Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn

 

Nghĩ thấu đáo trước khi phát ngôn

Vừa đến cửa, ông Cường đã kéo ông Nam ngồi xuống, giọng bức xúc:- Tại sao Quân đội chưa đề nghị tăng tuổi nghỉ hưu cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp? Chẳng nhẽ bây giờ chúng ta sợ cán bộ, nhân viên không đủ sức khỏe để phục vụ? Tôi đọc mấy bình luận trên mạng xã hội mà tức anh ách!

Ông Nam từ tốn hỏi:

- Thế họ bình luận sao mà ông tức?

- Thì chỉ vì chuyện đề nghị tăng tuổi hưu hay không mà họ bảo bộ đội thời nay sợ gian khổ, kém rèn luyện, không đủ sức phục vụ lâu dài.

- Tôi theo dõi thông tin thấy Quốc hội chưa thảo luận vấn đề này. Vậy mà các “chuyên gia bàn phím” trên mạng xã hội đã “bàn” xong hết rồi. Việc tăng hay giảm tuổi nghỉ hưu Bộ Quốc phòng phải nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng trước khi báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định. Vậy mà ông lại tự “chốt” là không đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu? Chính ông cũng chưa nắm vững vấn đề và đang bị kích động đấy ông Cường ạ!

Description:  Chiến sĩ mới thực hành kiểm tra gói buộc lượng nổ. Ảnh: qdnd.vn

 Chiến sĩ mới thực hành kiểm tra gói buộc lượng nổ. Ảnh: qdnd.vn

Ông Cường vẫn khăng khăng:

- Tôi thấy trên mạng người ta nói thế thì tôi nói thôi.

- Ông có biết là nếu tăng tuổi nghỉ hưu đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thì cũng chỉ phù hợp với một bộ phận thôi. Ông từng trong quân ngũ, cũng biết không phải vị trí nào tuổi cao cũng làm tốt. Nếu ở đơn vị cơ sở, suốt ngày bám nắm bộ đội, trực tiếp huấn luyện, tham gia diễn tập, sẵn sàng chiến đấu thì tuổi cao cán bộ có đủ sức theo bám bộ đội không? Hơn nữa, những năm gần đây, khi đang tinh giản biên chế thì giữ tuổi nghỉ hưu như hiện nay, tôi nghĩ cũng là một phương án để giải quyết bài toán số lượng. Ông đọc thông tin trên mạng xã hội thì phải chọn lọc. Các thế lực phản động bây giờ toàn dựa vào mấy “chuyện nóng” để xuyên tạc, tung tin thất thiệt, chống phá, gây hoang mang trong dư luận. Mình không phân biệt được lại đi tuyên truyền cho chúng là “tự diễn biến” đấy. Ông cần suy nghĩ thấu đáo và nắm chắc thông tin chính thống trước khi nói nhé.

Ông Cường cười xuê xoa:

- Ờ thì, tôi chỉ nghĩ sao nói vậy. May cũng mới nói với ông, chứ nói ra ngoài thì có khi lại mang tiếng “phản động”. Cảm ơn ông, tôi sẽ rút kinh nghiệm!

TRẦN CHIẾN

 

Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”

 

Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”

Để thực hiện âm mưu chống phá, can thiệp vào công việc nội của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và cổ vũ cho hoạt động chống phá đất nước, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, những phần tử cơ hội ở trong, ngoài nước tiếp tục thực hiện chiêu trò “thương vay, khóc mướn” xung quanh phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng. 

§  Khởi tố Trương Văn Dũng về tội tuyên truyền chống Nhà nước

Ngày 13/7/2023, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trương Văn Dũng (tên gọi khác là Trương Văn Ly, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT số 16 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sau hơn nửa ngày xét xử, HĐXX tuyên y án sơ thẩm với án phạt 6 năm tù giam.

