Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

MỘT TRÁI TIM TRÀN ĐẦY NHIỆT HUYẾT CÁCH MẠNG!

         Trước khi được gặp anh Nguyễn Chí Thanh năm 1950, tôi đã nghe nhiều cán bộ ca ngợi tinh thần kiên quyết, dũng cảm và tài lãnh đạo của anh. Họ nói anh là linh hồn của cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ mà anh dũng của quân và dân Bình Trị Thiên những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau này anh ra Bắc, làm Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, là thủ trưởng trực tiếp của anh Lê Quang Đạo-chồng tôi, thì những gì tôi biết và chứng kiến càng khẳng định nhận định đó là đúng.
 
Nhiệt huyết cách mạng và tư thế sẵn sàng xốc tới

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, tôi vẫn giữ những ấn tượng sâu sắc, kỷ niệm tốt đẹp về anh Thanh, một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Quân đội. Khi còn sống, anh Lê Quang Đạo cũng nhiều lần kể với tôi về anh Thanh với sự tin tưởng và khâm phục. Anh Đạo khẳng định, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh có công rất lớn trong việc xây dựng chế độ, nền nếp công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Quân đội. Anh Thanh rất quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ Quân đội cách mạng, chính quy, mạnh dạn đề bạt cán bộ công, nông, đồng thời coi trọng trí thức cách mạng.

Anh đã cùng các đồng chí trong Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) kết hợp chặt chẽ 3 mặt quân sự-chính trị-hậu cần, không ngừng kiện toàn tổ chức và nâng cao sức chiến đấu của Quân đội, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết quân dân; phát triển công tác bảo vệ chính trị nội bộ; phát triển công tác binh, địch vận... Không một công tác nào mà anh không có ý kiến chỉ đạo sắc sảo, vững chắc và uốn nắn những lệch lạc, sai lầm. Nhiều ý kiến của anh rất có sức thuyết phục. Anh thường nhắc nhở các đồng chí trong cơ quan Tổng cục Chính trị: Quân đội phải chính quy hóa, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành điều lệnh, nâng cao kỷ luật nhưng không hạn chế dân chủ. Anh đã có những đóng góp rất quan trọng đưa Quân đội ta trưởng thành, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tôi nhớ, khi tham gia biên soạn Bản tổng kết công tác chính trị trong kháng chiến chống thực dân Pháp do anh Thanh chủ trì, anh Đạo không ít lần được anh gọi gặp riêng thảo luận. Nhiều hôm quá nửa đêm vẫn chưa thấy chồng về tôi cũng sốt ruột. Có vài lần tôi đi họp cùng đoàn cán bộ hội phụ nữ, tranh thủ ghé thăm anh Đạo thì thấy anh cùng mấy đồng chí đang trò chuyện, có anh Thanh ở đó cũng mời tôi ngồi lại. Quan sát tôi thấy anh có tác phong rất quần chúng, gần gũi, quý trọng anh em, rất dân chủ, rất sâu sát, lắng nghe ý kiến mọi người, từ đó rút ra được nhiều ý kiến hay.

Anh Đạo nói với tôi: “Tuệ (tên gọi khác của nhà văn Nguyệt Tú-PV) biết không, đối với anh Nguyễn Chí Thanh tha hồ tranh luận, nhưng anh cũng kiên quyết giữ ý kiến và kiên trì thuyết phục mọi người những vấn đề anh thấy là đúng. Anh có ý kiến độc lập về những vấn đề lớn, nhưng khi ý kiến còn chưa thống nhất, anh biết chờ đợi để giữ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Làm việc với anh Thanh, mình và anh em đều thấy thoải mái, chan hòa, thân tình, tin cậy, dù có khi còn có ý kiến khác nhau. Nếu vấn đề đã được tập thể kết luận, nhất là những vấn đề đã có nghị quyết của Trung ương Đảng, của tập thể Tổng Quân ủy, anh chấp hành và đôn đốc việc thực hiện rất nghiêm túc, triệt để.

Nhưng khi phát hiện sai lầm, anh cũng thẳng thắn nêu ra trước tổ chức. Đức tính nổi bật nhất của anh Thanh là tinh thần cách mạng tiến công. Bất cứ ở đâu, bất cứ nhận nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nguy hiểm, phức tạp đến đâu, anh cũng không bao giờ lùi bước mà tìm mọi cách làm cho bằng được. Trong trái tim anh lúc nào cũng tràn đầy ngọn lửa nhiệt huyết cách mạng, với tư thế luôn luôn sẵn sàng xốc tới, rõ nhất là khi đánh Mỹ. Mình phải học anh ấy nhiều lắm, Tuệ ạ!”.

Tôi thấy nhận định của anh Đạo về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rất đúng và thực tế đã chứng minh điều đó. Khi được phân công vào miền Nam công tác, với tầm nhìn chiến lược, anh Nguyễn Chí Thanh cùng các đồng chí lãnh đạo trong đó chuẩn bị và tiến hành đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Anh cùng anh em xây dựng quyết tâm đánh thắng Mỹ ngay từ trận đầu. Anh xuống tận các đơn vị chiến đấu, cùng cán bộ, chiến sĩ rút kinh nghiệm tìm cách đánh thắng Mỹ.
Anh nêu ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Bám thắt lưng địch mà đánh”; “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” và cổ vũ phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ” được quân dân miền Nam hưởng ứng nhiệt liệt. Cũng là một người viết chuyên nghiệp, nhưng khi đọc những bài viết nảy lửa của anh trên Báo Nhân Dân và Báo Quân đội nhân dân với bút danh Trường Sơn, Bến Tre... tôi thấy bản thân còn phải nỗ lực học hỏi, trải nghiệm thực tế nhiều hơn nữa.

