Trải qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách và đạt được những kết quả to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Những thành tựu đó là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thế mà trong bối cảnh hiện tại, các thế lực thù địch phản động luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước ta, với những phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt. Như vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng phải được tăng cường hơn nữa, với những biện pháp phù hợp trong tình hình mới, và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng cũng cần được tăng cường, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu đúng bản chất của sự việc, không bị mắc mưu kẻ địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước ta.
Thứ Hai, 11 tháng 12, 2023
ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ NỀN TẢNG TỬ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong đó, đòi hỏi công tác tuyên giáo phải thường xuyên đổi mới, luôn là lực lượng nòng cốt, là vũ khí lý luận sắc bén đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch cơ hội chính trị.
ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM “ĐI THEO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN, VIỆT NAM MỚI GIÀU CÓ VÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI HIỆN NAY”
Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi thủ đoạn chống phá quyết liệt. Đặc biệt sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung; chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được.Có rất nhiều quan điểm phê phán con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nhất là vào những thời điểm có tính quyết định về đường hướng phát triển đất nước. Trước, trong và sau Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đưa ra các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG – CON ĐƯỜNG SINH MỆNH CỦA TOÀN ĐẢNG, VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Đoàn kết, thống nhất trong Đảng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, cốt lõi, kim chỉ nam trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Trong suốt quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đoàn kết, thống nhất trong Đảng ngày càng được quan tâm, chú trọng và phát triển. Đảng luôn xác định, “đoàn kết, thống nhất trong Đảng” là con đường sinh mệnh, là vấn đề sống còn, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
NGOẠI GIAO VĂN HOÁ VIỆT - TRUNG "GÓC NHÌN NGƯỜI TRONG CUỘC"!
KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VÀ UY TÍN NGÀY CÀNG CAO CỦA VIỆT NAM!
Bị mất lợi thế về nhân công giá rẻ và chảy máu chất xám trong phát triển công nghiệp số
Các công nghệ thông minh và tự động hóa cao thay thế được nhân lực phổ thông trong nhiều lĩnh vực. Các hãng công nghệ lớn trên thế giới (như Microsoft) cũng đã bắt đầu có hoạt động sa thải nhân công và thay thế bằng ứng dụng AI.
DN Việt Nam mất lợi
thế về nhân lực giá rẻ, trong khi nhân lực chất lượng cao còn chưa được hình
thành. Sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài cũng dẫn đến nguy cơ bị thu hút mất
lao động chất lượng cao của Việt Nam vào tay các đối tác công nghệ nước ngoài, đặc
biệt là nhân lực tài năng cần thiết cho các hoạt động triển khai CMCN 4.0. Đối
với nhân lực mà sản phẩm lao động là tri thức, do phạm vi làm việc toàn cầu nhờ
môi trường kết nối mạng, các biện pháp quản lý và thúc đẩy truyền thống thông
qua sự hiện diện không còn hiệu quả.
Phụ thuộc về tài nguyên dữ liệu, công nghệ khai thác dữ liệu trong phát triển công nghiệp số
Dữ liệu là tài nguyên quan trọng nhất trong nền kinh tế số, trên đó các hoạt động sản xuất, thương mại được tập trung triển khai. Hiện dữ liệu tại các bộ ngành ở Việt Nam chưa được chia sẻ và mở theo đúng nghĩa mặc dù chúng ta đã có Luật Tiếp cận thông tin (Luật số 104/2016/QH13), Nghị định về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của các CQNN (Nghị định số 47/2020/NĐ-CP ngày 09/4/2020). Tài nguyên dữ liệu dùng chung của quốc gia chưa được hình thành, chuẩn hóa và chia sẻ. DN tư nhân chưa được tiếp cận dữ liệu của Chính phủ để phát triển các sản phẩm, dịch vụ. Việc thiếu tư liệu sản xuất đặc biệt là dữ liệu đã làm cho các DN công nghệ số gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, bởi vì các công nghệ tiên tiến như AI, phân tích dữ liệu lớn, ĐMST,… đều dựa trên khai thác dữ liệu.