Trong khi dư luận đồng tình, ủng hộ trước bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội mà HĐXX đã tuyên phạt đối với bị cáo Trương Văn Dũng thì một số cá nhân, tổ chức chống phá trong và ngoài nước lại thực hiện các chiêu trò “thương vay, khóc mướn”, đòi chính quyền Việt Nam phải thả tự do cho Trương Văn Dũng với lý do “vô tội”, “dân oan”! Điển hình trong số đó là tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) và Ân xá quốc tế (Amnesty International - AI) đã đăng tải các bài viết kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Trương Văn Dũng vì họ cho rằng hành vi của Trương Văn Dũng chỉ là “những việc làm ôn hòa thực hiện quyền căn bản của công dân”. Trong khi đó, bà Ming Yu Hah, Phó Giám đốc khu vực của Ân xá quốc tế xuyên tạc rằng: “Cơ quan chức năng Việt Nam lại sử dụng sai trái hệ thống tư pháp để đàn áp tiếng nói bất đồng.

Description: Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”  -0Đối tượng Trương Văn Dũng.

Hoạt động trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài không thể bị án tù”… Đây là những luận điệu quen thuộc mà các tổ chức như HRW, AI, tổ chức khủng bố Việt Tân... vẫn tiến hành bấy lâu nay nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới danh nghĩa dân chủ, nhân quyền. Những tổ chức này lấy cớ phỏng vấn những “nhà bất đồng chính kiến”, sử dụng lời lẽ xuyên tạc, tố cáo của các số này để tạo cớ cổ vũ, đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội, có hành vi chống phá đất nước như Trương Văn Dũng hay trước đây là Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh…

Thực chất, trước khi bị bắt giam, Trương Văn Dũng thường xuyên tham gia các hoạt động kích động, gây rối trật tự dưới vỏ bọc là “người yêu nước”, “yêu cây xanh”, “nhà bảo vệ môi trường” do các cá nhân, tổ chức, hội nhóm chống phá trong, ngoài nước tổ chức. Trương Văn Dũng cũng là thành viên của các hội nhóm chống phá đất nước như: “NoU”, “Quỹ 50K”, “Hội bầu bí tương thân”, các hội nhóm “dân oan”...

Không những thế, Trương Văn Dũng thường xuyên trả lời phỏng vấn trên một số báo đài thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam như RFA, VOA… Dũng tàng trữ các tài liệu, vật phẩm, đăng tải bài viết trên các trang mạng xã hội có nội dung tuyên truyền, đả kích, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù đã được lực lượng chức năng gọi hỏi, triệu tập và răn đe nhiều lần nhưng Trương Văn Dũng không lấy đó làm bài học, tiếp tục dấn sâu con đường phạm tội. Được sự hậu thuẫn về vật chất, tinh thần từ những cá nhân, tổ chức chống phá bên ngoài, Trương Văn Dũng lại “ngựa quen đường cũ” khi tiếp tục tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước một cách công khai, thường xuyên, thể hiện rõ sự thách thức pháp luật.

HĐXX nêu rõ, bị cáo có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề "Những mảnh đời sau song sắt" và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề "Chính trị bình dân" có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân... Bên cạnh đó, bị cáo Dũng còn sử dụng 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Việt Nam.

Với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật của Trương Văn Dũng, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngày 6/5/2022 và ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng vào ngày 20/5/2022 về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 28/3/2023 và phiên tòa xét xử phúc thẩm vào ngày 13/7/2023, dù tài liệu, chứng cứ mà HĐXX đưa ra là rõ ràng, bị cáo Trương Văn Dũng vẫn có thái độ không thành khẩn, quanh co không nhận tội. Do đó, việc TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên y án 6 năm tù giam như bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng là khách quan, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật, được dư luận đồng tình, ủng hộ.

Thực tế, chiêu trò “thương vay, khóc mướn” đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đăng tải là nhằm truyền bá cái gọi là giá trị “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn đã minh chứng rằng, mọi hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khi cổ vũ, “thương vay, khóc mướn” cho những kẻ phạm tội như Trương Văn Dũng chỉ là màn kịch trá hình, thực chất là vì lợi ích của chính những tổ chức này.

Bị cáo Trương Văn Dũng hay bất kỳ bị can, bị cáo nào khi bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia thì số này được các thế lực thù địch, phản động sử dụng như những con rối để lấy cớ chống phá, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điều này cũng nhằm đánh bóng, tô vẽ cho chính lợi ích của các tổ chức này chứ không hề vì sự tiến bộ, phát triển của đất nước Việt Nam, không hề vì “văn minh, dân chủ, nhân quyền” như luận điệu mà chúng rêu rao. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động xem đây là cơ hội để thực hiện các chiêu trò nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam, lấy cớ nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận.