Sáng trong như ngọc

Qua những câu chuyện cuộc sống và chiến đấu mà tôi được biết, anh Nguyễn Chí Thanh là một tài năng lớn nhưng rất khiêm tốn. Trong tâm sự với những người thân thiết cũng như trong hành động thực tế, anh không bao giờ để các vấn đề địa vị, cấp bậc, chức vụ, danh vọng cá nhân làm vẩn đục tâm hồn trong sáng và cao thượng của mình. Có câu chuyện làm cho gia đình tôi xúc động, ghi nhớ mãi. Ấy là năm 1953, ở căn cứ Việt Bắc, một lần vợ chồng tôi đều đi công tác xa, hai con trai của chúng tôi còn rất nhỏ, gửi ở cơ quan, không may bị ốm nặng cận kề cái chết.

Ngay khi biết tin, anh Thanh đã trực tiếp chỉ thị phải bằng mọi cách cứu được hai cháu và thường xuyên đôn đốc kiểm tra. Thi hành chỉ thị của anh, các thầy thuốc ngày đêm tận tụy cứu chữa giúp hai cháu tai qua nạn khỏi. Tôi được biết có nhiều trường hợp cán bộ khác, anh cũng chăm lo chu đáo như vậy. Anh còn rất thích ghép đôi, làm “ông tơ” cho nhiều cặp và hầu hết họ đều sống vui vẻ, hạnh phúc. Tôi không quên đám cưới của anh Phạm Đức Nhuận và chị Võ Thị Thể do anh xe duyên, diễn ra tại nhà anh và đích thân anh làm chủ hôn, vui vẻ, đầm ấm biết bao!
 
Anh sống rất giản dị, không ưa những nghi thức long trọng. Tôi nhớ sau khi miền Bắc giải phóng, anh Thanh được bố trí ở trong một biệt thự cạnh Hồ Tây. Một hôm, anh Lê Tự Đồng (sau này là Trung tướng, Phó giám đốc về Chính trị Học viện Quân sự cấp cao-nay là Học viện Quốc phòng) đến thăm, anh Thanh liền rủ cùng đạp xe đi dạo cho thư thái. Trước khi đi, anh nói nhỏ: “Đi nhanh không thằng Chắt (bảo vệ của anh Thanh - PV) nó biết. Tao phải trốn nó đấy!”.

Ấy vậy mà khi hai người vừa dựng xe, ngồi xuống quán nước ở vườn hoa cạnh hồ Hoàn Kiếm chưa lâu đã thấy anh Chắt hốt hoảng chạy đến: “Anh đi đâu sao không báo cho tôi biết?”. Trước câu hỏi có phần hơi gắt của cấp dưới, anh Thanh vẫn nhỏ nhẹ bảo: “Thì bọn mình đi thay đổi không khí tí thôi mà!”. “Thôi mời anh về!”-vừa nói vừa thở, trên mặt anh bảo vệ Chắt vẫn chưa hoàn hồn. Còn anh Thanh và anh Đồng không nói gì thêm, lẳng lặng đứng dậy lấy xe đạp để đi về dưới sự “áp tải” của anh Chắt...

Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra làm Trưởng ban Nông nghiệp Trung ương, tôi là phóng viên của Báo Phụ nữ Việt Nam theo dõi lĩnh vực này. Một lần anh đến một hợp tác xã ở vùng công giáo, có đội kèn đồng của nhà thờ thổi kèn đón. Bị bất ngờ, anh bảo đồng chí chủ tịch ủy ban hành chính (nay là ủy ban nhân dân) tỉnh ra nhận sự chào đón ấy, còn anh lặng lẽ vào sau. Anh theo gương Bác Hồ, không cầu kỳ, hình thức. Anh luôn luôn coi trọng giữ gìn đoàn kết nội bộ như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Anh không chỉ quan tâm đến các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế mà còn rất yêu văn học, nghệ thuật.
Nhiều lần tôi được nghe anh bình văn, bình thơ, đặc biệt, anh rất say mê các làn điệu dân ca, hò Huế. Có mấy lần anh Đạo tháp tùng anh đi công tác ở Quảng Bình, cùng anh đến dự nghe đồng bào Huế, Thừa Thiên tản cư ra đó hát hò, tự anh Thanh cũng say sưa cùng hò đến tận đêm khuya. Đến nhà anh chơi, biết có bọn trẻ đi cùng, anh đã vào bếp tự tay làm món cơm hến của xứ Huế mà anh rất thích. Bữa cơm đặc biệt ấy đến giờ tôi vẫn nhớ mãi!

Tôi cũng không thể quên được cái đêm vĩnh biệt anh. Ngay khi biết tin, từ nhà, anh Lê Quang Đạo đến thẳng bệnh viện còn tôi ở bên chị Cúc. Đêm 5-7-1967, trời Hà Nội oi bức. Vì sớm hôm sau sẽ lên đường trở lại miền Nam nên trước đó, anh Thanh làm việc với anh Song Hào và anh Đạo đến tối muộn mới nghỉ. Chị Cúc thấy anh Thanh trằn trọc không ngủ được cũng tỉnh giấc. Anh bảo thấy khó chịu, cảm giác như có nước chảy ào ào trong người và kêu chị gọi xe đưa anh đi bệnh viện. Nhưng bệnh tình nguy kịch, dù được các bác sĩ hết sức tích cực cấp cứu, anh đã không thể qua khỏi. Anh ra đi quá sớm trong lúc tài năng đang nở rộ và Tổ quốc đang rất cần có anh!

