bản sắc ngoại giao đó càng được bồi đắp, phát huy, tỏa sáng.
Từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta không ngừng bổ sung, hoàn thiện quan điểm, phương châm của đường lối đối ngoại, đó là: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” (Đại hội VII); “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội IX); “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đại hội XI, Đại hội XII).
Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Những năm qua, trước các diễn biến phức tạp của thời cuộc, quan hệ ngoại giao của Việt Nam đã góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước. Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một số nước lớn tuy có lúc trải qua thăng trầm nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính. Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước láng giềng, trong đó có Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời quyết tâm, kiên trì, kiên quyết giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Điều này luôn được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.
Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.
Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước, đặc biệt là các nước lớn luôn có xu hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ... Do đó, những luận điệu cho rằng việc “đi theo”, “liên minh” với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo không những phản động, sai lầm mà còn thể hiện tư tưởng yếu hèn, trái với phương châm đối ngoại thêm bạn, bớt thù của Đảng ta.
Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, cần tăng cường hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng. Tích cực đổi mới nội dung, phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin, quảng bá về đất nước, con người, thành tựu của Việt Nam và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta.
Cùng với những giải pháp căn cơ trên, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cần chủ động phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh theo pháp luật đối với các hoạt động chống phá đường lối đối ngoại của Đảng. Kiên quyết không để các thế lực thù địch, cơ hội tập hợp lực lượng, gây rối chính trị, làm mất an ninh trật tự, gây rối loạn lòng dân, ảnh hưởng tới lợi ích đất nước.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý các hoạt động báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, internet, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Telegram...), các cuộc hội thảo, hợp tác nghiên cứu khoa học xã hội về những vấn đề tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền, đối ngoại...
Tuyệt đối không để xảy ra sơ hở khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.
