Thực tiễn, minh chứng khách quan mà bạn bè quốc tế đã thừa nhận là thành quả mà chúng ta đã đạt được sau gần 40 năm đổi mới đất nước, diện mạo, vị thế, vai trò của đất nước ngày càng được nâng lên, đời sống nhân dân ngày càng phát triển. Nhìn rộng ra, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả Mỹ và các nước phương Tây cũng đều có các điều khoản nghiêm cấm, có những quy định xử lý nghiêm minh với những hành vi lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận để thực hiện các hoạt động chống phá đất nước. Vậy nên chiêu trò “thương vay, khóc mướn” cho bị cáo Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đang tiến hành xem ra cũng chỉ là những màn kịch, trò hề mà họ vẫn tiến hành lâu nay, chỉ khác về tên con rối mà thôi.

“Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, thiết nghĩ rằng không chỉ bị cáo Trương Văn Dũng mà những người đã, đang lầm đường, lạc lối, đang chấp hành các bản án của pháp luật về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia hãy chấp hành nghiêm các hình phạt, biết ý thức giáo dục, cải tạo để sớm có cơ hội nhận chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước Việt Nam và sớm được trở về với gia đình, xã hội.

 

Lại giở bài “hoạt động vì môi trường” để vu cáo và can thiệp sai trái

 

Lại giở bài “hoạt động vì môi trường” để vu cáo và can thiệp sai trái

Thứ Hai, 26/06/2023, 05:26

1

Liên quan vụ án hình sự “trốn thuế” đối với bà Hoàng Thị Minh Hồng, mặc dù CQĐT đã có thông tin chính thức trên báo chí nhưng nhiều trang mạng từ hải ngoại vẫn cố tình tảng lờ nhằm hướng lái vụ án sang chiều hướng khác, quy cho “nhà cầm quyền bắt người hoạt động vì môi trường”, lấy cớ để can thiệp sai trái vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

§  Bảng xếp hạng tự do báo chí – Những luận điệu sai trái, cũ mòn

 Ngày 22/6, trang BBC tiếng Việt tung tin rằng, 65 tổ chức nhân quyền và môi trường đã công bố bức thư ngỏ gửi tới cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, yêu cầu công khai kêu gọi Chính phủ Việt Nam “trả tự do vô điều kiện cho nhà hoạt động khí hậu và học giả Quỹ Obama Hoàng Thị Minh Hồng”.

Trong thư có những đoạn biến tấu bản chất vụ án, quy kết và miệt thị chính quyền như: “Bà phải đối mặt với án tù bảy năm và nếu bị kết tội, bà có thể phải bị tù trong một hệ thống nhà tù nổi tiếng về tra tấn và thiếu trách nhiệm”! Từ đó những người này hối thúc “Vì vậy, có lẽ rất thích hợp nếu ông (cựu Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama) tham gia cùng Liên Hiệp quốc và Bộ Ngoại giao để đưa ra tuyên bố công khai của riêng ông kêu gọi Chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà”…

Trong khi đó, Đài RFA nói rằng, 10 tổ chức nhân quyền quốc tế hôm 23/6 ra thông cáo lên án các vụ bắt giữ các nhà hoạt động môi trường, bao gồm “vụ bắt giữ mới nhất đối với bà Hoàng Thị Minh Hồng – người sáng lập tổ chức CHANGE chuyên hoạt động môi trường ở Việt Nam”.

Thông cáo này vu cáo “Vụ bắt giữ nhà hoạt động môi trường Hoàng Thị Minh Hồng cùng chồng và hai nhân viên vào ngày 31/5/2023 với cáo buộc tội trốn thuế là một trường hợp mới nhắm vào các nhà bảo vệ nhân quyền môi trường ở Việt Nam”. Từ việc liệt kê các đối tượng bị bắt, xử lý trước đây như Ngụy Thụy Khanh, Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương, thông cáo này xuyên tạc: “Những vụ tấn công nhắm vào các nhà hoạt động nhân quyền môi trường ở Việt Nam gần đây đang tái khẳng định tình trạng đóng cửa không gian dân sự tại đất nước này. Những quấy nhiễu tiếp tục diễn ra đối với các nhà hoạt động, các nhà báo độc lập, các nhà bảo vệ nhân quyền, luật sư, blogger. Họ bị giam giữ tùy tiện với các cáo buộc gian dối theo Bộ luật Hình sự…”. 