Bên cạnh đó, việc dựa
vào công nghệ lõi của nước ngoài, sự tụt hậu của Việt Nam về công nghệ khai
thác dữ liệu không dễ có thể thu hẹp. Các nền tảng thuộc các quốc gia lớn
(Facebook, Tik tok…), mô hình kinh doanh mới, dịch vụ dựa trên công nghệ số
xuyên biên giới đang xâm nhập và gia tăng hoạt động tại thị trường Việt Nam. Dữ
liệu kinh tế - xã hội và đời sống của Việt Nam đang bị các DN nước ngoài khai
thác để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các DN công nghệ số nội địa. Điều này
dẫn đến các rủi ro lớn về an ninh quốc gia, an toàn thông tin, ảnh hưởng đến sự
cạnh tranh dựa trên sáng tạo và hầu như bỏ ngỏ lĩnh vực kinh doanh dựa trên dữ
liệu của DN trong nước.
Nguy cơ bị thâu tóm khi phụ thuộc về đầu tư nước ngoài trong phát triển công nghiệp số
Hơn 90% DN công nghệ số tại Việt Nam vẫn là DN vừa và nhỏ, tiềm lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển các sản phẩm, giải pháp, nền tảng công nghệ số mới còn hạn chế.
Với tiềm lực tài chính
không lớn (chưa có nhiều DN có giá trị lớn - thường được tính ở mức 01 tỷ USD),
các DN công nghệ Việt Nam có nguy cơ bị lũng đoạn, chi phối bởi các nguồn đầu
tư không bền vững, dễ bị tác động bởi yếu tố chính trị. Việc mua bán, sáp nhập
là một phần của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, khi bị phụ thuộc vào đầu tư
nước ngoài sẽ dẫn đến trường hợp DN Việt Nam rơi vào hoàn cảnh thua thiệt khi
bị thâu tóm, tác động đến sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp công
nghệ Việt Nam.
Mất cân đối do phụ thuộc vào thị trường quốc tế trong phát triển công nghiệp công nghệ số
Hiện nay đầu ra của ngành công nghiệp công nghệ số vẫn còn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Sản phẩm phần cứng, phần mềm, nội dung số, chủ yếu cho xuất khẩu. Nhưng các DN công nghệ số chưa thực sự chú trọng chiến lược phát triển chất lượng, thương hiệu sản phẩm. Đặc biệt, các vấn đề rủi ro toàn cầu (như dịch bệnh, chiến tranh thương mại) dẫn đến sự suy thoái kinh tế, phá vỡ các chuỗi sản xuất có DN công nghệ số Việt Nam tham gia, thu hẹp các thị trường xuất khẩu truyền thống, ảnh hưởng đến nguồn cung tư liệu sản xuất của DN công nghệ số Việt Nam.
Những vấn đề có tính
chất rủi ro toàn cầu không phải là vấn đề chỉ riêng đối với Việt Nam nhưng nếu
Việt Nam không tự chủ trong sản xuất, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bất ổn sẽ
trở nên trầm trọng hơn. Hoạt động xuất khẩu bị đình trệ, hoạt động sản xuất bị
ảnh hưởng. Trong khi đó do năng lực công nghệ, DN thiếu khả năng khai thác các
cơ hội kinh doanh mới xuất hiện trong bối cảnh bất ổn này. Những vấn đề phát
sinh về thị trường đầu ra dẫn đến sự cần thiết phải cân đối giữa thị trường nội
địa và thị trường quốc tế. Thị trường nội địa cần được khai thác để đảm bảo sự
ổn định trong các tình huống có sự biến động trên thị trường quốc tế như hiện
nay.
Sự cạnh tranh từ các DN công nghệ số trong khu vực ASEAN đối với phát triển công nghiệp số
Trong thời gian tới, sự cạnh tranh của các DN công nghệ từ các nước trong khu vực láng giềng là một nguy cơ đối với DN công nghệ của Việt Nam. Cạnh tranh của các DN từ các nước ASEAN không chỉ bằng nhân công giá rẻ (Myanmar) mà còn bằng sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước trong một hệ sinh thái năng động cho phát triển DN công nghệ (Singapore) hoặc sự bảo hộ thị trường của một số quốc gia.
Ngoài ra, trên thị
trường quốc tế, các quốc gia lớn cũng có các chính sách hỗ trợ, bảo vệ DN công
nghệ trong bối cảnh chiến tranh thương mại như Mỹ, Trung Quốc. Trung Quốc đã
tăng cường hỗ trợ về kinh phí cho các DN công nghệ nhằm giảm sự phụ thuộc vào
công nghệ lõi nước ngoài, đặt mục tiêu biến Trung Quốc trở thành công xưởng
công nghệ toàn cầu.
