Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản

 

Để bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản chính quy, hiện đại trên cơ sở vũ trang toàn dân.

Theo V.I.Lênin, bản chất của chủ nghĩa đế quốc là hiếu chiến, xâm lược, phản động toàn diện, để ngăn chặn, làm thất bại mưu đồ xâm lược của chúng thì phải có nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, phải thường xuyên tăng cường tiềm lực quốc phòng. Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp thiêng liêng, cao cả, mang tính cách mạng, chính nghĩa và có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, sự nghiệp đó phải được quan tâm, chuẩn bị chu đáo và kiên quyết.

Về lực lượng quân sự bảo vệ tổ quốc, V.I.Lênin nhấn mạnh việc chăm lo xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân dựa trên nhng nguyên tc cơ bn: Đảng Cng sn lãnh đạo quân đội, tăng cường bn cht giai cp công nhân; không ngng hoàn thin cơ cu t chc của quân đội; đoàn kết thng nht quân đội vi nhân dân; trung thành vi ch nghĩa quc tế vô sn; xây dng chính qui; phát trin hài hoà các quân chng, binh chng; sn sàng chiến đấu cao. Trong đó, s lãnh đạo ca Đảng Cng sn là nguyên tc cơ bản nht, quyết định đến sc mnh, s tn ti, phát trin, chiến đấu, chiến thng ca quân đội.

Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm

 


Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn dân tộc, của toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên cơ sở liên minh công nông vững chắc. Theo V.I.Lênin: bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của giai cấp vô sản trong nước, nhân dân lao động và giai cấp vô sản thế giới có nghĩa vụ ủng hộ sự nghiệp bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người luôn lạc quan tin tưởng về sức mạnh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì theo Người, bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, của giai cấp và của nhân dân lao động, cũng như bảo vệ lợi ích của con cái họ sau này. Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng mác xít chân chính, sự quản lý, điều hành của nhà nước chuyên chính vô sản, phát huy sức mạnh của toàn dân, của các tổ chức xã hội. Đó vừa là quyền lợi, vinh dự, đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân, của toàn thể giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.


Bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan

 


Giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong tiến trình cách mạng phải tổ chức lực lượng bảo vệ những thành quả giành được. Vấn đề này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra từ giữa thế kỷ XIX, đặc biệt, khi tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari năm 1871, C.Mác đã nhấn mạnh tính khách quan, cấp thiết của việc bảo vệ thành quả cách mạng vô sản và chỉ ra rằng: một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của Công xã Pari là do giai cấp công nhân sau khi giành được chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, tổ chức xây dựng chế độ xã hội mới nhưng không triệt để dùng bạo lực trấn áp giai cấp tư sản phản động, không tổ chức lực lượng đủ mạnh để bảo vệ thành quả cách mạng.

V.I.Lênin cũng đã chứng minh việc bảo vệ tổ quốc như một quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong khi chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại và luôn tìm cách bóp chết nhà nước non trẻ của giai cấp vô sản. Theo V.I.Lênin: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự bảo vệ. Ngay sau khi giành được chính quyền, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được thiết lập thì tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu hình thành. Cùng với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng được đặt ra một cách trực tiếp, hai nhiệm vụ này gắn bó hữu cơ với nhau trong suốt quá trình cách mạng.

Theo V.I.Lênin, xuất phát từ qui luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội có thể giành thắng lợi ở một số nước, thậm chí một nước chưa phát triển tại mắt khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Với bản chất, âm mưu của kẻ thù là giai cấp tư sản tuy đã bị đánh đổ về chính trị nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất; chúng luôn tìm cách liên kết với các phần tử phản động trong và ngoài nước hòng lật đổ chính quyền cách mạng của giai cấp công nhân. Bản thân giai cấp tư sản cũng tìm mọi cách liên kết quốc tế để đè bẹp phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Vì thế, sau khi có chính quyền, cùng với tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn đặt ra một cách khách quan, trực tiếp, đòi hỏi các đảng cộng sản và công nhân phải luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

 



Tổ quốc là một phạm trù lịch sử dùng để chỉ đất nước, con người gắn liền với biên giới, lãnh thổ xác định, với những điều kiện kinh tế, tự nhiên, văn hóa, tâm lý, tình cảm của cộng đồng người trên lãnh thổ đó và một thể chế chính trị - xã hội tương ứng.

Tổ quốc được hình thành từ hai phương diện: tự nhiên và xã hội.

Về mặt tự nhiên, tổ quốc là phạm trù tương đối ổn định, bền vững, được xác định bởi giới hạn chủ quyền lãnh thổ, vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa... được hình thành lâu đời trong lịch sử; đó là địa bàn cư trú qua nhiều thế hệ của cộng đồng dân cư trong quốc gia với những bản sắc riêng về văn hóa, truyền thống lịch sử.

Về mặt chính trị - xã hội, tổ quốc là một phạm trù lịch sử mang tính giai cấp sâu sắc; tổ quốc ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển nhất định của nền sản xuất vật chất, chế độ kinh tế, chính trị - xã hội; tổ quốc tồn tại trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, bản chất chính trị - xã hội của tổ quốc do bản chất giai cấp thống trị quy định, không có tổ quốc chung chung, phi lịch sử, phi giai cấp.

Nghiên cứu về giai cấp công nhân và phong trào công nhân giữa cuối thế kỳ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không có tổ quốc, “họ không có cái gì là của mình để bảo vệ cả”, họ phải đứng lên đạp đổ chế độ hiện hành, giành lấy chuyên chính vô sản, giành lấy tổ quốc. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định luận điểm đó bằng phản đối khẩu hiệu “bảo vệ tổ quốc” của những người theo chủ nghĩa cơ hội. Trước thềm chiến tranh thế giới lần thứ nhất do chủ nghĩa đế quốc gây ra, họ đòi hỏi giai cấp công nhân phải “bảo vệ tổ quốc”, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng vô sản”. V.I.Lênin đã vạch trần bản chất phản động của chủ nghĩa cơ hội - xét lại, chỉ ra cho các đảng cộng sản và giai cấp công nhân thấy rằng: đó chỉ là tổ quốc của giai cấp tư sản, dựa trên chế độ tư bản chủ nghĩa đã lỗi thời, đang rệu rã, giai cấp công nhân chưa có tổ quốc; phản đối chiến tranh đế quốc, giai cấp công nhân phải đồng thời đứng lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lật đổ giai cấp tư sản đang thống trị để thiết lập chuyên chính vô sản, lập nên tổ quốc của giai cấp công nhân, đó mới là tổ quốc xã hội chủ nghĩa đích thực mà giai cấp công nhân phải đấu tranh mới có được. V.I.Lênin chỉ rõ: “Từ ngày 25 tháng 10 năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tư cách là tổ quốc”[1].

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là loại hình tổ quốc phát triển cao nhất, trong đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, thiết lập được nền chuyên chính vô sản, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là thành quả cách mạng của giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chống áp bức, bóc lột, nô dịch của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hệ thống luận điểm cách mạng, khoa học về sự nghiệp bảo vệ và phát triển những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. 



[1] V.I Lê nin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M. 1978, t.36, tr.102.

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

KIÊN QUYẾT PHẢN ĐỐI CHO RẰNG: "ĐA VĂN HÓA, ĐA QUỐC GIA NÊN KHÔNG THỂ..." LÀ NGỤY BIỆN!

     Dù là trường Quốc tế, nhưng trường được đặt tại Việt Nam, đa số học sinh của trường cũng là học sinh Việt Nam. Trường lấy lý do có học sinh ngoại quốc nên không Chào cờ và hát Quốc ca điều này không thể chấp nhận.
Nhập giang tùy khúc, "nhập gia" thì phải "tùy tục", học sinh Quốc tế đến VN học tập phải thực hiện một cách nghiêm túc nghi lễ chào cờ của Việt Nam và tôn trọng Quốc ca Việt Nam bởi các bạn đang sống và học tập trên lãnh thổ của VN./.
Yêu nước ST.

NGUỒN GỐC RA ĐỜI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

 

Ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời với sự góp mặt của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài. Vậy ngày kỷ niệm này mang những ý nghĩa gì?

Nguồn gốc ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trong thời đại Hồ Chí Minh, xây dựng ý chí và tinh thần đoàn kết được xác định là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về việc thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất 18/11 hằng năm đã trở thành Ngày truyền thống vẻ vang của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Suốt hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam đã ra sức hoạt động, khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh vĩ đại của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp với sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, góp sức đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Kể từ ngày thành lập đến nay, ở bất kỳ thời kỳ nào, tổ chức Mặt trận cũng thể hiện rất rõ và thực hiện rất tốt vai trò, vị trí của mình, luôn trung thành với tôn chỉ, mục đích tập hợp các tầng lớp nhân dân thành một khối đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động, tinh thần và lực lượng, tạo thành sức mạnh to lớn của cả dân tộc để hoàn thành những mục tiêu cách mạng cao cả do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Hiện nay, ngày 10/9 hàng năm được lấy là ngày kỷ niệm thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam./.

NGÀY QUỐC TẾ HÒA BÌNH- NGÀY TÔN VINH NỀN HÒA BÌNH THẾ GIỚI

 


Xây dựng một thế giới hòa bình, phát triển phồn vinh chính là mục tiêu của tất cả các nước trên thế giới. Có thể nói, chỉ chi trên thế giới không còn chiến tranh, không bóng bạo lực thì con người mới có thể có được hạnh phúc. Ngày Quốc tế Hòa bình được ra đời để tôn vinh nền hòa bình thế giới.

Ngày Quốc tế Hòa bình còn được gọi là ngày Hòa bình thế giới, ngày Quốc tế vì Hòa bình, ngày quốc tế phòng chống chiến tranh được diễn ra vào ngày 21 tháng 9 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh hòa bình, kêu gọi chấm dứt chiến tranh, bạo lực, bất công.

Ngày Quốc tế Hòa bình được Liên hợp quốc khởi xướng vào năm 1981 theo Nghị quyết 36/67 và lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 9/1982. Tới năm 2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức tuyên bố lấy ngày 21/9 hằng năm để kỷ niệm ngày Quốc tế Hòa bình. Cho tới nay, việc cử hành ngày Quốc tế Hòa bình luôn do Liên hợp quốc chịu trách nhiệm.

Ngày Quốc tế Hòa bình được bắt đầu được Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố là ngày kỷ niệm và đề cao những lý tưởng hòa bình vào tháng 9/1981.

21/9/1982 ngày Quốc tế Hòa Bình lần đầu tiên được cử hành.

Ngày Quốc tế Hòa bình năm 2001 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dự định cử hành vào ngày 11 tháng 9 nhưng sau đó lại được thay đổi sang ngày 21 tháng 9, có hiệu lực từ năm 2002. Từ đó đây được coi là ngày cố định để cử hành ngày quốc tế Hòa bình và tuyên bố đó là ngày đình chiến toàn cầu.

Năm 2004, đã xảy ra một rắc rối ngoại giao liên quan đến một cuộc thi chọn một bộ tranh áp phích dùng cho các tem thư kỷ niệm do United Nations of America phát hành. Chính vụ việc này đã khiến nhiều người bắt đầu chỉ trích những hành động sai lệch đi ngược lại lý tưởng của Ngày Quốc tế Hòa bình.

Năm 2005, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã kêu gọi toàn thế giới tuân thủ 24 giờ ngừng bắn và ngày quốc tế bất bạo động để đánh dấu Ngày quốc tế Hòa bình.

Năm 2006, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã đánh Chuông Hòa Bình lần chót trong nhiệm kỳ của mình. Vương quốc Anh đã tổ chức Ngày quốc tế Hòa bình và Ngày quốc tế bất bạo động ở Rochdale, Greater Manchester, do Peace Parade UK. tổ chức.

Năm 2007, tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đánh Chuông Hòa bình tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở thành phố New York, kêu gọi việc ngừng các hành động thù địch trong 24 giờ ngày 21 tháng 9, và giữ 1 phút im lặng trên khắp thế giới.

Năm 2011, vào ngày kỷ niệm lần thứ 30, chủ đề Ngày quốc tế Hòa bình của Liên Hợp Quốc là: “Peace and Democracy: make your voice heard” (Hòa bình và Dân chủ: hãy làm cho tiếng nói của bạn được (người ta) nghe).

Năm 2013, Ngày quốc tế hòa bình được Liên hợp quốc tổ chức kỷ niệm với chủ đề “Giáo dục vì hòa bình”. Mục đích của chủ đề này là nhằm nhấn mạnh vai trò của giáo dục trong việc đào tạo và giáo dục con người, đặc biệt là trẻ em trên toàn thế giới.

Năm 2015, thông qua chủ đề “Hợp tác vì Hòa bình – Nhân phẩm cho tất cả mọi người” Liên hợp quốc kêu gọi 24 giờ ngừng bắn kỷ niệm Ngày quốc tế Hòa bình.

Năm 2016, thông qua chủ đề “Cùng nhau vì hòa bình: Tôn trọng, an toàn và phẩm giá cho tất cả mọi người” Liên hợp quốc muốn tôn vinh tinh thần của TOGETHER.

TOGETHER là liên kết các tổ chức của hệ thống Liên hợp quốc, gồm 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc, khu vực tư nhân, các viện nghiên cứu và các cá nhân…trong một quan hệ đối tác toàn cầu nhằm hỗ trợ đa dạng, không phân biệt đối xử và chấp nhận những người tị nạn và di cư. Nó được khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh về người tị nạn và di dân của Liên hợp quốc vào ngày 19 tháng 9 năm 2016.

Chủ đề của ngày này được thay đổi hàng năm nhằm nâng cao nhận thức toàn cầu về những vấn đề mang tính thời đại. Chủ đề của năm 2018 là “Quyền được hòa bình”. Chủ đề của năm 2019 là “Hành động Khí hậu vì hòa bình”.

Thông qua ngày Quốc tế Hòa bình, Liên hợp quốc mong muốn khuyến khích toàn nhân loại cùng bắt tay vào hành động và hợp tác vì mục tiêu hòa bình cho mọi quốc gia, mọi dân tộc. Đây là dịp để LHQ kêu gọi các bên tham chiến trên toàn thế giới cùng từ bỏ vũ khí và đưa ra một cơ hội hòa bình.

Ngày Quốc tế Hòa bình còn được dành để kỷ niệm và củng cố cho các lý tưởng hòa bình đã được cam kết trước đó của tất cả các quốc gia và các dân tộc trên thế giới. Ngày kỷ niệm này cũng là lời nhắn nhủ tới mọi người dân trên thế giới về vai trò của Liên hợp quốc trong nỗ lực xây dựng hòa bình thế giới, đồng thời cũng là tiếng chuông nhắc nhở tổ chức này về nghĩa vụ thực hiện các cam kết lâu dài để giành lấy hòa bình cho nhân loại./.

LỊCH SỬ, Ý NGHĨA NGÀY QUỐC TẾ TỪ THIỆN

 

Ngày Quốc tế Từ thiện được tổ chức hàng năm vào ngày 5/9. Đây là dịp để mọi người trên khắp thế giới cùng tham gia vào các hoạt động thiện nguyện nhằm hỗ trợ các đối tượng khó khăn trong xã hội, đặc biệt là trẻ em.

Ngày Quốc tế Từ thiện trong tiếng Anh là International Charity Day hay IDC. Sự kiện này diễn ra vào ngày 5 tháng 9 hàng năm. Đây là dịp kêu gọi, hưởng ứng và tôn vinh các tổ chức từ thiện giúp đỡ những người khó khăn trong tháng 9  hằng năm.

Ngày 5 tháng 9 hàng năm đã được Liên Hợp Quốc chỉ định là Ngày Quốc tế Từ thiện. Trong một nghị quyết được thông qua vào tháng 12 năm 2012, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã tuyên bố lý do thành lập ngày này: để ghi nhận những nỗ lực của các tổ chức và cá nhân trong công tác từ thiện, đặc biệt là: Mẹ Teresa Calcutta. Và ngày 5 tháng 9 được chọn để tưởng niệm ngày mất của Mẹ Teresa. Theo trang web của Liên Hợp Quốc, sáng kiến do Hungary đề xuất “nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công việc từ thiện”.

Mỗi hành động nhân văn, sẻ chia nhẹ nhàng và nhân lên của cả cộng đồng sẽ tạo nên động lực to lớn giúp đỡ nhiều mảnh đời khó khăn, bất hạnh. Khi bạn cho đi, bạn sẽ nhận lại được rất nhiều thứ, đó là tình cảm, sự kết nối, trái tim yêu thương. Từ đó tạo nên một khối đoàn kết vô cùng bền chặt của mọi người. Đồng thời dạy chúng ta biết yêu thương, trân trọng những gì mình đang có, biết sẻ chia khó khăn với người khác.

Hơn nữa, sự kiện này còn góp phần thành lập một tổ chức nền tảng cho các hoạt động từ thiện có sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới. Tạo một môi trường thuận lợi cho các cá nhân tình nguyện cho các nhu cầu của cơ quan địa phương, quốc gia và quốc tế./.

                                                                 

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGOẠI GIAO NGHỊ VIỆN PHÁT HUY "SỨC MẠNH MỀM" NÂNG CAO HÌNH ẢNH, VỊ THẾ VIỆT NAM!

     Ngoại giao nghị viện được triển khai tích cực, hiệu quả là động lực quan trọng làm sâu sắc quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện, nhiều mặt giữa Việt Nam với các đối tác, bạn bè quốc tế.

Trao đổi với báo chí, Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Vũ Hải Hà cho biết, hoạt động đối ngoại của Quốc hội thời gian qua tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, toàn diện, ở trên bình diện song phương và đa phương. Qua đó góp phần quan trọng trong tổng thể thành tựu đối ngoại chung của đất nước, đưa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước phát triển theo chiều sâu, toàn diện và thực chất; đóng góp thiết thực cho các kênh ngoại giao vaccine, ngoại giao kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội ở trong nước; được đánh giá là “điểm sáng trong quan hệ song phương” trong tổng thể quan hệ với nhiều nước. Công tác đối ngoại của Quốc hội đã phát huy hiệu quả, lợi thế và nét đặc thù vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính nhân dân, ngày càng khẳng định vị thế của ngoại giao nghị viện trong nền ngoại giao toàn diện, hiện đại của Việt Nam.

Gần 3 năm qua, hàng trăm hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động. Trong đại dịch, ngoại giao vaccine được đẩy mạnh. Sau đại dịch, các hoạt động đối ngoại chuyển sang trọng tâm chia sẻ sáng kiến, phát huy vai trò chủ động, tích cực của nghị viện vào phục hồi phát triển kinh tế và giải quyết hiệu quả các vấn đề của khu vực và quốc tế.

Từ đầu năm 2023 đến nay, công tác đối ngoại của Quốc hội được triển khai tích cực, hiệu quả, đạt kết quả toàn diện, thực chất. Trong đó, ở cấp lãnh đạo Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có chuyến thăm chính thức Cộng hoà Cuba, Cộng hoà Argentina, Cộng hoà Đông Uruguay, Cộng hoà Indonesia và Cộng hoà Hồi giáo Iran hết sức thành công; hội đàm trực tuyến với Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân đại toàn quốc) Trung Quốc. Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã tham dự Đại hội đồng IPU-146 tại Manama, Bahrain và thăm Tây Ban Nha; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải thăm, làm việc Hàn Quốc; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định dự Hội nghị về sinh thái quốc tế tại Saint Peterburg, Nga…

Trước đó, khi đất nước chuẩn bị đón Xuân Quý Mão 2023, hoạt động đối ngoại của Quốc hội cũng diễn ra sôi động với việc đón Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Jin Pyo thăm chính thức Việt Nam, khởi đầu cho hoạt động trao đổi đoàn cấp cao giữa Quốc hội Việt Nam và các nước trong năm 2023. Quốc hội Việt Nam đã đón lãnh đạo Nghị viện/Quốc hội các nước thăm chính thức như Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Bờ Biển Ngà Adama Bictogo; Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Thụy Sĩ Martin Candinas và gần đây nhất là chuyến thăm của Chủ tịch Thượng viện Vương quốc Bỉ Stéphanie D’Hose diễn ra từ ngày 21/8-25/8.

Quốc hội cũng đón tiếp Phó Chủ tịch thứ nhất, Chủ tịch Nhóm Hợp tác với Quốc hội Việt Nam của Hội đồng Liên bang Nga Andrey Yatskin; Phó Chủ tịch Quốc hội Lào Khambay Damlath; Tổng Thư ký Thượng viện Campuchia Oum Sarith; Phó Chủ tịch Hạ viện Cộng hoà Czech; Chủ tịch Liên minh Nghị sĩ hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam... sang thăm, làm việc tại Việt Nam. Đây là lãnh đạo Nghị viện các nước láng giềng, các đối tác quan trọng của Việt Nam ở khắp các châu lục, trên toàn thế giới.

Hiện nay, Quốc hội Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho việc tổ chức Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9 diễn ra từ ngày 14-18/9/2023 tại thủ đô Hà Nội - sự kiện đối ngoại đa phương trọng tâm của Quốc hội Việt Nam trong năm 2023. Tiếp nối thành công của Đại hội đồng IPU-132 và Đại hội đồng AIPA-41, Hội nghị là cơ hội để Việt Nam tiếp tục thể hiện và quảng bá hình ảnh Việt Nam và Quốc hội Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

Theo ông Vũ Hải Hà, Quốc hội đã khẳng định vai trò tích cực, tiên phong trong việc thể chế hóa, nội luật hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hệ thống pháp luật của đất nước; xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý thuận lợi nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư với các đối tác quan trọng; tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngành ngoại giao, phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn mới; tiếp tục thể chế hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong hệ thống pháp luật của đất nước.

Với những hoạt động đối ngoại phong phú được triển khai đa dạng về chủ thể, đối tác, không chỉ ở kênh Quốc hội, mà còn cả kênh Đảng, Chính phủ và nhân dân, có thể nói, ngoại giao nghị viện đã và đang góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực, mở ra quan hệ hợp tác sâu rộng giữa Việt Nam với các nước, đối tác song phương và đa phương trong bối cảnh mới; góp phần nâng cao vị thế của Quốc hội tại các diễn đàn liên nghị viện quốc tế và khu vực.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng đánh giá, Quốc hội đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, quyết định các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực đối ngoại và giám sát việc thực thi các chính sách, pháp luật về đối ngoại và các cam kết quốc tế của Việt Nam; triển khai các hoạt động ngoại giao nghị viện song phương và đa phương. Quốc hội Việt Nam tiếp tục đổi mới, năng động và hành động, phát huy vai trò, “sức mạnh mềm” của ngoại giao nghị viện, đóng góp hiệu quả vào việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, đa dạng hóa, đa phương hóa, nâng cao hình ảnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế của Đảng và Nhà nước ta./.
Yêu nước ST.

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục.“Không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Người còn khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ. Trong bài phát biểu tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (10-1964), Bác đã nói: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Vì vậy, nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang; ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa”.

Với Người, sự nghiệp trồng người - giáo dục, đào tạo được xác định rõ là sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ là nhà giáo. Họ chính là lực lượng then chốt, quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo. Vì lẽ đó, Bác đã dày công xây dựng hệ thống quan điểm về những tiêu chuẩn, phẩm chất cần có của đội ngũ nhà giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, bao gồm:

Thứ nhất, mỗi một thầy giáo cần phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nhân cách, trau dồi đạo đức cách mạng. Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Người đặc biệt chú trọng đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của Đảng, của từng cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ những người làm nghề giáo. Đó không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, mà còn là nỗi bận tâm đau đáu của Người. Cũng tại buổi nói chuyện tháng 10-1964, tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bác đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Phải có chí khí cao thượng, phải "tiên ưu hậu lạc" nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”(2). Với Người, việc luôn trau dồi đạo đức cách mạng đã trở thành một nhiệm vụ tất yếu, tối quan trọng, là điều kiện “cần” và “đủ” mà tất cả thầy cô giáo đều phải hướng đến.

Thứ hai, nhà giáo phải luôn là tấm gương sáng ngời về tư tưởng, đạo đức và lối sống. Chúng ta đều biết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thầy - một nhà giáo dục vĩ đại, cả cuộc đời, Người đã giáo dục, đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng... Sức mạnh giáo dục và cảm hóa của Người làm khuất phục cả những kẻ thù ở bên kia chiến tuyến, đưa họ trở về với chính nghĩa, với lương tri của con người. Để có được điều đó là do ở Bác hội tụ đầy đủ tri thức, bản lĩnh và một nhân cách cao đẹp về tư tưởng, đạo đức và lối sống, là một tấm gương cao cả để lớp lớp cán bộ học tập và noi theo. Bác thành công trong sự nghiệp giáo dục vĩ đại của mình là vì trước hết Bác là một con người chân chính, một người yêu nước, một người cộng sản, một nhà cách mạng, một nhà nhân văn đích thực, một con người xứng đáng nhất với danh hiệu con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Người có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đối với đội ngũ nhà giáo, tài là sự am hiểu, vốn tri thức, vốn kinh nghiệm thực tiễn của người thầy, đức là tư cách, tình yêu thương, trách nhiệm của người thầy đối với nghề, với các em học sinh… Chính vì thế, Người nhắc các nhà giáo, dạy cũng như học đều phải biết chú trọng cả tài và đức. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ phụ trách thiếu nhi toàn miền Bắc (19-2-1959), Người nhấn mạnh: “Trẻ em hay bắt chước, cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách, v.v., phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm. Nếu các cô, các chú bảo: “Các em phải siêng làm” nhưng các cô, các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà”, nhưng các cô, các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung”, nhưng các cô, các chú bẩn, như thế là không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Người dặn dò: “Học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu. Các cô, các chú phải nhận rõ trách nhiệm của mình”, vì vậy “thầy giáo phải gương mẫu, trực tiếp làm nhiệm vụ: Đào tạo những công dân tốt, những cán bộ tốt sau này, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Thứ ba, thầy cô giáo phải thật sự yêu nghề, gắn bó với nghề; tất cả vì học sinh thân yêu. Trong tư tưởng, Bác đặc biệt nhấn mạnh sự “yêu nghề” trong hoạt động giáo dục: “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản?”. Ngoài ra, Người đặc biệt chú trọng đến tinh thần trách nhiệm, dám đối mặt với khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ mà xã hội, Đảng và nhân dân giao cho các thầy, cô giáo. Người luôn căn dặn: “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”. Đó là tinh thần trách nhiệm dành cho sự nghiệp giáo dục, mang tri thức tới cho các em học sinh, các thế hệ sinh viên; là nghĩa cử cao đẹp và sự dấn thân vì mục tiêu “trăm năm trồng người”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm, yêu thương học sinh như con, em ruột của mình, không thiên tư, thiên vị. Chỉ như vậy, các thầy, cô giáo mới đi tới sự đoàn kết thực sự, chung lòng, dốc sức vì tương lai của con em ta, dân tộc ta. Người viết: yêu nghề, yêu trường thôi chưa đủ mà phải yêu chủ nghĩa xã hội bởi chủ nghĩa xã hội là mục tiêu mà dân tộc đang hướng tới. Khi thầy, cô giáo có tri thức, niềm tin và tình yêu thật sự vào chế độ mới thì đứng trên bục giảng họ mới có thể truyền lại được cho lớp lớp học trò niềm tin, tình yêu và góp sức mình vào xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, quá trình giáo dục mỗi thầy giáo, cô giáo cần đặc biệt chú trọng tới nội dung và phương pháp truyền thụ. Theo Bác, quá trình giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tuy vậy Người đặc biệt chú trọng đến tác phong, tư duy, cách truyền đạt tri thức cho học trò, phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều.

Người nhấn mạnh: “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên, và tương lai của thanh niên tức là tương lai của nước nhà”. Chất lượng và hiệu quả giáo dục không phải ở chỗ học nhiều, học vẹt, học thuộc lòng từng câu, từng chữ, mà là giáo dục người học trở nên “những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.

Người cũng khuyên rằng “chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”.

Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Người về vai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục, đào tạo, luôn xác định là “quốc sách hàng đầu”, trở thành tư tưởng chỉ đạo mang tính chiến lược. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng đặt ra yêu cầu việc xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội cũng xác định cần: “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người”, trong đó nhấn mạnh: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cái thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.

Những quan điểm trên của Đảng chính là trở về với triết lý giáo dục của Người nhằm thực hiện thành công chiến lược trồng người - “những người hữu ích cho nước Việt Nam” như Bác Hồ kính yêu của chúng ta từng mong ước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẾN CÁC CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG MÀ CÒN KHÔNG LẮM ĐƯỢC LỊCH SỬ VẬY MÀ BỘ GĐ & ĐT LẠI ĐI KHẢO SÁT VIỆC HỌC MÔN LỊCH SỬ HAY KHÔNG LÀ LÀM SAO?

     Từ bao giờ ngày 2/9 lại là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vậy? Đó hay chăng là hệ quả của việc biến Lịch sử thành môn học tự chọn và lịch sử không phải là môn thi tốt nghiệp THPT chăng?
Thế mà người ta còn đang bày trò đưa ra mẫu phiếu khảo sát lấy ý kiến chọn một trong hai phương án nhằm bức tử môn Sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT trong những năm tới. Thật đáng buồn.

Mà tôi cũng không hiểu tay viết bài này trình độ, nhận thức và kiến thức xã hội đã qua tiểu học chưa? Trong khi báo đài, mạng xã hội, băng rôn, khẩu hiểu tuyên truyền cả tháng nay mà vẫn viết cái bài viết như vậy. Đáng trách.

Mong rằng cơ quan chức năng, mong rằng Bộ Giáo dục hãy có chấn chỉnh kịp thời chứ cứ đà này chẳng mấy là mất hồn cốt dân tộc, mất đi truyền thống đất nước đâu./.

Yêu nước ST.

Bác bỏ thông tin sai sự thật về vấn đề người Khmer ở Việt Nam

 


 

 “Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữa nước của cả dân tộc. Bởi vậy, có thể khẳng định, lịch sử hình thành, phát triển các dân tộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển đất nước Việt Nam. Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là “Việt Nam cướp đất của Campuchia”. Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh – vàng – đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền “dân tộc tự quyết” cho người Khmer, lập “Nhà nước Khmer Krom” Hồi tháng 7, tổ chức này còn lợi dụng việc phá bỏ cổng chào tỉnh Trà Vinh, vốn bị hư hỏng nặng và có khả năng gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông để bịa đặt thông tin chính quyền không cho người dân tổ chức các trò chơi dân gian nhân dịp lễ Chôl Thnăm Thmây năm 2023 và đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng “chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer”, muốn thực hiện chính sách “đồng hóa dân tộc Khmer”. Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc “Lịch sử vùng đất Nam bộ – Việt Nam”… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.

EU cần đánh giá khách quan về tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam


Ngày 31/7/2023 vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) công bố Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ trên thế giới năm 2022. Xem xét một cách toàn diện những đánh giá đề cập đến Việt Nam cho thấy nhiều nội dung phiến diện, thiếu khách quan, đồng thời cũng tạo nhận thức lệch lạc về tình hình đất nước, con người Việt Nam, là cái cớ để các thế lực xấu vin vào chống phá.

Với gần 200 trang, báo cáo của EU đánh giá tình hình nhân quyền, dân chủ trên toàn thế giới. Quy kết thiếu thực tiễn tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, báo cáo này đánh giá rằng, những hạn chế đối với các quyền chính trị và dân sự ở Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra trong năm 2022, đặc biệt là đối với quyền tự do biểu đạt và lập hội. Báo cáo cho rằng, không gian dành cho xã hội dân sự liên tục bị thu hẹp. Một số luật và nghị định mới đưa ra các hạn chế hơn nữa trong các lĩnh vực an ninh mạng, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tự do tôn giáo đã được ban hành hoặc đang trong quá trình chuẩn bị. Các nhà báo, blogger và các nhà bảo vệ nhân quyền, cũng như các nhà hoạt động môi trường tiếp tục bị bắt và bị truy tố với những “cáo buộc mơ hồ” về tội chống lại an ninh quốc gia hoặc trốn thuế và bị kết án tù dài hạn trong các phiên tòa có ít hoặc không có sự tiếp cận của công chúng. Báo cáo cũng cáo buộc, các phiên xử không công bằng, bao gồm cả việc từ chối đại diện pháp lý; các điều kiện hành chính và vật chất khắc nghiệt trong trại giam; vẫn còn những lo ngại về quyền của các nhóm thiểu số tôn giáo và việc quản lý quyền sử dụng đất. Báo cáo quy kết tự do truyền thông vẫn còn bị hạn chế nghiêm trọng: Báo in, phát thanh – truyền hình, truyền thông trực tuyến và điện tử bị kiểm soát chặt chẽ; quyền truy cập vào các trang web độc lập về chính trị bị chặn và các công ty truyền thông xã hội buộc phải đóng tài khoản hoặc xóa nội dung chỉ trích chính phủ…Ngay sau khi bản báo cáo này được công bố, “té nước theo mưa”, Đài Á châu tự do (RFA) cắt ghép nhiều nội dung, liên tục tuyên truyền xuyên tạc tình hình nhân quyền, dân chủ ở Việt Nam. Phó Giám đốc Phân ban châu Á của HRW, ông Phil Robertson cũng mượn gió bẻ măng: “Chính phủ Việt Nam sử dụng đi sử dụng lại điều 117 để bịt miệng bất cứ công dân nào dám sử dụng mạng Internet để chỉ trích chính phủ hoặc lên tiếng ủng hộ dân chủ, nhân quyền”!  Đặc biệt, các thế lực thù địch, tổ chức phản động được dịp “theo đóm ăn tàn” xuyên tạc, suy diễn, không ngừng phát tán, chia sẻ thông tin tiêu cực trên không gian mạng để nói xấu, đả phá tình hình quyền con người, chế độ xã hội, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Nhận xét về những báo cáo thường niên kiểu này của EU, ông Tore Vincents Olsen – là phó giáo sư về lý thuyết chính trị tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Aarhus, Đan Mạch cho rằng, các giá trị của EU về tôn trọng nhân phẩm, tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền còn nhiều tranh cãi.

Ông cũng khẳng định, có nhiều chỉ trích đánh giá còn thiếu cơ sở thực tiễn, nhiều nhà quan sát cũng đồng ý rằng các giá trị, trích dẫn quá chung chung để làm cơ sở rút ra đánh giá quan trọng. Hay ngay cả Trợ lý chương trình đánh giá thường niên này của EU, bà Elenna Ventura cũng thừa nhận, khái niệm này (dân chủ) thiếu một định nghĩa chắc chắn và đánh giá phản ảnh thiếu linh hoạt, phân tích xem xét các khía cạnh còn thiếu định lượng và định tính liên quan đến việc củng cố thực tiễn, chuẩn mực và thể chế dân chủ. Đặc biệt, Việt Nam đã gia nhập 25 công ước của ILO, liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Những nỗ lực, thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thể chế về quyền con người minh chứng mạnh mẽ thực hiện đảm quyền con người nói chung. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, chiến tranh xung đột dân tộc, sắc tộc, tình hình thiên tai, bão lụt gây thiệt hại nặng nề trên toàn thế giới và Việt Nam, với sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc, Việt Nam đạt được những thành tựu ấn tượng. Trong khi thế giới suy thoái, tăng trưởng âm, kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 8,02% trong năm 2022, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới. Trang liberationnews.org (Mỹ) kết luận: Thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19 “không đơn giản là một phép màu”, mà đó là “kết quả của một chính phủ xã hội chủ nghĩa đặt người dân lên trên lợi ích kinh tế”. Đó là mô hình “để không ai bị bỏ lại phía sau”.Việt Nam với chế độ chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, con người thân thiện, nhân văn, yêu chuộng hòa bình, đã vinh dự lọt vào tốp là những quốc gia đáng sống và môi trường đầu tư, làm việc. Bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam khẳng định: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người, có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”. Trái ngược với những đánh giá tiêu cực mà báo cáo của EU đưa ra, thành tựu về quyền con người của Việt Nam được Liên hợp quốc thừa nhận. Việc trúng cử, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, cơ quan quan trọng hàng đầu của Liên hợp quốc trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt quyền của người dân. Những thành tựu đó là minh chứng sinh động của cả một quá trình nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực, khẳng định luôn tôn trọng, bảo vệ thúc đẩy dân chủ, quyền con người.

 

Lật tẩy chiêu trò “thương vay, khóc mướn”

 


Để thực hiện âm mưu chống phá, can thiệp vào công việc nội của Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và cổ vũ cho hoạt động chống phá đất nước, các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, những phần tử cơ hội ở trong, ngoài nước tiếp tục thực hiện chiêu trò “thương vay, khóc mướn” xung quanh phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng. 

Ngày 13/7/2023, TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trương Văn Dũng (tên gọi khác là Trương Văn Ly, sinh năm 1958, nơi đăng ký HKTT số 16 Đê La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Sau hơn nửa ngày xét xử, HĐXX tuyên y án sơ thẩm với án phạt 6 năm tù giam. Trong khi dư luận đồng tình, ủng hộ trước bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội mà HĐXX đã tuyên phạt đối với bị cáo Trương Văn Dũng thì một số cá nhân, tổ chức chống phá trong và ngoài nước lại thực hiện các chiêu trò “thương vay, khóc mướn”, đòi chính quyền Việt Nam phải thả tự do cho Trương Văn Dũng với lý do “vô tội”, “dân oan”! Điển hình trong số đó là tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) và Ân xá quốc tế (Amnesty International – AI) đã đăng tải các bài viết kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Trương Văn Dũng vì họ cho rằng hành vi của Trương Văn Dũng chỉ là “những việc làm ôn hòa thực hiện quyền căn bản của công dân”. Trong khi đó, bà Ming Yu Hah, Phó Giám đốc khu vực của Ân xá quốc tế xuyên tạc rằng: “Cơ quan chức năng Việt Nam lại sử dụng sai trái hệ thống tư pháp để đàn áp tiếng nói bất đồng. Hoạt động trả lời phỏng vấn báo đài nước ngoài không thể bị án tù”… Đây là những luận điệu quen thuộc mà các tổ chức như HRW, AI, tổ chức khủng bố Việt Tân… vẫn tiến hành bấy lâu nay nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới danh nghĩa dân chủ, nhân quyền. Những tổ chức này lấy cớ phỏng vấn những “nhà bất đồng chính kiến”, sử dụng lời lẽ xuyên tạc, tố cáo của các số này để tạo cớ cổ vũ, đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội, có hành vi chống phá đất nước như Trương Văn Dũng hay trước đây là Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Thúy Hạnh. Thực chất, trước khi bị bắt giam, Trương Văn Dũng thường xuyên tham gia các hoạt động kích động, gây rối trật tự dưới vỏ bọc là “người yêu nước”, “yêu cây xanh”, “nhà bảo vệ môi trường” do các cá nhân, tổ chức, hội nhóm chống phá trong, ngoài nước tổ chức. Trương Văn Dũng cũng là thành viên của các hội nhóm chống phá đất nước như: “NoU”, “Quỹ 50K”, “Hội bầu bí tương thân”, các hội nhóm “dân oan”. Không những thế, Trương Văn Dũng thường xuyên trả lời phỏng vấn trên một số báo đài thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam như RFA, VOA… Dũng tàng trữ các tài liệu, vật phẩm, đăng tải bài viết trên các trang mạng xã hội có nội dung tuyên truyền, đả kích, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mặc dù đã được lực lượng chức năng gọi hỏi, triệu tập và răn đe nhiều lần nhưng Trương Văn Dũng không lấy đó làm bài học, tiếp tục dấn sâu con đường phạm tội. Được sự hậu thuẫn về vật chất, tinh thần từ những cá nhân, tổ chức chống phá bên ngoài, Trương Văn Dũng lại “ngựa quen đường cũ” khi tiếp tục tiến hành các hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước một cách công khai, thường xuyên, thể hiện rõ sự thách thức pháp luật. HĐXX nêu rõ, bị cáo có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân… Bên cạnh đó, bị cáo Dũng còn sử dụng 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Việt Nam. Với hàng loạt hành vi vi phạm pháp luật của Trương Văn Dũng, Cơ quan An ninh điều tra, Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ngày 6/5/2022 và ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng vào ngày 20/5/2022 về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm vào ngày 28/3/2023 và phiên tòa xét xử phúc thẩm vào ngày 13/7/2023, dù tài liệu, chứng cứ mà HĐXX đưa ra là rõ ràng, bị cáo Trương Văn Dũng vẫn có thái độ không thành khẩn, quanh co không nhận tội. Do đó, việc TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên y án 6 năm tù giam như bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trương Văn Dũng là khách quan, thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn của pháp luật, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Thực tế, chiêu trò “thương vay, khóc mướn” đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng mà các cá nhân, tổ chức chống phá đăng tải là nhằm truyền bá cái gọi là giá trị “dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương Tây, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như nhằm hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tiễn đã minh chứng rằng, mọi hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khi cổ vũ, “thương vay, khóc mướn” cho những kẻ phạm tội như Trương Văn Dũng chỉ là màn kịch trá hình, thực chất là vì lợi ích của chính những tổ chức phản động.

“Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, thiết nghĩ rằng không chỉ bị cáo Trương Văn Dũng mà những người đã, đang lầm đường, lạc lối, đang chấp hành các bản án của pháp luật về các tội danh xâm phạm an ninh quốc gia hãy chấp hành nghiêm các hình phạt, biết ý thức giáo dục, cải tạo để sớm có cơ hội nhận chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước Việt Nam và sớm được trở về với gia đình, xã hội.

 

“Ngoại giao cây tre” vì độc lập, tự cường và hữu nghị

 


Dựa trên tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kết hợp với truyền thống văn hóa đặc sắc và chính sách ngoại giao hòa bình của dân tộc, trường phái “ngoại giao cây tre” của Việt Nam không chỉ phù hợp với điều kiện Việt Nam và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, mà còn phù hợp với mọi thời đại.

 

Ðó là nhận định của nhà báo Khamvisan Keosouphan, nguyên Trợ lý Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào khi chia sẻ với phóng viên TTXVN. Là một nhà báo thường xuyên theo dõi về Việt Nam, ông Khamvisan có ấn tượng mạnh khi đọc bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chủ trương xây dựng trường phái “ngoại giao cây tre” của Việt Nam. Theo ông, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ bản chất và đường lối ngoại giao Việt Nam, đó là nền ngoại giao được đúc kết trong suốt quá trình hàng nghìn năm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc Việt Nam, dựa trên nguyên tắc bất biến và tư tưởng xuyên suốt là độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia. Ðó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị; dùng ngoại giao để ngăn chặn, đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, đưa Việt Nam hòa nhập dòng chảy của thời đại… Trong khi đó, Giáo sư Go Ito, thuộc Ðại học Meiji (Nhật Bản) nhận định, cách gọi “ngoại giao cây tre” là một phép ẩn dụ thú vị. Theo ông, những nét chính của đường lối ngoại giao này là khả năng phục hồi, tính linh hoạt và sự khiêm tốn. Giáo sư nhấn mạnh, sự linh hoạt tồn tại trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, trong việc duy trì mối quan hệ với các nước. Chuyên gia Nhật Bản cho rằng, Việt Nam đang trong một môi trường thuận lợi để đạt được vị thế quan trọng trong ASEAN, đồng thời có sự gắn kết về chính trị và kinh tế với các nước trong khu vực, như Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo Giáo sư Go Ito, Việt Nam là quốc gia Ðông Nam Á gần Nhật Bản nhất, đồng thời kết nối với bán đảo Ðông Dương, đây là một yếu tố quan trọng thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Nhật Bản. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam, cựu Ðại sứ Israel tại Việt Nam Amikam Levy cho rằng, đường lối “ngoại giao cây tre” là một chính sách, sáng kiến tuyệt vời, cho thấy phong cách lãnh đạo và cam kết của Ðảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích của nhân dân Việt Nam. Bày tỏ ngưỡng mộ về trường phái “ngoại giao cây tre”, ông Levy cho đây là sự kết hợp tài tình, bởi cây tre luôn linh hoạt và mạnh mẽ, có tính cộng đồng cao; cây tre mềm dẻo, nhưng cũng mạnh mẽ, đáng tin cậy. Chủ tịch Hội Hữu nghị Israel-Việt Nam bày tỏ ấn tượng tốt đẹp về vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu kinh tế-xã hội vượt bậc. Theo nhà ngoại giao Israel, lãnh đạo Việt Nam có tầm nhìn và tinh thần cống hiến vì lợi ích của người dân, đưa đất nước trở nên hùng mạnh./.

 

Tái diễn luận điệu xuyên tạc trong dịp Quốc khánh 2/9

 


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2/9 đã đi vào lịch sử dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam. Song hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đi ngược lại niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội lại tăng cường hoạt động chống phá.

Các đối tượng sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, bình luận với những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về bản chất cách mạng, về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn phiến diện, lệch lạc.Nhiều bài viết nêu quan điểm sai lệch về thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Quốc khánh 2/9.Trong dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, trên một số diễn đàn, có những người tự cho mình danh nghĩa “nhà nghiên cứu” hay “phân tích lịch sử”, đưa ra những nhận định, đánh giá trái với sự thật, họ còn lồng ghép các dữ liệu lịch sử và so sánh khiên cưỡng với một số sự kiện khác để tạo ra cách nhìn sai trái. Có trường hợp vin cớ việc chúng ta xử lý nhiều vụ án tham nhũng gần đây để đánh đồng vấn đề tham nhũng là “lỗi hệ thống”, từ đó kích động rằng, nhân dân hy sinh làm cách mạng để cho quan chức nắm quyền, tham nhũng, vơ vét của cải! Những phần tử xấu được dịp hùa vào miệt thị, cho rằng đất nước đã giành độc lập 78 năm nhưng đến nay nhân dân “chưa được tự do”, quyền và lợi ích cơ bản của người dân “bị chà đạp”, xuyên tạc “cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột vẫn tiếp diễn”! Các luận điệu bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9/1945, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975… là thủ đoạn “đến hẹn lại lên” của các thế lực thù địch, phản động, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Họ cố tình thổi phồng các tồn tại, tiêu cực trong đời sống xã hội hiện nay, đặc biệt là vấn đề suy thoái, tham nhũng trong bộ phận cán bộ, đảng viên để đổ lỗi cho chế độ, hạ thấp và phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời không ngừng ca ngợi lối sống tư bản, hưởng thụ, ca ngợi kiểu tự do thái quá nhằm tạo ra suy nghĩ lệch lạc rằng, đất nước ta đi theo con đường CNXH là sai lầm. Thủ đoạn này không mới nhưng việc nhắc đi nhắc lại, nhất là các dịp ngày lễ lịch sử của dân tộc sẽ tạo ra sự nhũng nhiễu thông tin trên mạng xã hội, ảnh hưởng đến quan điểm, suy nghĩ của một bộ phận người thiếu hiểu biết. Việc các thế lực phản động, cơ hội mang dòng máu Việt Nam nhưng lại cố tình xuyên tạc, bôi nhọ, hạ thấp bản chất, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là hành vi đi ngược lại lợi ích đất nước, phủ nhận khát vọng của dân tộc, vong ơn trước xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu xuyên tạc và những con người đang đi ngược dòng sự thật ấy chỉ có thể gây nhiễu về thông tin chứ không thể ngăn cản bởi dòng chảy lịch sử của dân tộc. Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu trong nước hoặc ở xa Tổ quốc cũng không khỏi xúc động bồi hồi, ôn lại khí thế hào hùng, sôi sục, náo nức của những ngày mùa thu cách mạng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quốc khánh chính là dịp để bất cứ người dân Việt Nam nào, đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, trau dồi tinh thần yêu nước, cống hiến sức mình cho quê hương, đất nước.

 

Trí thức… mê muội!

 

Trí thức… mê muội!

Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tiếc thay, bên cạnh tuyệt đại đa số những trí thức có tâm, có tài, luôn nỗ lực đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng và phát triển đất nước vẫn nảy nòi ra những kẻ có ăn có học, mang danh học hàm học vị này nọ mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối, trở mặt theo đòi bè lũ phản động, chống phá Đảng, Nhà nước, phản quốc, hại dân…

 

Quốc gia hiếu học, luôn coi trọng tri thức, nhân tài, từ xa xưa ông cha ta đã quan niệm “phi trí bất hưng”. Năm 1484, Thân Nhân Trung đã khẳng định trên bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám “Hiền tài là nguyên khí quốc gia,…”. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng trí thức. Người đã viết “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần có nhân tài”. Kế tục, phát triển truyền thống tốt đẹp này lên tầm cao mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa X khẳng định, trong thời đại ngày nay, “cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Từ chủ trương đúng đắn, nhân văn, mang tầm chiến lược này, thời gian qua đội ngũ trí thức ở nước ta tăng lên nhanh chóng cả về chất lượng và số lượng. Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm, chú trọng việc quy tụ tập hợp đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức là cán bộ khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý. Đội ngũ trí thức nước ta đã có vai trò quan trọng và tích cực trong việc cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới, làm động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã khẳng định: Đảng ta luôn coi trí thức là một bộ phận của lực lượng cách mạng, là một trong những nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, thật đáng buồn khi thời gian gần đây, một số đối tượng mang danh trí thức, từng làm việc trong các cơ quan nhà nước nhưng vị kỷ, bị kẻ xấu, các tổ chức phản động lôi kéo dẫn đến bất chấp đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bất chấp pháp luật, sử dụng không gian mạng phát tán nhiều thông tin sai lệch, công khai công kích, chống phá Việt Nam, cho rằng Đảng, Nhà nước “đàn áp trí thức”, kêu gọi “trở cờ”, đứng lên chống đối…

Mới đây, trang Fanpage Chân Trời Mới Media chuyên nghề phản động, xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam đã đăng tải bài viết của Mạc Văn Trang với tiêu đề “An ninh tư tưởng triệt phá giới trí thức”. Trong bài viết, người mang danh là PGS.TS đã “trở cờ” tuyên bố bỏ Đảng đã viện dẫn thông tin “50.000 nhà khoa học Nga đã bỏ nước ra đi” để quy chụp: “Thì ra ở đâu cũng vậy, khi chế độc độ tài dung túng cho lực lượng “AN NINH TƯ TƯỞNG” (Khoa giáo, an ninh mạng, An ninh nội địa, cho đến CA phường/xã) thấy ai viết cái gì họ cho là “nhạy cảm” là có quyền “mời làm việc” hoặc “đến gặp nói chuyện” để răn đe; ai viết gì đụng chạm đến “chế độ” là có thể quy tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước”, bị tù đày.” Viện dẫn những vụ việc diễn ra trong lịch sử với góc nhìn lệch lạc của người “ăn phải bả dân chủ” chống đối, cơ hội, Mạc Văn Trang cho rằng: Thì ra chả có LUẬT PHÁP gì, an ninh thấy “nhạy cảm” là “xử lý”. Nhưng có ông to “bảo kê” thì thoát nạn. Quả là “vô pháp”!…” rồi đi đến kết luận: “Tóm lại, một khi chế độ độc tài toàn trị để cho “an ninh tư tưởng” lộng hành thì giới trí thức chỉ có lụn bại, văn hoá, khoa học xuống dốc. Đảng CSVN có bao nhiêu nghị quyết về “thu hút nhân tài”, kêu gọi trí thức Việt kiều về xây dựng đất nước, nhưng từ Ngô Bảo Châu đến bao nhiêu trí thức trẻ “lớn lên dưới mái trường XHCN” còn chả chịu ở lại trong nước, thì Việt kiều nào dám về?”. Những vụ việc liên quan Lộc Vàng, Trần Mạnh Hảo, Trần Văn Thuỷ, Vũ Thư Hiên, Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy, Nguyễn Đình Cống và mới đây là Đặng Tiến… mà Mạc Văn Trang cố ý đưa ra làm ví dụ, trên thực tế, đều có vấn đề về tư tưởng và việc xử lý, ít nhất là ở mức độ không đưa những tác phẩm của các cá nhân nêu trên vào sách giáo khoa hay báo chí là đúng đắn và cần thiết. Môi trường giáo dục cần lành mạnh, nhân văn, không thể để học sinh phải học sản phẩm của một tên phản động, trở cờ hay những phần tử chống đối, lưu vong, phản quốc, hại dân. Luật An ninh mạng ra đời là tất yếu khách quan xuất phát từ bối cảnh tình hình an ninh mạng trong nước và yêu cầu bảo vệ an ninh Quốc gia, bí mật Nhà nước, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của Hiến pháp. Luật An ninh mạng không cấm hoặc ngăn cản quyền tự do ngôn luận, quyền bày tỏ quan điểm của công dân mà chỉ nghiêm cấm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Đảng ta luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy “Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt” trong lực lượng cách mạng toàn dân. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh, đất nước phát triển, dân tộc trường tồn thì cần dứt khoát đấu tranh, xử lý nghiêm minh những phần tử mang danh trí thức mà đầu óc mê muội, tâm địa đen tối.