Đọc những lời lẽ trên, nếu là người ở xa không nắm được thông tin chính thống về vụ việc có thể dẫn tới sự hiểu lầm tai hại. Từ một vụ án kinh tế, các luận điệu xào nấu thành “bắt giữ nhà hoạt động khí hậu, hoạt động nhân quyền” rồi gom lượm với các đối tượng phạm pháp khác để vẽ ra bức tranh nhân quyền xám xịt ở Việt Nam. Thực tế, đã nhiều lần các tổ chức, cá nhân lấy danh nghĩa “nhân quyền quốc tế” ra các thông cáo gửi các nhà lãnh đạo như Tổng thống Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và chính phủ một số nước châu Âu, gửi đến một số tổ chức quốc tế. Chiêu bài quen thuộc vẫn là khoác lên các vụ án, bị can, bị cáo bị bắt giữ về tội phạm hình sự, kinh tế thành các nhà “hoạt động nhân quyền, dân chủ”, “hoạt động tôn giáo”, “hoạt động môi trường”…

Trong khi đó, vụ án này đã được thông tin công khai chứ không hề có “úp mở, che giấu thông tin” như vu cáo của các đối tượng. Ngày 21/6, Phòng Tham mưu Công an TP Hồ Chí Minh thông tin với báo chí cho biết, Cơ quan CSĐT Công an TP Hồ Chí Minh đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với bà Hoàng Thị Minh Hồng để điều tra về tội "trốn thuế". Quá trình điều tra đến nay xác định, bà Hoàng Thị Minh Hồng có hành vi trốn thuế số tiền hơn 5,2 tỉ đồng. Bà Hoàng Thị Minh Hồng đã thừa nhận hành vi phạm tội, có đơn xin và nộp khắc phục hậu quả để hưởng lượng khoan hồng của pháp luật. Đại diện gia đình của bà Hồng đã nộp khắc phục trước số tiền 200 triệu đồng vào tài khoản tạm giữ của Phòng CSĐT  tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu Công an TP Hồ Chí Minh.  

Tại sao từ vụ án “trốn thuế” với các căn cứ nêu trên, các đối tượng lại xảo biện thành “bắt giữ nhà hoạt động khí hậu, hoạt động môi trường”? Trước đó, nhiều trang mạng ở nước ngoài đăng tải nhiều bài viết với các viện dẫn sai trái như bài: “Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc và Hoa Kỳ quan ngại về việc bắt nhà hoạt động Hoàng Minh Hồng”; “Việt Nam lên tiếng về vụ bắt nhà hoạt động môi trường Hoàng Thị Minh Hồng”… Các bài viết cho rằng, bà Hoàng Thị Minh Hồng là “nhà hoạt động môi trường” thứ 5 bị bắt tại Việt Nam, sau ông Mai Phan Lợi, ông Đặng Đình Bách, bà Ngụy Thị Khanh và ông Bạch Hùng Dương. Từ đó, đưa ra các câu từ vu cáo, kích động như: “Hầu hết các nhà hoạt động đều bị bắt với cáo buộc trốn thuế mà nhiều người tỏ ra nghi ngờ về cáo buộc này”; “NPR dẫn lời các chuyên gia nhân quyền nói các vụ bắt giữ là một phần của chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự trong những năm gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tố cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền, bắt bớ, giam cầm tùy tiện, tuyên án nặng đối với các nhà báo, bloggers, Facebookers, các nhà hoạt động xã hội, lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự”; “Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam tôn trọng quyền của những người bị giam giữ; tôn trọng và bảo vệ quyền tự do biểu đạt, cũng như lập hội của mọi người dân Việt Nam”…

Thực tế, các vụ án Ngụy Thị Khanh, Đặng Đình Bách, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương đều đã được điều tra, truy tố và xét xử theo đúng quy định pháp luật, các tài liệu, chứng cứ kết tội rõ ràng, khách quan. Bà Ngụy Thị Khanh phạm tội trốn thuế với số tiền 456 triệu đồng; ông Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương trốn thuế gần 2 tỷ đồng và Đặng Đình Bách là 1,38 tỷ đồng. Vì vậy, việc viết rằng “các tổ chức nhân quyền quốc tế cho rằng cả 4 người này bị đàn áp do các hoạt động vận động về vấn đề môi trường” là không đúng với bản chất của vụ việc, cố tình phớt lờ sự thật, xuyên tạc thành “chính quyền bỏ tù các nhà hoạt động môi trường – những người đấu tranh cho một môi trường trong sạch hơn”!

Đối với bà Hoàng Thị Thu Hồng bị bắt tạm giam để điều tra về hành vi trốn thuế, cụ thể là bà Hồng không thực hiện quy định đóng thuế khi nhận những nguồn tài trợ kinh phí từ một số tổ chức. Quá trình điều tra đến nay xác định, bà Hoàng Thị Minh Hồng có hành vi trốn thuế số tiền hơn 5,2 tỉ đồng.

Do đó, không có cơ sở để cho các tổ chức, cá nhân hải ngoại “nghi ngờ cáo buộc trốn thuế” và bày tỏ lo ngại về “vấn đề mang tính hệ thống với việc giam giữ tùy tiện” các nhà bảo vệ môi trường ở Việt Nam”! Còn lý do để các tổ chức, cá nhân chống phá gán ghép vụ án với các cụm từ như “nhà hoạt động vì môi trường”, “nhà hoạt động khí hậu” hẳn vì thấy cá nhân bà Hồng xuất hiện khá nhiều trong những cuộc tụ tập đông người, tuần hành gây mất trật tự. Những cuộc tụ tập, tuần hành này lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái… nhưng được thực hiện do các tổ chức, cá nhân chống phá lôi kéo, tài trợ, tạo cớ gây rối, mất an ninh, trật tự.

Do đó, không thể khoác áo “bảo vệ môi trường” để thực hiện ý đồ cá nhân, gây hại cho xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng việc bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố trọng tâm, tiên quyết cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững”. Những tổ chức, cá nhân có những đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường đều được Nhà nước ghi nhận, tôn vinh. Đồng thời, Việt Nam cũng xử nghiêm các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự, bảo vệ môi trường, bảo vệ sinh thái… để gây mất trật tự xã hội, vi phạm pháp luật, thực hiện các hành vi chống phá.

Liên quan tới vụ việc này, tại cuộc họp báo thường kỳ diễn ra chiều 1/6 tại Hà Nội, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Đức Thắng cho biết, Việt Nam luôn khẳng định mạnh mẽ cam kết của mình trong bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững. Điều này đã được nêu rõ tại nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách của Việt Nam.

“Tại Việt Nam, các cá nhân, hội, tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ được bảo đảm hoạt động bình thường theo đúng quy định, đồng thời tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành động của mình. Như tại các quốc gia khác trên thế giới, những người vi phạm pháp luật sẽ phải xử lý theo đúng các quy định của pháp luật” - Phó Phát ngôn Nguyễn Đức Thắng nêu rõ.


Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

 

Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Description: Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam. Ảnh minh họa: cand.com.vn

Báo chí được tạo điều kiện tác nghiệp tại Việt Nam. Ảnh minh họa: cand.com.vn

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”

Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.  

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta.  

PGS, TS NGUYỄN THỊ TRƯỜNG GIANG, Phó giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền

 

Đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam - luận điệu sai lầm, lạc lõng - Bài 2: Không có lực lượng nào đủ sức thay thế sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Đòi đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam - luận điệu sai lầm, lạc lõng - Bài 2: Không có lực lượng nào đủ sức thay thế sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong bối cảnh mới hiện nay, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò duy nhất lãnh đạo, thực hiện đa nguyên, đa đảng, tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, phân tán, mất ổn định do sự đấu đá, tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, nhóm lợi ích.