Để có thể đối mặt với
cạnh tranh của DN công nghệ nước ngoài có sự hỗ trợ của chính phủ quốc gia đó,
các DN công nghệ số Việt Nam ngoài việc chủ động giải quyết những hạn chế còn tồn
đọng như: giá trị gia tăng của sản phẩm, giải pháp, dịch vụ công nghệ số của
các DN vẫn còn ở mức thấp; thiếu năng lực sáng tạo, thiết kế và công nghệ cao,
đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ khai thác dữ liệu, AI, các dịch vụ tư vấn cao
cấp, dịch vụ tư vấn CĐS,….; năng lực ĐMST, nghiên cứu - phát triển làm chủ các
công nghệ lõi, công nghệ số mới còn ở mức hạn chế…
Các DN công nghệ cũng
rất cần sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ để có được điều kiện cạnh tranh bình
đẳng. Do đó, nhà nước cần nhanh chóng xây dựng và ban hành chính sách, tạo hành
lang pháp lý nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng hỗ trợ cho các DN
công nghệ Việt Nam phát triển.
Dân số Việt Nam là dân số trẻ sẵn sàng chấp nhận công nghệ mới
Một yếu tố thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới năng động của Việt Nam là dân số trẻ và có trình độ. Tính đến năm 2021, dân số trung bình của Việt Nam là 98,51 triệu người tăng 0,95% so với năm 2020. Chất lượng dân số được cải thiện, mức sinh giảm, tỉ lệ tử vong vẫn duy trì ở mức thấp, tuổi thọ trung bình ngày càng tăng [7]. Tuổi thọ trung bình đến năm 2020 ước đạt khoảng 73,7 tuổi, tăng so với năm 2015 (73,3 tuổi).
Theo UNFPA, Việt Nam
đang hưởng thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” và sẽ kết thúc vào năm 2040, nhóm dân
số trong độ tuổi từ 15-24 tuổi chiếm đa số đến tới 70% tổng dân số [9]. Năm
2019, Việt Nam có 55,77 triệu người đang trong độ tuổi lao động [10]. Tỉ lệ lao
động qua đào tạo được cải thiện, ước đạt 64,5% năm 2020, trong đó có bằng cấp,
chứng chỉ đạt 24,5 .
Dân số ở trong độ tuổi
lao động đang gấp đôi số người ở trong độ tuổi phụ thuộc, cung cấp một nhóm lớn
các tài năng công nghệ cao, chi phí thấp. Đây chính là cơ hội tiềm năng to lớn
cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có ngành công nghiệp công nghệ số.
Cơ hội hợp tác công nghệ cho DN Việt Nam trong cạnh tranh thương mại giữa các cường quốc:
Chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có bản chất công nghệ, quyền lực. Do đó, việc bảo vệ thị trường cho các doanh nghiệp công nghệ số không chỉ còn là vấn đề thương mại mà là lợi ích chiến lược, điều này dẫn đến khả năng các công ty đa quốc gia hợp tác công nghệ lõi để lôi kéo đồng minh. Vì vậy, cạnh tranh thương mại giữa các cường quốc tạo cơ hội hợp tác công nghệ cho DN công nghệ số Việt Nam.
Hiện đang có xu thế
hình thành sự dịch chuyển hoạt động sản xuất sản phẩm công nghệ từ một số nước
không được tin cậy, có tình trạng bất ổn, sang Việt Nam. Tính đến ngày
20/12/2021, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD,
tăng 9,2% so với năm 2020, cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng
vào môi trường đầu tư Việt Nam [6]. FDI đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu các
ngành kinh tế, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản
trị DN và góp phần đưa Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị gia
tăng toàn cầu. Như vậy, nếu nắm bắt được cơ hội này Việt Nam sẽ tăng được đầu
tư của DN FDI công nghệ quốc tế.
Với nhiều DN công nghệ
lớn vào Việt Nam, cơ hội hợp tác phát triển của các DN công nghệ Việt Nam cũng
sẽ tăng lên. Tuy nhiên, việc gia tăng số lượng DN FDI không thể là câu trả lời
hoàn chỉnh cho câu hỏi làm sao DN công nghệ số Việt Nam có thể hấp thụ được
công nghệ của các DN FDI. Đây vẫn là câu hỏi ngỏ cho các nhà hoạch định chính
sách.
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng mở ra thị trường cho sản phẩm công nghệ số Việt Nam.
Vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đang dần được nâng cao. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước, quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, góp phần định vị vững chắc hơn vị thế của Việt Nam trong mối quan hệ với các nước lớn trong bối cảnh cục diện khu vực, thế giới có nhiều biến đổi.
Việt Nam cũng là một
trong các nước tích cực tham gia vào các hoạt động phát triển khối ASEAN, cả về
chính trị và kinh tế. Hợp tác của Việt Nam mở rộng với các quốc gia, khối các
quốc gia trên thế giới như APEC, CPTPP và gần đây là EVFTA. Việt Nam đã xây
dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nền kinh tế (chiếm 59% dân số, 61%
GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 FTA, bao gồm cả các FTA thế hệ
mới, như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP),
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế
toàn diện khu vực (RCEP) [5]. Vai trò và uy tín quốc tế của Việt Nam giúp các
DN Việt Nam tiếp cận nhanh hơn thị trường khu vực và quốc tế.
Đặc sắc của Việt Nam trong thúc đẩy phát triển công nghệ mới
Hệ thống chính trị của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Đảng cầm quyền, một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, sáng suốt, gắn bó mật thiết và hành động vì lợi ích của nhân dân, từ Trung ương đến cơ sở. Do vậy, khi triển khai một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, cụ thể là phát triển công nghiệp số thì hệ thống truyền thông từ Trung ương đến cơ sở góp phần quan trọng trong nhận thức, tư tưởng và hành động. Đây là một trong những đặc sắc của Việt Nam để phát triển công nghiệp công nghệ số, đưa công nghệ số đến tận ngõ ngách cuộc sống.
Đồng thời, hiện nay để
triển khai quá trình CĐS quốc gia, đầu mối về công nghệ số đã bố trí đến tận
cấp xã hỗ trợ việc phổ biến, hướng dẫn người dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng
số phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số.
Việt Nam có tiềm năng bùng nổ thị trường ứng dụng công nghệ số nội địa
Với gần 100 triệu dân,
trong đó dân số trẻ và số người dùng di động thông minh chiếm tỷ lệ cao. Hệ thống
cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia tiếp tục được xây dựng hiện
đại và rộng khắp. Chính phủ đã đổi mới mạnh mẽ phương thức làm việc gắn với ứng
dụng công nghệ số trong xây dựng chính phủ điện tử (CPĐT), CĐS quốc gia lấy
người dân là trung tâm, tạo nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số, hình
thành Chính phủ số, xã hội số. Nguồn nhân lực công nghệ của Việt Nam có kiến
thức tốt về công nghệ. Ở Việt Nam, hàng năm có gần 50.000 sinh viên tốt nghiệp
ngành CNTT hoặc liên quan đến lĩnh vực CNTT.
Đồng thời, Việt Nam
cũng có nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao với thị trường nội địa đủ lớn và
đa dạng, có số lượng người tiêu dùng am hiểu công nghệ, kỹ thuật số và quan tâm
đến việc thử nghiệm các sản phẩm mới, có tiềm năng thu hút đầu tư vào ứng dụng
và phát triển sản phẩm công nghệ số. Việt Nam được đánh giá là môi trường an
toàn để các DN đầu tư dài hạn vào công nghệ bởi đây là quốc gia được đánh giá
có chế độ chính trị và chính sách kinh tế vĩ mô ổn định, điều này đã tạo niềm
tin cho các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút vốn đầu tư để phát triển DN công
nghệ số Việt Nam.
Với quyết tâm định
hướng chính sách phát triển công nghệ số, Việt Nam đã tích cực đầu tư vào lĩnh
vực công nghệ số dưới nhiều hình thức. Chính phủ đã ban hành các chính sách về
cách CMCN 4.0, về phát triển DN công nghệ số, coi công nghệ là nhân tố chính để
phát triển kinh tế: Đề án CĐS quốc gia hướng đến một không gian phát triển mới
- kinh tế số, xã hội số, CPĐT, mở ra cơ hội to lớn cho Việt Nam phát triển đột
phá. Các Đề án kinh tế chia sẻ, Nghị định về hỗ trợ DN vừa và nhỏ, khởi nghiệp
sáng tạo đã tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho DN công nghệ khởi nghiệp [3].
Hiện Việt Nam đã có
trên 64.000 DN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số (công nghiệp
phần cứng, điện tử; công nghiệp phần mềm; công nghiệp nội dung số; dịch vụ
CNTT) [4]. Cộng đồng cũng đã hình thành được một số DN đầu tàu, có chiến lược
phát triển phù hợp với CMCN 4.0 như VNPT với Chiến lược VNPT 4.0, Viettel có
chiến lược xác định phải đi đầu trong cuộc cách mạng 4.0 với vai trò dẫn dắt và
lan tỏa cả về công nghệ, dịch vụ, mô hình kinh doanh, nghiên cứu sản xuất, sản
phẩm. Đặc tính của các DN trong lĩnh vực công nghệ cao là khả năng phát triển
sản phẩm nhanh. Đặc tính này đã được phát huy trong giai đoạn của đại dịch
COVID-19, nhiều sản phẩm công nghệ số như khai báo, theo dõi, đánh giá tụ tập
đông người và phạm vi di chuyển, học và làm việc từ xa đã được triển khai trong
thời gian ngắn giúp giảm bớt sự lây lan của dịch bệnh, sớm đưa nền kinh tế vào
trạng thái hồi phục phát triển. Tuy nhiên, để có thể khai thác được hết tiềm
năng của thị trường nội địa, các quy định đối với các công nghệ mới nổi cần sớm
được thiết lập để sự sáng tạo của DN công nghệ số trong việc phát triển các
giải pháp mới được đưa vào cuộc sống một cách thuận lợi.
Luật thúc đẩy phát triển công nghệ số
Nhằm đáp ứng CMCN 4.0, CĐS và sự phát triển của thực tiễn, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) mới đây đã lấy ý kiến đóng góp về Luật Viễn thông sửa đổi và đề nghị xây dựng Luật công nghiệp công nghệ số (CN-CNS).
Chính sách trong Luật CN-CNS được đề xuất gồm 2 nhóm chính sách: nhóm chính sách 1, gồm: hoạt động CN-CNS, sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) công nghệ số; thử nghiệm SP&DV công nghệ số (sandbox), quản lý sản phẩm AI, quản lý SP&DV công nghệ số trọng yếu; nhóm chính sách 2, gồm: bảo đảm phát triển CN-CNS (thị trường; khu CNTT; vốn, đầu tư, ưu đãi CN-CNS; nhân lực); sản phẩm CNS trong nước (Make in Vietnam); dữ liệu số; trung tâm tính toán hiệu năng cao; thâm nhập thị trường nhà nước và kinh doanh xuyên biên giới
Công nghệ số - “mỏ vàng” tiềm năng
Theo kế hoạch phát triển, ngành công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
Tổng
doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin năm 2020 đạt 123,5 tỷ USD. Tốc độ
tăng trưởng ngành công nghiệp công nghệ thông tin 5 năm qua đạt bình quân
15,2%/năm, cao hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP, trở thành một trong những
ngành kinh tế tăng trưởng nhanh, quy mô lớn nhất cả nước.
Ngành
công nghiệp công nghệ thông tin vẫn còn dư địa phát triển mạnh mẽ nhưng thực tế
cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển ngành vẫn là bài toán bỏ ngỏ. Thực tế,
Luật Công nghệ thông tin (CNTT), Nghị định số 71/2007/NĐ-CP và các văn bản liên
quan đã tạo hành lang pháp lý phát triển ngành công nghiệp công nghệ số (CNS)
nhưng đến nay vẫn còn nhiều bất cập, quy định chồng chéo.
Cụ
thể, Nghị định số 73/2019/NĐ-CP quy định “phải ưu tiên” đầu tư, mua sắm sản
phẩm, dịch vụ CNTT trong nước nhưng chưa có cơ chế mang tính bắt buộc. Vì vậy,
nhiều sản phẩm, dịch vụ CNTT trong nước có thể thay thế sản phẩm nhập ngoại với
giá thành cạnh tranh, bảo mật cao vẫn chưa được các cơ quan nhà nước lựa chọn.
Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2023
SỰ RA ĐỜI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM - CỘT MỐC ĐÁNH DẤU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX