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG "CÓ CHỦ TRƯƠNG, ĐỐI SÁCH XỬ LÝ THẮNG LỢI CÁC TÌNH HUỐNG, KHÔNG ĐỂ BỊ ĐỘNG, BẤT NGỜ!

     Sáng 18-12, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 24-NQ/TW về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam; Kết luận số 31-KL/TW về Chiến lược Quân sự Việt Nam; Nghị quyết số 29-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 33-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí: Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban đối ngoại Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Lương Tam Quang, Thứ trưởng Bộ Công an...

Cùng dự có lãnh đạo một số ban, bộ, ngành Trung ương; các đồng chí thủ trưởng Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Báo cáo trung tâm và các ý kiến tham luận tại hội nghị đã tập trung đánh giá khái quát, nhấn mạnh những thành công, kết quả, ưu điểm tiêu biểu, bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược quân sự, quốc phòng trong 5 năm qua; đề xuất chủ trương, biện pháp trọng tâm tiếp tục thực hiện các nghị quyết, kết luận trong thời gian tới.

Phát biểu kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh: Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm túc các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương về chiến lược quân sự, quốc phòng; nhận thức về đối tác, đối tượng, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc ngày càng sâu sắc hơn.

Chủ động nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống trên không, trên biển, biên giới nội địa và trên không gian mạng. Tích cực tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, giúp dân khắc phục hậu quả (Chỉ tính riêng năm 2023, đã điều động gần 80.000 lượt bộ đội và dân quân tự vệ, với gần 3.000 phương tiện giúp dân khắc phục hậu quả thiên tai).

Tham mưu với Bộ Chính trị tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc; đây là cơ sở quan trọng để Trung ương ban hành Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành các chiến lược, nghị quyết, các luật quan trọng về quân sự, quốc phòng.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động hiệu quả các nguồn lực xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ.

Chỉ đạo quyết liệt, triển khai bài bản, chắc chắn việc tổ chức lực lượng, xây dựng Quân đội theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức QĐND giai đoạn 2021-2030 và những năm tiếp theo (quyết liệt chỉ đạo thực hiện giảm 10% biên chế quân số cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo). Chỉ đạo nghiêm túc việc nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, hội thao, hội thi ở tất cả các cấp; tổ chức hệ thống nhà trường Quân đội theo hướng tinh, gọn, chuẩn hóa, hiện đại hóa, bảo đảm nội dung đào tạo cơ bản, toàn diện, hệ thống, thiết thực.

Bên cạnh đó, triển khai đồng bộ các giải pháp xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền không gian mạng quốc gia. Chỉ đạo các lực lượng chức năng quản lý, bảo vệ biên giới thực hiện nghiêm nhiệm vụ bảo vệ biên giới trên bộ, trên biển; chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm, buôn lậu, gian lận thương mại trên các tuyến biên giới; tăng cường tuần tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động trên biển; tuyên truyền, ngăn chặn tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài, bảo đảm an toàn các hoạt động kinh tế biển.

Công tác hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng có nhiều đổi mới, sáng tạo, đi vào chiều sâu, cả trên bình diện song phương và đa phương; chủ động tham gia các diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương; góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước, Quân đội trên trường quốc tế.

Dự báo, phân tích đặc điểm, tình hình thế giới, khu vực, trong nước thời gian tới, đồng chí Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân tập trung quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tiếp tục triển khai có hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án đã ban hành. Chủ động nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ.  

Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; chỉ đạo thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng trong tình hình mới, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tiếp tục thực hiện việc điều chỉnh tổ chức Quân đội theo đúng lộ trình đã xác định; thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; tiếp tục thực hiện tốt công tác hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng.

Tập trung xây dựng, củng cố cơ sở chính trị vững mạnh, tạo nền tảng vững chắc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân ở khu vực biên giới. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Triển khai thực hiện hiệu quả kết luận của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng; nâng cao chất lượng hợp tác quốc phòng song phương, đa phương; tham gia tích cực, có trách nhiệm các hoạt động quốc phòng, diễn đàn đa phương, hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, xử lý chất độc hóa học; phối hợp với quân đội các nước trong ứng phó các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống…


Yêu nước ST.

PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Chiều 18/12, tại Hà Nội, Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận về bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và vấn đề phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới”.


Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương chủ trì hội thảo; cùng sự tham dự của đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và Ban dân vận các Tỉnh ủy, Thành ủy khu vực phía bắc.


Hơn 20 tham luận, ý kiến gửi đến, trình bày tại hội thảo đã tập trung thảo luận, làm rõ những giá trị tư tưởng, lý luận của bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và quan điểm của Đảng ta về phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.


Nhiều ý kiến nêu bật sự cần thiết hệ thống hóa, bổ sung những vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm trong vận dụng có hiệu quả bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” về phát huy vai trò của các giai tầng xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước. Cùng với đó, làm rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lực tự cường trong việc phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc...


Phát biểu kết luận tại hội thảo, đồng chí Bùi Thị Minh Hoài khẳng định những ý kiến, tham luận được đúc rút từ thực tiễn công tác của các đại biểu hôm nay đã nêu bật và nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.


Đồng chí cho rằng, những vấn đề lý luận mới và kinh nghiệm của các địa phương về phát huy có hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng là những đóng góp quý giúp Ban Dân vận Trung ương, Ban Chủ nhiệm đề tài khoa học có thêm chất liệu quý để nghiên cứu kỹ lưỡng, hoàn thiện đề tài khoa học quan trọng này./. 

⭐️🇻🇳⭐️LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 19/12.🇻🇳

 ⭐️🇻🇳⭐️LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 19/12.🇻🇳

"… Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.


Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ …"[49].


Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ta, ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuối năm 1946, sau những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp bị thất bại; quan hệ Việt - Pháp ngày càng căng thẳng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh. Với dã tâm thống trị Việt Nam của thực dân Pháp, từ ngày 16 đến 18/12/1946, tại nhiều nơi trên đất nước ta, quân đội thực dân Pháp đã gây ra nhiều vụ tàn sát đối với đồng bào ta; gửi hậu thư đòi yêu sách… và đe dọa hành động chiến tranh. Trước tình hình đó, Ngày 18 và 19/12/1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.


Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố vào tối ngày 19/12/1946, trong bối cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với ý chí quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" của cả dân tộc đã giúp cho Đảng, Chính phủ vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công.


Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến viết cách đây hơn 70 năm được xem là một lời hịch của non sông - lời hiệu triệu lịch sử, là một văn kiện có tính chất cương lĩnh chính trị, quân sự có giá trị thời đại sâu sắc. Trong tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tiếp tục nêu cao tinh thần giác ngộ cách mạng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với Quân đội ta, để thực sự là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"; tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, ứng phó thắng lợi với mọi tình huống; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.🇻🇳



CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN – TIỀN THÂN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

             Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Dưới tài chỉ huy thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đội đã giành chiến thắng giòn giã trong hai Trận đánh đầu tiên tại đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần mở ra truyền thống vẻ vang đánh “trăm trận trăm thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

        Ngày 22-12-1944, thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đã chủ trì buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tại Khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Trước ngày thành lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị: "Trong 1 tháng phải có hoạt động, gây tin tưởng cho các chiến sĩ và gây truyền thống hành động tích cực, nhanh chóng cho bộ đội" và đặc biệt “trận đầu ra quân phải đánh thắng”.
           Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng Ban chỉ huy của đội đã bàn bạc và cân nhắc kỹ các phương án, quyết định chọn đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần là điểm ra quân đầu tiên. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình địch và địa hình tác chiến, Đội đã dùng kế trá hình thành quân địch, kết hợp với nhân dân địa phương đầy mưu trí và táo bạo.

 Sử dụng chiến thuật “tiến công bằng lối hoá trang kỳ tập” (tập kích), Đội đã mở đầu một cách xuất sắc trang sử chiến thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Hoá trang kỳ tập là lối đánh tốn ít súng đạn, thương vong thấp song hiệu quả chiến đấu cao. Hai trận đánh đầu tiên, ngoài việc tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch trong đồn, Đội còn thu được nhiều vũ khí, quân trang. Quan trọng nhất là Đội giành thắng lợi theo đúng Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh "trận đầu ra quân phải đánh thắng".

        Chiều tối ngày 25-12-1944 theo kế hoạch, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn, Đội cải trang thành lính dõng, chia làm hai tiểu đội tiến vào làng Phai Khắt. Đồng chí Thu Sơn (Nguyễn Văn Càng - Tiểu đội trưởng) mặc đồ Kaki đóng giả đội xếp cầm khẩu tiểu liên Mỹ đi đầu cùng hai đồng chí Bế Văn Sắt và Thịnh Nguyên đóng giả làm lĩnh khố xanh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp mặc bộ Kaki đóng giả cai đội. Toán lính dõng do các chiến sĩ cải trang đi từ phía châu Nguyên Bình tiến vào bản (thuộc xã Tam Lộng, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Cả đội chia làm hai cánh quân tiến vào đồn Phai Khắt. Đến bốt gác, đồng chí Thu Sơn chìa tờ giấy có đóng dấu đỏ cho tên lính gác (giấy này là do đồng chí Võ Nguyên Giáp khi đi công tác qua cơ quan in báo Việt Nam Độc lập tại Lam Sơn - Hòa An đã mượn máy đánh chữ, đánh tờ “Giấy đi tuần” giả, rồi dùng dấu giả đóng vào). Tên lính gác chưa kịp xem thì đồng chí Thu Sơn đã tiến thẳng vào trong đồn. Tiểu đội một theo sau nhanh chóng tiếp cận khu để súng, Tiểu đội hai cũng lập tức tiến vào trong đồn triển khai bao vây, tuyên bố là quân cách mạnh đến chiếm đồn, ai chống cự sẽ bị trừng trị, tất cả số lính có mặt đều phải nghe theo. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, chỉ trong vòng 30 phút, ta đã thu được 17 khẩu súng, một ít đạn, diệt tên đồn trưởng, bắt 17 tên địch.
        Trong tâm thế hân hoan chiếm được đồn Phai Khắt, ngay sáng sớm hôm sau, đúng  7h00 ngày 26-12-1944, ta quyết định đánh đồn Nà Ngần thuộc xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Toàn Đội cải trang thành một toán lính dõng, lính khố đỏ đang dẫn giải ba “Cộng sản Mán” bị bắt đến giao nộp cho quan đồn. Lực lượng đánh đồn Nà Ngần là toàn bộ đội viên đã tham gia đánh đồn Phai Khắt được tăng cường thêm một số ít súng đạn. Đồng chí Thu Sơn cùng Tiểu đội xung phong dẫn ba cộng sản bị trói đến nộp cho quan đồn cùng với lá cờ tam tài (Đội thu được trong trận đánh đồn Phai Khắt). Bọn lính tưởng thật vội bố trí 6 lính và ra xếp hàng đón theo nghi thức nhà binh. Sau khi cả Đội tiến vào đồn, theo kế hoạch đã phân công, bốn chiến sĩ tiến tới gian giữa án ngữ giá để súng. Đồng chí Thu Sơn và Bế Văn Sắt nói chuyện với tên Đường để đánh lạc hướng. Trong lúc đó, Tiểu đội 2 chặn các cửa đồn, sau đó chia thành từng tổ vây bắt tù binh. Tiểu đội 3 vừa bắn chỉ thiên và hô to: "Chúng tôi là quân cách mạng đến lấy súng của Tây, tất cả giơ tay lên, không sẽ bị bắn" quân lính trong đồn hoang mang giơ tay đầu hàng.

Trận đánh diễn ra trong vòng 15 phút, ta tiêu diệt 5 tên địch, bắt sống 17 tên, kể cả Lý Phó Pảo và bọn binh lĩnh tháo chạy, thu 27 súng, khá nhiều đạn dược và một thanh kiếm. Sau khi thắng trận, toàn Đội nhanh chóng thu gom súng đạn, tài liệu và phát truyền đơn cho nhân dân tuyên truyền và thả số lính khố đỏ về địa phương.

        Trận Phai Khắt và Nà Ngần (diễn ra trong hai ngày 25 và 26-12-1944) là hai trận đánh đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với hai chiến thắng này cho thấy đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy đã đưa ra kế hoạch tác chiến hợp lý thể hiện tầm nhìn, tư duy quân sự sáng tạo, phù hợp với khả lực lượng và trình độ tác chiến của ta.

      Hai trận đánh đã mở đầu cho truyền thống lịch sử hào hùng “trăm trận trăm thắng” của Quân đội ta. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần tuy quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa lịch sử hết sức quan trọng. Đây là chiến thắng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam dưới sự tổ chức, chỉ đạo của Đảng và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần gây tiếng vang mạnh mẽ, làm nức lòng nhân dân, mở ra một thời kỳ phát triển mới của cuộc đấu tranh vũ trang của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1945 - 19/12/2023).


Nước nhà được độc lập chưa được bao lâu thì vào ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, rồi từng bước mở rộng đánh chiếm Nam Bộ, Nam Trung Bộ.

Vừa chỉ đạo quân dân miền Nam chiến đấu chống quân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán, nhân nhượng để tìm kiếm giải pháp hòa bình. Nhưng mọi cố gắng của ta đều bị thực dân Pháp khước từ. 

Với trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược. 

Ngày 12/12/1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn quốc kháng chiến.

Và ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, Lời kêu gọi của Người đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc và vẫn khắc sâu trong tâm khảm mỗi người Việt Nam hôm nay để lại những bài bài học sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân- tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam

           Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22/12/1944 theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

           Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước. Phát xít Đức ráo riết chuẩn bị xâm lược Liên Xô. Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc và tiến công xuống phía Nam.

            Ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật nhảy vào Đông Dương. Pháp đầu hàng và câu kết với Nhật, áp bức bóc lột nhân dân. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương bị hai tầng áp bức của Pháp - Nhật, phải chịu cảnh "một cổ hai tròng". Mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dương với Pháp - Nhật trở nên sâu sắc và lên cao hơn hơn bao giờ hết. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương ngày càng cách mạng hóa. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kì và cuộc binh biến Đô Lương.

            Trong tình hình cách mạng Việt Nam đang cấp bách, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.

            Từ ngày 10 đến 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Pác Bó (Cao Bằng) để hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Đông Dương trong bối cảnh mới. Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc xác định: “Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang...” (2) và chỉ rõ để có “một lực lượng vũ trang toàn quốc” cần phải“có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc”(2).

             Quán triệt tư tưởng quân sự Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã tiến hành đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang, tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi.

            Trên cơ sở quân du kích hình thành trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Đảng quyết định thành lập Đội du kích Bắc Sơn (2-1941). Đội du kích Bắc Sơn đã qua rèn luyện, thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng, Đảng tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh tổ chức và đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân I (sau Hội nghị Trung ương 8), sau đó lần lượt tổ chức Trung đội Cứu quốc quân II (9-1941) và Trung đội Cứu quốc quân III (2-1944). Trên cơ sở Cứu quốc quân và các đội du kích, tự vệ chiến đấu phát triển ở các chiến khu Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương thành lập Đội quân giải phóng để “tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng” (3).      

            Thực hiện Chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, vào lúc 17 giờ ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại tại núi Dền Sinh dãy Khau Giáng thuộc xã Tam Kim và Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ðồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Đoàn thể đọc tuyên bố thành lập đội và nêu rõ nhiệm vụ của đội đối với Tổ quốc: “Các đồng chí! Ngày hôm nay, 22 tháng 12 năm 1944, theo mệnh lệnh của Ðoàn thể, chúng ta tập trung ở chốn rừng xanh núi đỏ này, giữa tổng Trần Hưng Ðạo và tổng Hoàng Hoa Thám trong liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng, để khai hội thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân... Quân giải phóng là một đội quân rất trọng kỷ luật, tuyệt đối phục tùng thượng lệnh, là một đội quân giàu tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Kinh nghiệm của chúng ta còn non, nhưng có làm mới có kinh nghiệm và làm tất nhiên sẽ có kinh nghiệm. Chúng ta tin tưởng ở thắng lợi... Theo chỉ thị của đoàn thể, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, tôi xin tuyên bố: Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập và hạ lệnh cho các đồng chí tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu...” (3).

            Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, toàn đội đã long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự, quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng, kiên quyết tiêu diệt quân thù cướp nước, hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý thức tổ chức, kỷ luật cao của một đội quân cách mạng. Mười lời thề của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã trở thành lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.

Buổi lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

 

            Khi mới ra đời, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 3 tiểu đội do ông Hoàng Sâm làm Đội trưởng và ông Xích Thắng làm Chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo. Trong đó có 4 người dân tộc Kinh, 20 người là dân tộc Tày, 8 người là dân tộc Nùng, 1 người dân tộc Mông, 1 người dân tộc Dao Tiền, có 28 người quê ở Cao Bằng, 2 người quê ở Quảng Bình, 1 người quê ở Lạng Sơn, 2 người quê ở Thái Nguyên, 1 người quê ở Thái Bình. 34 đội viên là những đồng chí trung kiên nhất của các đội vũ trang Cao - Bắc - Lạng, một số trong đội quân Nam tiến; một số trong Cứu quốc quân, có người đã đi học quân sự ở nước ngoài về. Vũ khí trang bị cho Đội có 2 súng thất cửu, 17 súng trường, 14 súng kíp. Hai ngày trước lễ thành lập có một số vũ khí gồm 1 súng tiểu liên do Mỹ sản xuất, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp nổ do ông bà Tống Minh Phương và anh em Việt kiều ở Côn Minh gửi tặng. Đội có 500 đồng chi phí quân nhu.

            Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ làm nhiệm vụ chiến đấu, mà còn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, quần chúng nhân dân giác ngộ, đi theo cách mạng. Khẳng định điều này, tại buổi lễ thành lập, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh “Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là nhiệm vụ quan trọng và nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời. Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này” (4).

            Sau khi ra đời một thời gian ngắn, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phay Khắt (24/12/1944) và Nà Ngần (25/12/1944). Đây là hai trận đánh mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu” của quân đội ta.

            Cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không ngừng phát triển, trở thành đội quân vững vàng về chính trị, tài giỏi về quân sự, chiến đấu và chiến thắng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược và là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975 đến nay.

            Như vậy, sự ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22/12/1944 là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, một bước ngoặt lịch sử trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc Việt Nam. Nó đánh dấu sự phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Tuy số lượng đội viên ít, vũ khí thô sơ, thiếu thốn nhưng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân xứng đáng là “một đoàn quân gang thép, rắn chắc không sức mạnh nào khuất phục nổi, sẵn sàng quật nát kẻ thù”.                                                           

SỐNG "TỐT ĐỜI ĐẸP ĐẠO", ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC


Phát huy truyền thống sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng bào Công giáo trên cả nước ngày càng khẳng định là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn đồng hành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một mùa Giáng sinh nữa lại sắp về. Những ngày này, tại các xóm đạo trên khắp cả nước một không khí rộn ràng, hân hoan đang lan toả. Các giáo dân tất bật chuẩn bị trang trí các tuyến đường, nhà thờ, hang đá, cây thông Noel, sẵn sàng đón lễ Giáng sinh an lành, ấm áp.

Với trên 7 triệu đồng bào Công giáo Việt Nam đang sinh sống trên mọi miền đất nước, trong những năm qua, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào Công giáo đã hưởng ứng và tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể xã hội và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động, nhất là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, sống tốt đời, đẹp đạo” do Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động.

Báo cáo tổng kết hoạt động của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc Người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2023-2028) tháng 10 vừa qua cũng cho thấy, phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào Công giáo tiếp tục được duy trì và phát triển cả bề rộng và chiều sâu; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình hay, cách làm tốt cùng với nhiều tấm gương điển hình tiên tiến, xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, giúp nhau xóa đói giảm nghèo.

Đồng bào Công giáo chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Đặc biệt, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Công giáo ngày càng được chăm lo, bản sắc văn hóa của dân tộc được giữ gìn và phát huy. Nhiều hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được triển khai thực hiện, có ý nghĩa giáo dục, nhân văn sâu sắc. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm ngày càng có nhiều kết quả thiết thực. Đối tượng chính sách, hộ nghèo được Nhà nước và xã hội chăm lo tích cực với tinh thần “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. An sinh xã hội được bảo đảm. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Chính trị - xã hội ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào Công giáo.

Với truyền thống sống tốt đời, đẹp đạo, đồng bào Công giáo Việt Nam ngày càng khẳng định là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; luôn đồng hành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.


Không chỉ là đồng bào Công giáo, với các tôn giáo, tín ngưỡng khác cũng vậy. Việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Điều này được thể hiện thông qua Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng như Chính phủ đã ban hành Nghị định và các văn bản pháp luật khác đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc, đảm bảo tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Gần đây nhất, Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, khi đưa ra các nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đã nêu rõ: Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận.

Trong nỗ lực chung ấy, mọi hành vi xuyên tạc, bóp méo, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước đều bị nghiêm cấm. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 cũng đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như: Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường. Việc chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi cũng sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là nhu cầu chính đáng của người dân, được Nhà nước bảo hộ. Các tôn giáo đều chung sống hài hòa, đoàn kết, không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Việc quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh; tôn trọng, khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo sẽ góp phần không nhỏ cho sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023

MỖI NGƯỜI DÂN NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY

 Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Bộ Công an (C07) vừa đưa ra khuyến cáo bảo đảm an toàn PCCC dịp Tết Nguyên đán.

Những ngày giáp tết Nguyên đán đang đến gần, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tăng cường sản xuất để hoàn thành kế hoạch; nguyên vật liệu, hàng hóa tập kết lớn, việc tiêu thụ điện, nhiên liệu tăng cao. Đây cũng là thời điểm miền Bắc bước vào mùa hanh khô, độ ẩm trong không khí giảm mạnh, vật liệu khô nỏ rất dễ bắt cháy càng làm nguy cơ cháy, nổ tăng cao, dễ xảy ra những vụ cháy lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng.
Để bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC), Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, Bộ Công an (C07) khuyến cáo các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn PCCC dịp Tết Nguyên đán.
Cụ thể, đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, người đứng đầu cần quan tâm tổ chức công tác tuyên truyền, nhắc nhở cán bộ công nhân viên và người lao động chấp hành nghiêm nội quy, quy định PCCC; Tăng cường công tác tự kiểm tra, kịp thời khắc phục những thiếu sót có thể phát sinh cháy, nổ; Sắp xếp nguyên vật liệu, hàng hóa cách xa nguồn lửa, nguồn nhiệt; Bảo đảm các điều kiện để lực lượng chữa cháy tại chỗ hoạt động hiệu quả; Tổ chức các ca trực trong quá trình sản xuất và ngoài giờ hành để kịp thời phát hiện và dập tắt cháy ngay khi mới phát sinh, không để xảy ra cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng.
Đối với các khu dân cư, UBND địa phương cần xây dựng và duy trì hoạt động của lực lượng dân phòng và các mô hình như Tổ liên gia an toàn PCCC, điểm chữa cháy công cộng; Xây dựng phương án chữa cháy và tổ chức cho đội dân phòng thực tập giải quyết các tình huống giả định cháy sát thực tế; Xây dựng cơ chế phối hợp cùng các lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an, Điện lực, cấp nước, y tế... để giải quyết các tình huống cắt điện, cấp nước chữa cháy, cứu thương, giao thông...
Đối với các khu vực có nguồn nước tự nhiên cần xây dựng bến lấy nước để phục vụ công tác chữa cháy...
Đối với các hộ gia đình, cần thường xuyên kiểm tra hệ thống điện, các thiết bị điện, bếp đun… để kịp thời khắc phục những nguy cơ gây cháy; Tắt nguồn lửa và ngắt các thiết bị điện khi không sử dụng; Cẩn trọng trong việc thắp hương, đốt vàng mã; Trang bị phương tiện cảnh báo cháy sớm, báo rò rỉ khí gas, bình chữa cháy xách tay, xà beng, nước chữa cháy và hướng dẫn các thành viên trong gia đình cách sử dụng; chuẩn bị và thực hành phương án thoát nạn cho người và tài sản đề phòng cháy xảy ra.
Đặc biệt, đối với mỗi người dân, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác PCCC và CNCH, tự trang bị kiến thức, kỹ năng về PCCC và CNCH; thực hiện nghiêm các quy định, nội quy an toàn PCCC và CNCH. Khi phát hiện cháy phải nhanh chóng báo động cho mọi người xung quanh; ngắt nguồn điện; sử dụng phương tiện chữa cháy ban đầu để dập lửa, đồng thời báo ngay cho lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH số điện thoại 114 và tích cực tham gia chữa cháy, cứu người, cứu tài sản./.
ST

TƯ TƯỞNG NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT VỀ ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO VIỆT NAM

 Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra mắt bạn đọc là sự kiện có ý nghĩa quan trọng.

Nội dung cuốn sách gồm ba phần. Phần thứ nhất: Vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Phần thứ hai: Ðối ngoại Việt Nam vì độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; Phần thứ ba: Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao.
Cuốn sách đã nhìn lại chiều dài lịch sử của dân tộc, nhất là hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quá trình kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và hình thành trường phái đối ngoại, ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam", đó là "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách, khí phách của dân tộc Việt Nam".
Những bài viết trong cuốn sách bao hàm giá trị cả về lý luận và thực tiễn, thể hiện đường lối và bản sắc đối ngoại, ngoại giao của Ðảng, đúc kết tư tưởng cốt lõi của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân tộc mà đỉnh cao là nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh; phương pháp luận trong đánh giá tình hình thế giới, nhận diện đặc điểm của thời đại, cơ hội, thách thức và ứng xử của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử. Mỗi bài viết thể hiện tầm nhìn, tư duy, quan điểm chỉ đạo chiến lược toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư. Cuốn sách thể hiện tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Ðảng ta về đường lối đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; là minh chứng cho bước trưởng thành, phát triển về tư duy và thành tựu của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.
Bên cạnh đó, nội dung cuốn sách cũng thể hiện mạnh mẽ sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội, chính khách, học giả nước ngoài đối với công tác đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam.
Việc xuất bản cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Cuốn sách cần được nghiên cứu xuất bản bằng một số tiếng nước ngoài để giới thiệu đến bạn bè quốc tế.
Việc tuyên truyền, nghiên cứu quán triệt cuốn sách trên là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm đưa những nội dung, tư tưởng lớn về đối ngoại, ngoại giao của Ðảng và Nhà nước ta vào cuộc sống có hiệu quả, tiếp tục xây dựng nền ngoại giao Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
St