Sự kiểm chứng đúng đắn từ lý luận đến thực tiễn

Xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng ở các quốc gia. C.Mác và Ph.Ăngghen trong học thuyết cách mạng và khoa học của mình, đã chỉ ra rằng, giai cấp công nhân là giai cấp hiện đại, cách mạng nhất, tiên tiến nhất trong xã hội, nhưng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình khi thành lập ra được chính đảng đảm đương vai trò lãnh đạo, dẫn dắt giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cũng nhấn mạnh rằng, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò duy nhất lãnh đạo nhà nước, xã hội, là người định hướng sự phát triển trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.

Thấm nhuần những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã xác định rằng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam muốn thắng lợi trước hết phải có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Thực tế lịch sử ở Việt Nam và trên thế giới đã chứng minh tính tất yếu khách quan vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các giai đoạn của tiến trình cách mạng Việt Nam. Không có một tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò này của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi luận điểm nhằm hạ thấp hoặc muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam đều trái với điều kiện thực tế của nước ta.

Sự cần thiết phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự nhiên mà có, nó là tất yếu của lịch sử.

Trong thời kỳ giải phóng dân tộc ở Việt Nam trước đây, ngoài phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dẫn dắt, đã có những phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc của một số hội, đoàn thể, đảng phái khác như: Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Quốc dân đảng... Tuy nhiên, những tổ chức, đảng phái này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, mục tiêu của các tổ chức, đảng phái đó không phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc, thời đại, không quy tụ, tập hợp được quần chúng nhân dân... nên đã không thể lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và dần tan rã, thất bại.

Đúc rút từ sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu vào những năm cuối của thập niên 1980, 1990 cũng cho thấy, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ chế độ chính trị ở các nước này là đã từ bỏ, buông lỏng, phủ nhận vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, để cho các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng, vô hiệu hóa, cướp chính quyền, đưa đất nước đi theo con đường khác khi có những biến cố về chính trị.

Description:  Ảnh minh họa: TTXVN 

 Ảnh minh họa: TTXVN 

Đảng luôn đặt lợi ích của giai cấp, nhân dân và dân tộc lên trên hết

Bản chất, mục tiêu, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác

Các quốc gia trên thế giới đều có đảng cầm quyền lãnh đạo và nắm giữ nhà nước để tổ chức và quản lý đất nước, triển khai chủ trương, đường lối chính trị của đảng cầm quyền, thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị. Để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của một chính đảng cầm quyền cần phải dựa vào và xem xét bản chất, mục tiêu, đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền, đó là tiêu chí cốt lõi để đánh giá vai trò, khả năng lãnh đạo đất nước của chính đảng cầm quyền.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức ưu tú nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân và cả dân tộc. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đảng một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, phụng sự dân tộc, được nhân dân, dân tộc thừa nhận là đội tiên phong của mình. Mục đích hoạt động, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

Đảng hội tụ đủ bản lĩnh, tài năng, uy tín để lãnh đạo đất nước và xã hội

 Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng duy nhất hội tụ đầy đủ phẩm chất, năng lực, tiêu chí để lãnh đạo đất nước, dân tộc Việt Nam phát triển.

Hiện nay, bên cạnh những cơ hội vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam: Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước, nhất là các nước lớn diễn biến ngày càng phức tạp, có nguy cơ gây mất ổn định trên quy mô toàn cầu; chiến tranh sắc tộc, chiến tranh khu vực, xung đột tôn giáo và khủng bố quốc tế vẫn có khả năng bùng phát dưới những hình thức mới; tình hình Biển Đông có thể diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phát triển chậm lại, nguy cơ rơi vào khủng hoảng, suy thoái; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy ngày càng nổi lên... Điều đó đòi hỏi chính đảng lãnh đạo quốc gia là đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân; có tính tiên phong, cách mạng; có sức mạnh và kỷ luật tập thể; toàn tâm, toàn ý vì lợi ích chung của nhân dân, dân tộc. Ở Việt Nam hiện nay, để có được những điều kiện, nhân tố nêu trên chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ nhất, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong giác ngộ, có tổ chức chặt chẽ nhất, Đảng hình thành nên những sức mạnh, phẩm chất nổi trội và nhờ đó lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân ta, đất nước ta vượt qua các khó khăn, thử thách trên con đường phát triển, đó là:

Sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất thành một khối vững chắc cả về chính trị, tư tưởng và hành động trong Đảng, bảo đảm sự tập trung trong lãnh đạo của Đảng. Sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở mục đích, lý tưởng của Đảng, trên cơ sở lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, trên cơ sở phát huy dân chủ, tôn trọng ý kiến cá nhân. Sự thống nhất về tổ chức và phương thức hành động tạo ra sức mạnh lớn lao cho Đảng vượt qua được các khó khăn, thử thách.

Có tinh thần triệt để cách mạng, sức chiến đấu mạnh mẽ, được tôi luyện và ý thức kỷ luật cao, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ, nghiêm ngặt theo tư tưởng, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự sẵn sàng hy sinh, chấp nhận những khó khăn, gian khổ, khả năng vươn lên không ngừng của Đảng vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, chỉ có duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam mới gắn bó mật thiết với nhân dân, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tin và đi theo Đảng.

Vai trò lãnh đạo của Đảng chính là trách nhiệm, nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng là để nhân dân thực sự là người chủ đất nước, để toàn bộ quyền lực “đều ở nơi dân”. Đảng luôn có trách nhiệm với dân và tăng cường mối quan hệ máu thịt với dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình. Nhân dân thấy rằng lợi ích căn bản của mình gắn liền với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo; mục đích, lý tưởng của Đảng cũng chính là ước mơ, nguyện vọng lâu đời của nhân dân, của dân tộc.

Đảng luôn cầu thị, không ngừng đổi mới để tự hoàn thiện

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề bảo thủ mà luôn đổi mới, cập nhật, nhằm làm cho Đảng mạnh lên, có đường lối đúng đắn, giúp Đảng hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ đặt ra, đưa Việt Nam vượt qua các khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác trong bối cảnh mới hiện nay.

Thực tiễn đất nước và thế giới không ngừng vận động, biến đổi, rất nhiều vấn đề mới, yếu tố mới xuất hiện đòi hỏi phải được giải quyết, Đảng ta luôn tìm tòi, học hỏi, tổng kết thực tiễn để đề ra đường lối, quyết sách đúng đắn, phù hợp, Đảng luôn quan tâm đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để Đảng hoàn thành mọi trách nhiệm, nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng, nhất là những trách nhiệm, nhiệm vụ mới nảy sinh từ thực tiễn hiện nay, để Đảng luôn giữ được bản chất cách mạng, khoa học, vì lợi ích của quần chúng nhân dân, trước sau giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chất lượng, năng lực của đội ngũ đảng viên có tính chất quyết định đối với chất lượng, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, do vậy, Đảng chú trọng kết nạp những người ưu tú vào Đảng và luôn luôn làm trong sạch Đảng, loại bỏ những phần tử biến chất, xét lại, cơ hội chủ nghĩa ra khỏi Đảng.

Đảng luôn siết chặt kỷ luật Đảng để chống suy thoái, tiêu cực và tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta ý thức rõ rằng, một đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh mặt thuận lợi là cơ bản cũng chứa đựng không ít nguy cơ, mà một trong số đó là dễ quan liêu, xa rời quần chúng, dễ chủ quan... Để tránh nguy cơ đó, Đảng luôn kiên định mục tiêu đã lựa chọn, thường xuyên tự đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức mạnh về mọi mặt, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách công tác gần gũi với nhân dân.

Như vậy, lịch sử đã chứng minh và khẳng định vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiếp tục phát triển, bắt kịp xu hướng của thời đại.

Do vậy, những luận điểm sai lầm, suy diễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước là quan điểm phản động, sai trái, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận điểm này đã dựa trên những phân tích, nhận xét phi khoa học, không logic, không hệ thống và không toàn diện. Về thực tiễn, quan điểm này cũng hết sức phiến diện, quy chụp, phi thực tế khi không thấy rõ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thừa nhận những thành quả phát triển đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt hơn 93 năm qua.

PGS, TS VŨ VĂN PHÚC, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương