Thứ Năm, 7 tháng 9, 2023

Thủ đoạn chống phá mới

Các đối tượng thành lập hệ thống kênh YouTube để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đây là hoạt động có tổ chức, được đào tạo chuyên nghiệp với những thủ đoạn nguy hiểm. 

Lập hệ thống kênh YouTube xấu độc, xuyên tạc

Tính đến tháng 1/2023, theo số liệu thống kê của Datareportal, Việt Nam đã có 63 triệu tài khoản, trong đó hơn 100.000 kênh kiếm tiền từ quảng cáo (kênh có hơn 1.000 người theo dõi) với nhiều chủ đề từ giải trí, ẩm thực, vlog... Hiện tại doanh thu quảng cáo của YouTube tại thị trường Việt Nam ước tính đã lên đến hơn 500 triệu USD - đây là một thị trường phát triển tiềm năng, có nhiều người xem.

 Các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước trước đây sử dụng ở các nền tảng mạng xã hội khác nhận thấy tiềm năng to lớn trước sự phát triển này và lượng người xem ở Việt Nam lớn nên đã xây dựng hàng loạt kênh YouTube với sự tổ chức, đào tạo làm truyền thông chuyên nghiệp, đồng thời còn lôi kéo, móc nối với các thành phần bất hảo trong nước. Trong số những tổ chức, đối tượng đó, nổi bật nhất là nhóm người Thượng lưu vong ở Thái Lan, chúng biết cách khai thác hiệu quả nền tảng này để vừa tuyên truyền chống phá Nhà nước. vừa khai thác để làm công cụ kinh tế, tài chính phục vụ cho hoạt động chống phá lâu dài. (trích báo)

PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TRONG CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Tấm gương mẫu mực trong nghiên cứu khoa học

C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục được những hạn chế của các đại biểu tư tưởng trong lịch sử và đương thời, có phương pháp nghiên cứu thực sự khoa học. Với sự hội tụ đầy đủ các nhân tố chủ quan trong chuyển đổi lập trường giai cấp, cùng với trí tuệ uyên bác của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa thành tựu khoa học tự nhiên, tiền đề lý luận một cách chọn lọc. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gạt bỏ hiện tượng bên ngoài để tìm ra bản chất, những mâu thuẫn kinh tế-xã hội nảy sinh trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nghiên cứu thực tiễn, tìm ra nguyên nhân do chưa có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến; chưa được giác ngộ ý thức giai cấp, còn bị ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại nên cản trở, dẫn đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở những nước tư bản phát triển, như: Đức, Anh, Pháp bị thất bại.

Sự vĩ đại trong nghiên cứu khoa học của các ông đã đạt được thành quả là sáng lập, phát triển nên học thuyết thực sự khoa học, cách mạng-vũ khí tư tưởng, lý luận của giai cấp công nhân. Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, C.Mác và Ph.Ăngghen, sau này là V.I.Lênin đã vừa bảo vệ, vừa phát triển các nguyên lý cách mạng và gắn với đấu tranh quan điểm sai trái để ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của những trào lưu tư tưởng cơ hội, xét lại, đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ra đời là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, đánh dấu sự ra đời Chủ nghĩa Mác, công khai về mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân quốc tế. Trước đó, C.Mác, Ph. Ăngghen đã phải mất nhiều năm nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu vai trò của giai cấp công nhân-lực lượng xã hội tương lai giữ vai trò lãnh đạo lật đổ xã hội tư bản và xây dựng xã hội mới.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, ông có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn với phát triển lý luận, tiêu biểu như các tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Quyền dân tộc tự quyết”, “Nhà nước và cách mạng”... Ở mỗi tác phẩm đều kết cấu nội dung logic, sử dụng hiệu quả các phương pháp khoa học là so sánh, phân tích, logic-lịch sử. Trong bối cảnh sau khi Ph.Ăngghen qua đời thì Quốc tế II bị lũng đoạn (ngoại trừ Đảng Xã hội-Dân chủ Nga), còn lại các đảng khác đều bị phân hóa thành ba phái nên V.I.Lênin đã thấy rõ sự cần thiết phải đấu tranh, với bút chiến rất mẫu mực để vạch trần bộ mặt thật của nó. Các tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để lại là những di sản khoa học đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn, mẫu mực về đấu tranh tư tưởng nên mãi mãi trường tồn trong thời đại hiện nay.

Gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận

Tấm gương mẫu mực trong gắn kết nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của các ông thể hiện ở nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng và kết quả thực tế.

Về nội dung thể hiện sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, xuất phát từ những nguyên lý gốc đã được chỉ ra trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; bám sát những biến đổi mới của thực tiễn, của cơ sở kinh tế, lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, nắm vững bản chất sai trái về khoa học và phản động về chính trị của những quan điểm sai trái ở mỗi thời điểm cụ thể. Ở tác phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, với kết cấu 4 chương thì dành riêng chương 4 để đấu tranh phê phán quan điểm sai trái và các chương khác đều lồng ghép nội dung phê phán.

Về hình thức thể hiện, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong nhiều tác phẩm dù không đặt tên hoặc có một số ít tác phẩm sử dụng từ “đấu tranh” hoặc “phê phán” ở tên tác phẩm nhưng nội dung đều phản ánh rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học với phê phán quan điểm sai trái, cơ hội, xét lại rất thuyết phục.

Về phương pháp thể hiện rất toàn diện, nhuần nhuyễn, như: Khái quát, phân tích, diễn giải, logic-lịch sử, so sánh để chỉ ra tính chất sai trái của các luận điểm mà những đối tượng cơ hội, xét lại đưa ra và chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý cách mạng.

Về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong các tác phẩm thể hiện tính đanh thép, “rõ danh tính đối tượng cần phê phán”, sắc sảo về bút lực, bảo đảm tính luận chiến, luận cứ, luận chứng và có thái độ chính trị kiên quyết.

Khi thực tiễn có sự thay đổi, cần bổ sung các nguyên lý cho phù hợp và xuất hiện quan điểm đối lập thì C.Mác và Ph.Ănghgen lại kết hợp nghiên cứu khoa học, chỉ rõ nguồn gốc và mục đích chính trị, tính chất sai trái về khoa học của quan điểm cơ hội, xét lại để tuyên truyền, giác ngộ giai cấp công nhân tránh bị ảnh hưởng tiêu cực. Tiêu biểu như tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, nhằm vạch trần quan điểm cơ hội, xét lại của chủ nghĩa Látxan sai trái về khoa học, với mục đích chính trị đưa ra “luật sắt về tiền công” nhằm bênh vực, che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân... Với phương thức đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng của C.Mác, Ph.Ăngghen thì tư tưởng của Látxan đã bị vạch trần, phá sản và qua đó khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Ở thời kỳ V.I.Lênin, sau khi Ph.Ăngghen mất và Quốc tế II bị lũng đoạn thì ông cho rằng tất yếu cần đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, bởi: “Chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù chính của chúng ta. Chủ nghĩa cơ hội trong tầng lớp trên của phong trào công nhân, đó là chủ nghĩa xã hội tư sản chứ không phải là chủ nghĩa xã hội vô sản”(*).

Công lao to lớn của V.I.Lênin là đã bổ sung, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác, bảo vệ bản chất khoa học và cách mạng nên với tên gọi mới là “Chủ nghĩa Mác-Lênin”. Ở mỗi tác phẩm, mà tiêu biểu như: “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”, “Nhà nước và cách mạng”, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky”, “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”... V.I.Lênin cũng kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu thực tiễn để phát triển lý luận và gắn nghiên cứu khoa học với đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội, xét lại, chủ nghĩa chống cộng. Kết quả, các đối tượng có tư tưởng cơ hội, xét lại đã từng bước bị vô hiệu hóa, giảm sự ảnh hưởng tiêu cực đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Ý nghĩa soi đường trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay

Thứ nhất, về giá trị gắn kết giữa nội dung nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận không được tách rời nhau. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã để lại chìa khóa giải quyết các vấn đề khoa học là phải có tư duy biện chứng, nắm vững tính quy luật khách quan của cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản là rất quyết liệt, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong những năm qua, xuất hiện rất nhiều luận điểm sai trái, nhiều thế lực, đối tượng tham gia và kết hợp sử dụng các loại phương tiện với số lượng ngày càng gia tăng, như: Huy động các đài phát thanh, hãng thông tấn, báo chí, nhà xuất bản ở nước ngoài, nhiều trang web, blog cá nhân tham gia chống phá Đảng, Nhà nước và thành tựu của nhân dân ta đã đạt được sau gần bốn thập niên thực hiện công cuộc đổi mới.

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, các lực lượng tham gia cần kết hợp nghiên cứu khoa học để nắm vững nguồn gốc, bản chất của các trào lưu tư tưởng sai trái, cơ hội, xét lại để vạch trần cho quần chúng nhân dân nhận diện rõ bản chất và tác hại của chúng trên các phương tiện thông tin. Đồng thời, bảo vệ, phát triển học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay.

Thứ hai, kế thừa phương pháp, kỹ năng sử dụng bút chiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin trong đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Với tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, “Cách mạng vô sản và tên phản bội Causky” của V.I.Lênin... là những tác phẩm mẫu mực thể hiện rõ phương pháp bút chiến. Các lực lượng tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay cần kế thừa để đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, phản khoa học, nhằm bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Mỗi bài viết cần sử dụng tổng hợp các phương pháp, các luận cứ, luận chứng, tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật-công nghệ hiện đại để góp phần đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu cơ hội, xét lại nhằm phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng trong hệ tư tưởng của Đảng ta.

Thứ ba, kế thừa giá trị về lựa chọn giải pháp trụ cột trong kết hợp giữa nghiên cứu khoa học với đấu tranh tư tưởng, lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Việc làm thường xuyên là giáo dục nâng cao nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về sự cần thiết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Bên cạnh đó, cần nhận diện kịp thời về bản chất, mục đích chính trị và tính chất phi khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới của Đảng ta.

Cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học, lực lượng đấu tranh chuyên sâu ở các bộ, ngành, cơ quan, địa phương, đơn vị, cơ sở giáo dục-đào tạo, cơ sở nghiên cứu thực hiện tốt giải pháp gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận với đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cùng với đó, cần phát huy tính tích cực chính trị của các lực lượng xã hội, nhất là cán bộ, đảng viên, các nhà khoa học làm nòng cốt trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, chúng ta phải luôn kiên định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay./.



TỔNG BÍ THƯ: AI KHÔNG XỨNG ĐÁNG THÌ NÊN “RÚT LUI TRONG DANH DỰ”

 Sáng 13/5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng trước kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV.

Phản hồi ý kiến cử tri về công tác phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư cho biết về cơ bản những vụ việc được dư luận quan tâm đã được đưa ra xét xử. Một số trường hợp trốn đi nước ngoài cũng đã bị tòa xử vắng mặt, đơn vị liên quan sẽ phối hợp với các nước mà đối tượng đang trốn để bắt về theo luật pháp quốc tế.

Tổng Bí thư khẳng định phòng chống tham nhũng không phải chỉ là chống sự câu kết, móc ngoặc với nhau mà cái gốc là chống suy thoái về tư tưởng, chính trị. "Nếu anh có đạo đức, tư tưởng tốt thì tham ô, tham nhũng làm gì, phải biết khinh bỉ cái đó, biết cái đó là cái xấu, tránh xa ra". Tổng Bí thư cho hay, Trung ương khuyến khích những người đã vi phạm, thấy tay nhúng chàm rồi xin thôi, "thế là nhẹ nhàng, nhân văn nhất, mở đường cho tiến bộ".

Nói về việc thành lập Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp tỉnh, Tổng Bí thư nhấn mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng là công việc của toàn dân và tất cả các cấp. Thời gian tới, kết quả một năm của Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cấp tỉnh sẽ được sơ kết xem nơi nào làm tốt, nơi nào làm chưa tốt để chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương. "Anh nào, địa phương không làm được thì xử lý. Đã không xứng đáng thì từ chức đi, rút lui trong danh dự là tốt nhất. Gần đây rất nhiều trường hợp thế rồi và đang còn nữa, các đồng chí cứ chờ xem".

Tại buổi tiếp xúc, cử tri đánh giá cao công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, có hiệu quả, không có vùng cấm; đồng thời, đề nghị tiếp tục xử lý nghiêm các vụ tham nhũng, tiêu cực và có biện pháp xử lý đối với cán bộ sợ trách nhiệm, không dám nghĩ, không dám làm, làm việc cầm chừng; tiếp tục có biện pháp phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa; Đảng, Quốc hội, Chính phủ đẩy mạnh phòng chống tham nhũng tiêu cực, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng nặng chế tài xử lý, bảo đảm tính nghiêm khắc và đủ sức răn đe. "Bên cạnh xây dựng và thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn để phòng chống tham nhũng, cần quan tâm cải cách tiền lương để cán bộ không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không cần tham nhũng".


CÁN BỘ CẦN “BIẾT LÃNH ĐẠO” ĐỂ LÀM “ĐẦY TỚ” NHÂN DÂN

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ý nghĩa sâu xa của lời căn dặn đó chính là, để hoàn thành sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “biết lãnh đạo” để đi tới mục tiêu cao cả đó, để xứng đáng là “Người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người đã chỉ dẫn: “muốn cho mọi người làm tròn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo”. Theo Hồ Chí Minh, các cán bộ biết lãnh đạo tức là họ phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, cán bộ cần phải nắm vững mục đích (mục tiêu) và phương thức (phương pháp) trong lãnh đạo. Đây là vấn đề đặc biệt cần thiết đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi mục tiêu và phương pháp là các vấn đề cơ bản của lãnh đạo. Không nắm vững lý luận khoa học sẽ không thể đề ra được phương pháp lãnh đạo khoa học và hiệu quả. Ngược lại, không có phương pháp đúng sẽ không đạt được mục tiêu trong lãnh đạo. Lâu nay, trong lãnh đạo, nhiều cán bộ đã chỉ chú ý đề ra các mục tiêu (nói thì “nhiều” “hay”), mà không quan tâm đến đề ra các phương pháp thực hiện (làm thì “ít”, “dở”). Thực tế nhiều năm qua cho thấy, cán bộ ta còn nhiều khuyết điểm trong lãnh đạo, nhưng không muốn sửa chữa, không dám nhận trách nhiệm, là do họ đã không biết lãnh đạo. Cán bộ biết lãnh đạo rất cần phải nói ít, làm nhiều, tức cần phải nắm vững, đề ra các mục tiêu, phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong lãnh đạo.

Thứ hai, cán bộ cần phải nắm vững “dân là chủ” (dân chủ) và “dân làm chủ” (thực hành dân chủ) trong lãnh đạo. Đây là phương châm rất quan trọng đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi dân là chủ (với ý nghĩa là mục tiêu) và dân làm chủ (với ý nghĩa là phương pháp) là các vấn đề cơ bản nhất trong lãnh đạo để xây dựng một xã hội dân chủ như Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ. Không xây dựng được các mục tiêu dân chủ sẽ không đề ra được các phương pháp dân chủ. Ngược lại, không thực hiện các phương pháp dân chủ sẽ không đạt được các mục tiêu dân chủ. Lãnh đạo dân chủ tức là cán bộ phải kết hợp giữa đạo đức và pháp luật, đặc biệt coi trọng tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, biến quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước thành hành động tự giác của nhân dân. Ví như đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cần phải được hiểu là chống lại các quan điểm có đặc tính cá nhân vị kỷ (vụ lợi), các hành vi có biểu hiện đặc điểm cá nhân ích kỷ (tư lợi), chứ không phải chống lại các quan điểm, hành vi vì quyền lợi chính đáng, có quan điểm nhân văn của cá nhân. Hồ Chí Minh phân tích rằng: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”.

Thứ ba, cán bộ cần phải biết đi đầu, gương mẫu (tiên phong) trong lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh: “Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”. Nghĩa là, hoạt động lãnh đạo là không phụ thuộc vào nhiều người hay ít người lãnh đạo, mà phụ thuộc vào tính gương mẫu (chất lượng) của các cán bộ lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “nói giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, thì cụ thể là phải gương mẫu trong sản xuất, gương mẫu trong đời sống”. Một người lãnh đạo mà không gương mẫu, không tiên phong về tư tưởng, đạo đức, lối sống thì người đó không biết lãnh đạo. Những người có tư tưởng, quan điểm “bảo thủ”, “kiêu ngạo”, “lệch lạc”, những người có hành vi “giả dối”, thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đều là những người không biết lãnh đạo.

Thứ tư, cán bộ cần phải có tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo. Mỗi cán bộ cần phải nhận thức đúng đắn cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh cho rằng, lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thì tập thể lãnh đạo (cơ quan lãnh đạo) là muốn nói tới các đại hội Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân; còn cá nhân phụ trách hay cá nhân lãnh đạo (người lãnh đạo) là muốn nói tới các thành viên, ủy viên trong các cơ quan Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. Tập thể hay cá nhân lãnh đạo đều phải tuân thủ nguyên tắc: “quyền hạn gắn với trách nhiệm” trước Tổ quốc và nhân dân. Tinh thần trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong lãnh đạo cần phải gắn chặt với ba nội dung cơ bản: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và làm tròn nhiệm vụ. Trong ba nội dung này thì việc nắm vững chính sách được coi như nắm vững phương pháp lãnh đạo dân chủ; việc làm đúng đường lối quần chúng được coi như việc xác định rõ mục tiêu lãnh đạo dân chủ; còn làm tròn nhiệm vụ được coi như vừa xác định rõ mục tiêu (tiêu chí) lãnh đạo dân chủ, vừa đề ra phương pháp (phương thức) lãnh đạo dân chủ của tập thể, mỗi cán bộ. Quyền hạn cần phải gắn với trách nhiệm; cương vị lãnh đạo càng cao thì trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân càng nặng nề. Cán bộ cần phải nhận thức rõ rằng, làm lãnh đạo là để “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, chứ không phải để “làm quan phát tài”.

Thứ năm, cán bộ cần phải có nghệ thuật lãnh đạo. Cán bộ phải biết lãnh đạo một cách mềm dẻo, linh hoạt, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Phương pháp lãnh đạo này đối lập với phương pháp lãnh đạo theo kiểu “mệnh lệnh” trong thời kỳ nền kinh tế chỉ huy, bao cấp, hoặc trong chiến tranh. Theo Người, lãnh đạo theo phương pháp mệnh lệnh, là “làm việc theo cách quan liêu”, tức sử dụng quyền lực “cứng”, khó thuyết phục đối tượng lãnh đạo, mặc dù cán bộ vẫn có thể “làm tròn nhiệm vụ”, nhưng nhìn về tổng thể, thực chất thì lại thất bại. “Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời nay có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”. Nếu cán bộ sử dụng phương pháp lãnh đạo khéo léo sẽ mang lại nhiều hiệu quả, mang tính “hai chiều”, tức có tính phản biện. Hồ Chí Minh coi phương pháp lãnh đạo khéo léo tương tự như “làm việc theo cách dân chủ”, sử dụng quyền lực “mềm”. Người nói: “Khi tuyên truyền chính sách của Đảng, cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ không được dùng mệnh lệnh”. Một tập thể lãnh đạo khéo thể hiện ở sự sáng suốt, tôn trọng các quan điểm, chính kiến khác nhau nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết. Cá nhân lãnh đạo khéo thể hiện ở việc khéo tổ chức, khéo thuyết phục, khéo sử dụng cán bộ, khéo kiểm tra, kiểm soát trong thực hiện các công việc. Khéo lãnh đạo là đối lập với “thủ đoạn chính trị”.

Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để cán bộ biết lãnh đạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách thiết thực để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở Việt Nam./.


 

CHIÊU TRÒ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ

CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng chống đối trong và ngoài nước thường sử dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” là phủ nhận ý nghĩa, giá trị của những thành quả, thắng lợi, nhất là các thắng lợi có ý nghĩa lịch sử mà các quốc gia ấy đã giành được. Đối với cách mạng Việt Nam, những kẻ cố tình không nhìn ra thành quả, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám lập luận rằng, đó không phải là thành quả có được dưới sự lãnh đạo của Đảng mà là “một sự ăn may”!

Họ biện minh, vào đầu năm 1945, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp. Kể từ sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945, Nhật đã hất cẳng Pháp và khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện thì ở Việt Nam xuất hiện “khoảng trống quyền lực”. Họ cho rằng, khi xuất hiện “khoảng trống quyền lực” thì không chỉ với Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, cách mạng cứ nổ ra là giành thắng lợi, không cần ai phải “dày công lãnh đạo”.

Từ cách nhìn phiến diện và đơn giản ấy, họ cho rằng Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công “là một sự ăn may” và phủ nhận vai trò của Đảng, phủ nhận quá trình chuẩn bị lực lượng, xây dựng cơ sở, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa của cách mạng Việt Nam.

Các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và đối tượng chống đối xuyên tạc rằng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng. Thậm chí, họ còn xuyên tạc lịch sử rằng “dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa vẫn giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra”. Thậm chí, có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng, thành quả Cách mạng tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu. Đồng thời suy diễn, nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh (!)...

Những luận điệu sai trái, bóp méo sự thật, xuyên tạc lịch sử nói trên của các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong và đối tượng chống đối hòng hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạ thấp, coi nhẹ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận vai trò và giá trị thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ. Việc phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám còn gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn trở hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước, hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa… Do đó, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, nâng cao tinh thần cảnh giác để tăng cường đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.

Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng tháng Tám càng lan tỏa. Trách nhiệm của những người Việt Nam yêu nước trước hết là hiểu đúng, nhận thức rõ về ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Cách mạng tháng Tám. Mặt khác, mỗi người dân phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu và hành động thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động để kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, nhất là trên không gian mạng.


 ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

"Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước", Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khẳng định.
- Cảnh giác trước những thông tin sai sự thật.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữa nước của cả dân tộc. Bởi vậy, có thể khẳng định, lịch sử hình thành, phát triển các dân tộc gắn với lịch sử hình thành và phát triển đất nước Việt Nam. Thời gian qua, nhiều thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng vấn đề quyền của người dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó phải kể đến tổ chức Khmer Kampuchea Krom.
Khmer Kampuchea Krom là một tổ chức hoạt động trên phạm vi quốc tế có xu hướng bài Việt Nam và tham gia các hoạt động chống Đảng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam. Tổ chức này gồm nhiều đối tượng xấu, trước nay thường xuyên vu cáo về cái gọi là "Việt Nam cướp đất của Campuchia". Khmer Kampuchea Krom sử dụng hình ảnh 3 màu xanh - vàng - đỏ làm biểu tượng tuyên truyền, vận động, lôi kéo, móc nối với số phần tử thù địch, phản động trong nước với mục tiêu mặc định sự tồn tại của tổ chức trong vùng dân tộc Khmer, tiến tới đòi quyền "dân tộc tự quyết" cho người Khmer, lập "Nhà nước Khmer Krom".
Hồi tháng 7, tổ chức này còn lợi dụng việc phá bỏ cổng chào tỉnh Trà Vinh, vốn bị hư hỏng nặng và có khả năng gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông để bịa đặt thông tin chính quyền không cho người dân tổ chức các trò chơi dân gian nhân dịp lễ Chôl Thnăm Thmây năm 2023 và đưa ra luận điệu xuyên tạc rằng "chính quyền người Việt muốn xóa bỏ văn hóa của người Khmer", muốn thực hiện chính sách "đồng hóa dân tộc Khmer".
Thậm chí, nhiều đối tượng thù địch, quá khích còn công khai thách thức chính quyền nhân dân, treo cờ của tổ chức Khmer Kampuchea Krom, xuyên tạc "Lịch sử vùng đất Nam bộ - Việt Nam"… Chưa hết, chúng tiếp tục lợi dụng những người Khmer bức xúc về giải quyết tranh chấp đất đai, lôi kéo, xúi giục họ không chấp hành sự giải quyết của chính quyền địa phương… Gần đây, Khmer Kampuchea Krom lại tiếp tục bịa đặt về tình hình người Khmer ở Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề này, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng ngày 31/8 đã khẳng định: “Chúng tôi bác bỏ những thông tin không có cơ sở, sai sự thật về tình hình người Khmer ở Việt Nam. Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, đóng góp củng cố khối đại đoàn kết dân tộc”.
- Nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo của người Khmer.
Dân tộc Khmer là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam và được đánh giá là dân tộc sở hữu nhiều nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo. Thống kê cho thấy, dân tộc Khmer ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu người, sống tập trung ở tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long và phân bố rải rác ở một vài nơi khác. Người Khmer có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Tiếng nói của dân tộc Khmer thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Trang phục truyền thống của người dân Khmer mang những đặc trưng riêng về tạo hình và mặt thẩm mỹ. Nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm, người có tuổi mặc quần áo bà ba màu đen còn nam giới khá giả sẽ mặc bộ bà ba màu trắng, khăn rằn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai. Trong đám cưới, trang phục của chú rể là áo xà rông có màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng. Cô dâu sẽ mặc váy màu tím hoặc màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống.
Đồng bào Khmer có nhiều lễ hội đặc sắc, tiêu biểu là Tết đón năm mới và Lễ cúng trăng. Trong những dịp này, bà con thăm hỏi, chúc lẫn nhau, tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, thể thao. Ngoài ra, dân tộc Khmer còn có nền âm nhạc sân khấu truyền thống Dù kê, một sự kết hợp có nguồn gốc từ cả Ấn Độ lẫn Đông Nam Á, bao gồm các loại hình nghệ thuật như: ca, múa, âm nhạc, vũ thuật, phục trang, hóa trang, hội họa và ẩm thực. Nghệ thuật sân khấu Dù kê vừa phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí, vừa giúp người xem cảm nhận được điều hay lẽ phải, nhận thức được thiện - ác, chính - tà, định hướng cho con người. Với những giá trị đặc biệt đó, sân khấu Dù kê đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Nghệ thuật trình diễn dân gian.
Người Khmer Nam Bộ hầu hết đều theo tín ngưỡng Phật giáo, hệ phái Nam Tông. Di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer cũng chính là nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp: chùa có mái cao thẳng đứng, hoa văn họa tiết sơn vàng, hệ thống tượng Phật, thần Kabil Maha Prum, nữ thần đất, hung thần Reahu, tiên nữ, vũ nữ Apsara, người chim, vua khỉ Hanuaman.
Chùa là nơi người Khmer thực hiện nghi lễ của Phật giáo, dạy chữ Khmer, lễ hội, truyền bá kinh nghiệm sản xuất; là nơi gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là nơi tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc Khmer tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự.
Như ở tỉnh Sóc Trăng, sau vài năm hoạt động, mô hình “Sư sãi và phật tử tham gia phòng, chống tội phạm, đảm bảo ANTT” đạt được mục tiêu chung là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh tuân thủ các quy định của pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự. Đặc biệt là từ mô hình này, việc cung cấp cho lực lượng Công an những thông tin có liên quan đến tình hình an ninh trật tự tại khuôn viên chùa cũng như trên địa bàn các xã, huyện, thị xã ở tỉnh Sóc Trăng ngày càng nhanh chóng, kịp thời hơn.
Thượng tọa Trần Văn Tha – Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chánh Thư ký Hội đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn chia sẻ thêm rằng, đến nay, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước của tỉnh đã thực hiện tốt chức năng hướng dẫn đồng đào dân tộc Khmer sinh hoạt tôn giáo đúng quy định, phối hợp với các ngành chức năng tuyên truyền; vận động chức sắc, đồng bào phật tử tham gia các phong trào xã hội ở địa phương, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và cùng chung tay tham gia phòng chống tội phạm, bảo đảm ANTT. Bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước tới tôn giáo, đời sống bà con cũng đang từng bước được nâng cao nên càng tạo thêm sự tin tưởng, đoàn kết giữa các dân tộc trong tỉnh.
- Những chính sách phát triển hiệu quả.
Thực hiện nhất quán đường lối “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ”, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống chính sách đầu tư, hỗ trợ đồng bộ, ưu tiên bố trí nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer. Trong đó phải kể đến Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 14/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI và Thông báo số 67-TB/TW ngày 14/3/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X “Về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Kết luận số 57-KL/TW, ngày 03/11/2009, của Bộ Chính trị “Về công tác dân tộc”; Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về “Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long, thời kỳ 2011 - 2020” nhằm xây dựng tổng thể các chính sách ưu đãi riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm là đồng bào Khmer giai đoạn 2014 - 2020 và có Chiến lược phát triển toàn diện đối với đồng bào dân tộc Khmer đến năm 2030, định hướng đến năm 2050; Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới...
Việc thể chế hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được Chính phủ, các ban, bộ, ngành và các tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer thực hiện nghiêm túc, cụ thể, phù hợp với sự phát triển chung của cả vùng và từng địa phương. Đến nay, Chính phủ ban hành 100 văn bản thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng đang triển khai thực hiện trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có 58 chính sách chung có liên quan đến chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số và 42 chính sách riêng đối với đồng bào dân tộc thiểu số; chủ yếu là các quyết định phê duyệt các chính sách, dự án quan trọng, toàn diện đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, đối với đồng bào Khmer nói riêng.
Hòa thượng Tăng Nô - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Sóc Trăng cho biết, những năm qua, nhờ các chủ trương, chính sách hỗ trợ về mọi mặt của Đảng và Nhà nước, diện mạo vùng đồng bào dân tộc Khmer đã thay đổi, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên rõ rệt; đặc biệt là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào Khmer sinh sống và các chính sách về an sinh xã hội. Tại thời điểm trước khi Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII ban hành Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/1/2018, theo thống kê của Ủy ban Dân tộc, các chương trình, dự án triển khai ở vùng đồng bào dân tộc Khmer, đã xây dựng 90 nghìn nhà ở, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở cho 30.025 hộ; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho 18.609 lao động và 5.139 hộ.
“Bà con rất phấn khởi vì được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, vì thế luôn nỗ lực và thực hiện đúng nếp sống “tốt đời đẹp đạo”, Hòa thượng Tăng Nô nói. Trong khi đó, Thượng toạ Trần Văn Tha, Phó trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Sóc Trăng, trụ trì chùa Sê Rây Ta Mơn thì nhấn mạnh: “Cấp uỷ Đảng, chính quyền luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các cơ sở tôn giáo, chức sắc, chức việc ở thị xã hoạt động; góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá truyền thống. Đặc biệt, trong việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ Khmer, chính quyền cũng đã hỗ trợ các kinh phí về giảng dạy và giúp các sư sãi trong chùa vận động bà con xung quanh cho phép con em mình được tham gia các lớp học tiếng Khmer vào dịp hè. Những việc này đã thể hiện rõ chính sách nhất quán của Nhà nước về việc bình đẳng và đoàn kết các dân tộc Việt Nam”.
________________
Điều 5 Hiến pháp 2013 ghi rõ:
1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

 


Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

V3.

Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

 



Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế.

Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế.

Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả.

Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này./.

V3.

Phê phán, đẩy lùi thái độ thờ ơ, dao động về tư tưởng XHCN

 



Nhìn từ góc độ bản chất, niềm tin CNXH chính là niềm tin khoa học, phát triển trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, gắn bó chặt chẽ với hoạt động của những người cộng sản. Trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những người cộng sản luôn phấn đấu vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại, nhân dân lao động, vì lợi ích của giai cấp và dân tộc. Do đó, xét đến cùng, niềm tin CNXH mang bản chất giai cấp công nhân sâu sắc, là sự thống nhất và biện chứng của tri thức-niềm tin-tình cảm-ý chí-hành động. Đặc trưng cơ bản nhất của niềm tin CNXH là sự nhận thức đúng đắn các quy luật phổ biến và quy luật đặc thù trong sự phát triển của tự nhiên và xã hội. Có niềm tin về CNXH, cán bộ, đảng viên luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động với nhiều vấn đề của xã hội, trong đó có thờ ơ, dao động với tư tưởng CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây chính là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Bởi các thế lực thù địch luôn ráo riết đẩy mạnh hoạt động chống phá những nước CNXH, trong đó có Việt Nam. Chúng tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, với mục tiêu phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thành tựu sự nghiệp xây dựng CNXH của Việt Nam. Tính chất thâm độc của các thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta trong những năm gần đây là triệt để lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội với các chiêu trò “đổi trắng thay đen”, đưa các thông tin đúng-sai lẫn lộn và xây dựng các “ngọn cờ” chống phá từ bên trong, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nếu cán bộ, đảng viên thờ ơ, dao động sẽ dễ sa vào những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch.

Trước tình hình trên, việc làm rõ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là cơ sở phản bác thuyết phục, đanh thép các luận điệu sai trái, thù địch; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới theo định hướng CNXH nhằm thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Hiện nay, đa số cán bộ, đảng viên là những người có tri thức, được học tập, công tác, lao động trong điều kiện thuận lợi, do đó, cần hết sức tỉnh táo trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc về CNXH và con đường đi lên CNXH dưới những hình thức khác nhau, trên những diễn đàn khác nhau, nhất là internet và mạng xã hội. Khi thấy những thông tin trên mạng xã hội, cần tỉnh táo nhận diện nguồn tin, tránh bình luận, chia sẻ tùy tiện. Điều này vô tình tuyên truyền cho các luận điệu sai trái, thù địch. Bên cạnh đó, cán bộ, đảng viên cũng cần biết lợi dụng thế mạnh của internet, mạng xã hội để tuyên truyền, lan tỏa những thông tin tốt về tính ưu việt của CNXH, sự đúng đắn của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Đối với cán bộ, đảng viên có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị cao, cần nêu cao tinh thần đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch thông qua việc viết bài trên các sách, báo, tạp chí hay tham gia những diễn đàn báo chí, phát thanh, truyền hình, mạng xã hội... Những sản phẩm đấu tranh trực diện đó thường có tính lan tỏa mạnh mẽ đối với cán bộ, đảng viên, tác động trực tiếp đến tâm lý, tư tưởng và định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Thái độ thờ ơ, dao động của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tư tưởng XHCN là đáng phê phán và cần có những biện pháp để chấn chỉnh kịp thời, nếu không xử lý dứt điểm dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc loại bỏ thái độ thờ ơ, dao động của một số cán bộ, đảng viên về tư tưởng CNXH là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN trong tình hình hiện nay./.

V3.

“Quy luật tiến hóa của lịch sử” đang hiện diện sinh động ở Việt Nam



Điều kiện bảo đảm cách mạng thành công, xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta là trước hết phải có Đảng. Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng và xây dựng CNXH ở nước ta; Đảng phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Do đó, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến công tác xây dựng Đảng; yêu cầu Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, trí tuệ, vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng CNXH vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, đã có nhiều hội thảo bàn luận khá sôi nổi về khả năng và triển vọng của CNXH; trong đó, đáng tiếc là có một số ý kiến của cán bộ, đảng viên có biểu hiện hoài nghi về tương lai của chế độ XHCN. Vào những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, trước sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu, với bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam, Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991) chỉ rõ: Đây là “sự lựa chọn của chính lịch sử”; gắn liền với tư duy sáng tạo, hợp logic và nhất quán của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đến Đại hội XI của Đảng, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Việc xác định những đặc trưng cơ bản trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH” đã phản ánh tổng quát, toàn diện quan niệm về CNXH của Đảng ta, là sự kiên định, hiện thực hóa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH trong điều kiện mới của đất nước.
V3.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội chính trị trong Đảng

 



Từ những nghiên cứu, luận giải trên cho thấy, cơ hội chính trị bao hàm nhiều đối tượng khác nhau ở trong và ngoài Đảng nhưng đều mang điểm chung là có nhận thức và hành động đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Trong đó, những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nước ta hiện nay ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm.

Hơn 90 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, nhiều lần khẳng định trong các nghị quyết. Trong đó nhấn mạnh: “Hiện nay phải đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ Đảng, trước hết là bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự trong sạch của tổ chức đảng, cảnh giác và tỉnh táo không để cho những phần tử cơ hội về chính trị, phản động chui vào hàng ngũ Đảng”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.

Nhận diện những biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng hiện nay qua 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đối tượng đấu tranh chống biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng là những cán bộ, đảng viên hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, cơ quan đoàn thể hoặc đã nghỉ hưu được luật pháp quy định...

Biểu hiện cơ hội về chính trị trong Đảng ở nhiều cấp độ khác nhau, như: Nhóm đối tượng do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận những nguồn tin không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng; nhóm đối tượng thiếu tu dưỡng, rèn luyện, công thần, sống vụ lợi, ích kỷ; nhóm đối tượng công khai bộc lộ tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối và đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng chống đối, tập hợp lực lượng, móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài chống phá cách mạng Việt Nam, khi đó từ cơ hội về chính trị đến phản bội Đảng, Tổ quốc và nhân dân là rất gần. Biểu hiện chung nhất là phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái; không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; tham vọng chức quyền...

V3.

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

 



Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

V3.

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

 



Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.

V3.

Uy tín và vị thế không thể phủ nhận của Việt Nam

  Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, năm 2022, nền kinh tế Việt Nam đứng thứ 37 thế giới và theo nhận định của Quỹ Tiền tệ quốc tế, năm 2023, nước ta sẽ là quốc gia có quy mô kinh tế lớn thứ 35 thế giới.

Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao; khi Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có quan hệ ngoại giao với 192 nước thuộc tất cả các châu lục. Việt Nam còn đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
Đặc biệt, việc Việt Nam trong hơn 9 năm qua đã cử các đội hình đơn vị tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc còn mang ý nghĩa chính trị quan trọng, không chỉ khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, mà còn góp phần thiết thực vào việc giải quyết các vấn đề an ninh, bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 500 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đi thực hiện sứ mệnh cao cả này theo hai hình thức cá nhân và đơn vị tại Phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và Trụ sở Liên Hợp Quốc. Các lực lượng của Việt Nam đã, đang hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên Hợp Quốc cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Vui và tự hào nữa là theo xếp hạng của hãng US News & World Report - một công ty uy tín của Mỹ, về những đất nước hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, Việt Nam xếp thứ 30 với GDP đạt 363 tỷ USD, dân số vượt 98,2 triệu dân.
Vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì đà phục hồi mạnh mẽ bất chấp tình trạng bất định toàn cầu gia tăng liên quan đến xung đột giữa Nga - Ukraine, giá cả hàng hóa thế giới tăng cao và sự gián đoạn chuỗi cung ứng do đại dịch Covid-19.
Thấm thoắt 78 năm kể từ mùa thu ấy, đất nước ta đang tiếp tục vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự thống nhất, mối liên hệ mật thiết giữa mục tiêu và lợi ích của Đảng với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân làm sứ mệnh là cội nguồn sức mạnh. Công cuộc Đổi mới sáng tạo, đưa Việt Nam tiến vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" với nhiều thời cơ thuận lợi và đã giành được nhiều thành tựu, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế./.

THỰC CHẤT ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 


Thuật ngữ “phi chính trị hóa” quân đội xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Đó là một trong những nội dung quan trọng mà các thế lực thù địch nhắm vào các nước xã hội chủ nghĩa. Xu hướng đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ban đầu xuất hiện ở các nước xã hội chủ nghĩa, trước tiên là Liên Xô, Đông Âu, sau đó lan sang cả Việt Nam. Luận điệu chủ yếu mà các thế lực thù địch thường đưa ra là: “Quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị, không chịu sự lãnh đạo, chi phối của bất cứ chính đảng, lực lượng chính trị nào”, hay “Quân đội do nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”(1).

Gần đây, khi Đảng ta đưa ra chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng “quân đội hiện đại”, “quân đội nhà nghề”. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”; cho nên “cần phải tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của đảng”(2). Đây là những luận điệu rất nguy hiểm, không thể coi thường, xem nhẹ.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Thực chất, “phi chính trị hóa” Quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước ta”(3).

Sở dĩ Tổng Bí thư coi đây là “thủ đoạn cực kỳ nhan hiểm” bởi các thế lực thù địch đã thực hiện thành công âm mưu này ở Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội ở Liên Xô, các thế lực thù địch đã sớm cài cắm các phần tử phản động vào các cơ quan của Đảng Cộng sản khiến cho từ năm 1987, Liên Xô bắt đầu thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội.

Đầu tiên là việc Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội. Chỉ trong khoảng 2 năm (1987-1989), gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội, 30% tướng lĩnh bị sa thải hoặc tự ý rời bỏ hàng ngũ. Hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch, chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ”. Năm 1990, Đại hội bất thường của Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục “tự trói tay mình” với việc từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Chỉ đợi có thế, tháng 7/1991, Tổng thống Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động trong các cơ quan nhà nước. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng... Bi kịch “phi chính trị hóa” xảy ra đã khiến quân đội Xô Viết - một quân đội hùng mạnh từng đánh bại chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu dẫn đến “thảm họa chính trị” tất yếu vào năm 1991.

Trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới”, nhiều lần Tổng Bí thư nhắc lại sự kiện này như một lời cảnh tỉnh đối với chúng ta trong việc không được coi thường, xem nhẹ âm mưu “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch: “Bài học từ Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay vẫn còn nguyên giá trị với chúng ta”; hay “Bài học đắt giá về sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu cho đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị”(4). Đây chính là điểm nhấn quan trọng trong cuốn sách và đây cũng chính là quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư trong việc kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. V3.

Ý nghĩa vĩ đại của cuộc tổng khởi nghĩa 19/8

 Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chế độ mới phải giải quyết cùng một lúc muôn vàn khó khăn, thử thách, nhất là trước tình huống hiểm nghèo, thù trong giặc ngoài, vận nước ngàn cân treo sợi tóc. Di sản mục nát mà chế độ cũ để lại là 02 triệu người chết đói thê thảm, 95% dân số nước ta thất học và mù chữ, ngân khố quốc gia khô kiệt, chỉ còn hơn một triệu đồng Đông Dương, hầu hết là tiền lẻ đã rách nát không tiêu được. Hồ Chí Minh đã phát động và làm gương trước toàn quốc đồng bào về tình tương thân tương ái, giúp nhau vượt qua mọi khó khăn buổi đầu. Các phong trào: “Hũ gạo cứu quốc”, “Tuần lễ vàng” do Người phát động, gây quỹ “đảm phụ quốc phòng” do Người chủ trương, toàn dân tăng gia sản xuất, “tấc đất tấc vàng” do Người kêu gọi để nhanh chóng diệt giặc đói, diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm,… đã tác động vô cùng to lớn vào việc giải quyết thành công những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ lâm thời. Trong hoàn cảnh ấy, chỉ trong thời gian ngắn, Hiến pháp đã được soạn thảo, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội được tổ chức thành công. Quốc hội khóa I đã được triệu tập và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nguyên thủ quốc gia. Cho đến trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, 474 ngày đầu tiên, chế độ dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đạt được kỳ tích vẻ vang, để lại những bài học có giá trị và ý nghĩa to lớn trong việc phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng của Người để giữ vững nền độc lập và sự phát triển của toàn dân tộc.

Có hai sự kiện đặc biệt cần phải nhắc lại vào thời khắc khẩn trương của cuộc chiến đấu vì tự do và phẩm giá con người. Thứ nhất, tháng 10/1946, ngay khi từ Pháp trở về, nói chuyện với đồng bào đón Bác tại cảng Hải Phòng, Người bày tỏ niềm hy vọng về tương lai của dân tộc ta: “Dân tộc Việt Nam phải là một dân tộc thông thái”. Trong khi hậu quả của nền giáo dục ngu dân làm cho hầu hết dân ta mù chữ mà Người vẫn tài tình tổ chức thành công toàn thể quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội, bằng cách khẩn trương xóa nạn mù chữ để ai ai cũng biết đọc, biết viết, biết cầm lá phiếu mà lựa chọn người tài đức, xứng đáng để ủy quyền. Cũng trong hoàn cảnh, trình độ dân trí phổ thông còn thấp như vậy mà Người vẫn khát khao về “một dân tộc thông thái” thì đủ hiểu niềm tin và khát vọng phát triển của Người lớn đến mức nào. Thứ hai, giữa lúc khói lửa chiến tranh đang đến gần, thực dân Pháp ngang nhiên đe dọa và phá hoại, với tinh thần “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết”, Hồ Chí Minh đã đến Nhà hát lớn ở thủ đô Hà Nội, dự Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (ngày 24/11/1946). Tại đây, Người đã đọc bài diễn văn nổi tiếng, đi vào lịch sử dân tộc. Người nhấn mạnh, nền văn hóa mới của Việt Nam phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của dân tộc làm cơ sở; văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Nền văn hóa mới Việt Nam phải có sức tiếp thu mọi cái hay, cái tốt từ mọi nền văn hóa khác, của các nước trên thế giới để làm phong phú cho văn hóa của dân tộc mình. Nền văn hóa mới của Việt Nam phải có sức mạnh chống lại mọi thứ phù hoa, xa xỉ, lãng phí, tham ô, xây dựng một đời sống vật chất, tinh thần văn minh cho nhân dân ta. Người cũng kêu gọi các nhà văn hóa quan tâm đặc biệt tới thế hệ trẻ, thiếu niên, nhi đồng và tương lai của nước nhà.
Như vậy, để giữ vững độc lập tự do - thành quả vĩ đại của cách mạng, phải đặc biệt chú trọng xây dựng chế độ mới bằng cách phát huy vai trò, tác dụng của văn hóa. Khát vọng phát triển được nuôi dưỡng từ khát vọng giải phóng. Khát vọng phát triển lại được thực hiện bằng sức mạnh của văn hóa, bằng tiếp biến văn hóa để phát triển. Đó là trù tính sâu sa, chiến lược của Hồ Chí Minh. Đặc biệt, Người nêu rõ hạnh phúc (vật chất, tinh thần) của người dân là cơ sở, mục đích của xây dựng văn hóa. Hạnh phúc của nhân dân là mối quan tâm thường trực, suốt đời trong lẽ sống và hành động của Người.
Hạnh phúc là giá trị cao nhất và kết tinh các giá trị Độc lập và Tự do. Hạnh phúc là chỉ số quan trọng bậc nhất và thực chất của phát triển như Đảng ta đã xác định trong Văn kiện Đại hội XIII: “đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “dân tộc cường thịnh, trường tồn”. Tâm nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong Di chúc “một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”8. Tâm nguyện ấy cũng là khát vọng phát triển của Người, được ấp ủ từ ngày đi tìm đường cứu nước, từ Cách mạng Tháng Tám - cách mạng giải phóng mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện./.

QUY ĐỊNH 96 THỂ HIỆN TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc... huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(1). Do đó, công tác cán bộ luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, từ khâu phát hiện, tuyển chọn, bố trí, phân công, phân cấp quản lý cán bộ; đánh giá cán bộ, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, luân chuyển, miễn nhiệm; khen thưởng, kỷ luật; kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Những vi phạm trong công tác cán bộ của cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ và cán bộ, đảng viên rất đa dạng, phức tạp, với phạm vi, tính chất, quy mô, mức độ khác nhau ở từng cấp, từng loại hình tổ chức đảng. Xuất phát từ vị trí "then chốt của then chốt", công tác cán bộ ngày càng được coi trọng hơn, đúng mức hơn với vị trí, vai trò, có nhiều cách làm, quy định mới, hiệu quả cao hơn, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", bất kể người đó là ai; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. 

Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm là để thực hiện tốt hơn các chủ trương, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm “tự soi”, “tự sửa”, tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác để hoàn thiện bản thân, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch theo đúng Quy định số 96-QĐ/TW và Kế hoạch số 16-KH/TW của Bộ Chính trị, đồng thời là sự cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình của Đảng.

Từ khoa học lý luận đến thực tiễn cách mạng đã trải qua chứng minh học trong thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy công tác tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tự phê bình và phê bình là vấn đề có ý nghĩa then chốt trong việc xây dựng Đảng vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền, lãnh đạo xây dựng đất nước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong chiều dài lãnh đạo các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng ta luôn khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ dân chủ trong Đảng, là ý thức trách nhiệm của Đảng với Nhân dân. Thực tế đã chứng minh, ở đâu, giai đoạn nào, dù hoàn cảnh có khó khăn gian khổ đến mấy nhưng tự phê bình và phê bình được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả thì ở đó, giai đoạn đó, tổ chức đảng phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu và ngược lại ở nơi nào, thời điểm nào tự phê bình và phê bình không được tiến hành thường xuyên hoặc làm qua loa, hình thức là ở đó mất dân chủ, nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng không còn phát huy được vai trò lãnh đạo của mình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các vụ việc tiêu cực, tham nhũng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã được Đảng ta chỉ ra trong thời gian qua là do tự phê bình và phê bình trong nội bộ ít được quan tâm, tính chiến đấu trong sinh hoạt không được đề cao. Nhiều trường hợp “mũ ni che tai”, thờ ơ, thấy sai không đấu tranh, thấy đúng không bảo vệ, đùn đẩy, né tránh, ngại va chạm dẫn đến nội bộ mất đoàn kết, tổ chức đảng yếu kém không phát huy được vai trò lãnh đạo của mình.

Do đó, từ thành công của việc lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII đã cho thấy, Đảng ta luôn tuân thủ đúng nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình trong công tác cán bộ. Đây là “hòn đá thử vàng” đối với mỗi đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng; đồng thời cho thấy quyết tâm của Đảng ta trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là trong công tác cán bộ. Phát huy dân chủ chính là mục tiêu, đồng thời là động lực của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời luật pháp. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không thể tách rời việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, còn phải gắn với dân trí, với trình độ học vấn.

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng điều này không có nghĩa là sẽ dẫn đến đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trên thực tế không chỉ phụ thuộc vào kinh tế, mà còn phụ thuộc vào một loạt các yếu tố khác như tương quan so sánh lực lượng giai cấp, vị thế, vai trò của đảng cầm quyền, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, truyền thống lịch sử… Chế độ một đảng hay đa đảng không phải là dấu hiệu của dân chủ hay không dân chủ. Trước những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng từ các thế lực phản động, thù địch, chúng ta đấu tranh bác bỏ bằng những luận cứ thật sự khoa học để làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng; đồng thời, để không phụ lòng của Nhân dân đã trao trọn, gửi gắm niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch trước hết phải xuất phát từ luận điểm khách quan, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản trong tiến trình cách mạng.

Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cho thấy, những quan điểm đòi phủ nhận vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sai trái, phản động và hết sức nguy hiểm. Quy định 96 là sự kiện chứng minh và khẳng định tính đúng đắn trong việc đấu tranh bảo vệ vai trò duy nhất lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta là chính đáng, chính nghĩa và phù hợp với nguyện vọng, sự tin tưởng của Nhân dân. Quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, trách nhiệm cao, luôn hết lòng vì nước, vì dân… đã và sẽ luôn là mục tiêu, quyết tâm lãnh đạo của Đảng ta. Đó cũng chính là minh chứng thuyết phục nhất, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.

V3.