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG, CHỐNG HOẠT ĐỘNG “BẤT TUÂN DÂN SỰ” Ở NƯỚC TA

 Hiểu theo nghĩa phổ thông, “bất tuân dân sự” là hoạt động phản kháng bất bạo động nhằm công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật, gây cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Ở Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng hoạt động "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị (ANCT), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH).

Ra đời từ rất sớm (thế kỷ 19), thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Thoreau cho rằng, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể chống lại luật pháp của nhà nước nếu thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
Thoreau đề cao quyền tự quyết của mỗi cá nhân hơn là sự phục tùng theo đa số, theo cộng đồng và các cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà họ cho là đúng. Tác giả cho rằng, về bản chất "bất tuân dân sự" chính là “bất tuân nhà nước”. Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" đã được phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những nước không cùng phe với họ.
Phương thức hoạt động này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới dưới những tên gọi khác nhau như: "Cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi năm 2010; phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công - Trung Quốc năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Các nước phương Tây luôn coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chế độ chính trị ở một quốc gia. Có thể thấy "bất tuân dân sự" mang một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, về mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật; các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.
Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa, bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc lợi dụng những vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động với mưu đồ được gọi là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trả lại đất đai cho người dân... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, về chủ thể tiến hành, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị và những người dân có trình độ thấp, ngộ nhận, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bị lừa bịp, mua chuộc tham gia; đứng sau hậu thuẫn là các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong do phương Tây hậu thuẫn lập ra như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”.
Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội/nhóm hoạt động theo hình thức “bất bạo động”. Các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội, internet để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” do chúng chỉ đạo.
Thứ ba, về thời điểm, các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; thời điểm có các đoàn nguyên thủ quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; lợi dụng bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia... để kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự” và đưa ra những yêu sách, như: “Đòi bảo vệ chủ quyền, môi trường”, đòi “tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”... gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Khi gặp thời điểm thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi, các thế lực thù địch có thể chuyển hóa từ hình thức bất bạo động thành bạo động rất nhanh chóng.
Khi đó, các đối tượng cộm cán, cầm đầu kêu gọi, kích động những người tham gia đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động” tiến hành các hoạt động bạo loạn như đập phá tài sản nhà nước và công dân; chiếm trụ sở chính quyền; bắt giữ người thi hành công vụ; cản trở hoạt động bình thường của xã hội... qua đó nhằm thực hiện kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” xâm phạm ANCT, TTATXH ở địa phương. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017; vụ tụ tập đông người tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai...
Bằng những phương thức và thủ đoạn nêu trên, các đối tượng kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý những người vi phạm pháp luật; các đối tượng phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước và kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp.
Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm chống phá nước ta, cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “bất tuân dân sự” để xâm phạm ANCT, TTATXH; về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động này. Quan tâm, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, phát huy tác dụng của các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... của các thế lực thù địch hòng kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc... để khắc phục; đồng thời phối hợp giải quyết dứt điểm các điểm nóng về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm tốt các quyền tự do dân chủ của người dân, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ANCT, TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Bốn là, quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, tuần hành theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay lãn công, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cộm cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cộm cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, dân tộc, đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích của người dân. Các ban, bộ, ngành chức năng thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc, đất đai, các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế./.
ST

VĂN HOÁ NÊU GƯƠNG TRONG ĐẢNG

 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nêu gương, thì cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện nói đi đôi với làm và phải biết lấy người tốt, việc tốt để tuyên truyền, nói ít làm nhiều, nói được làm được. Tránh thói ba hoa, chống thói nói một đằng làm một nẻo.

Cán bộ, đảng viên phải nêu gương
Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, dù hoạt động trong bí mật suốt hơn 15 năm, nhưng sự nêu gương của những đảng viên như các đồng chí Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Lý Tự Trọng, Ngô Gia Tự... đã làm nên tính tiên phong cách mạng, sức mạnh, uy tín, danh dự của Đảng. Nhìn lại chặng đường cách mạng vẻ vang hơn 93 năm qua kể từ khi có Đảng, Đảng hiện diện, kết tinh và tỏa sáng vị thế, sức mạnh và uy tín qua mỗi đảng viên.
Nêu gương trở thành một trong những phương thức hoạt động của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước. Vì thế, cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo và là những tấm gương để quần chúng, nhân dân noi theo. Cương vị càng cao, chức vụ càng cao, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên càng lớn.
Do tính hiệu quả của nêu gương trong lãnh đạo, nhất là trong công tác tư tưởng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tu dưỡng, học tập, rèn luyện đạo đức và coi việc “nêu gương” là việc làm hằng ngày, thường xuyên, liên tục, là danh dự, phẩm giá của mình và là trách nhiệm đối với Đảng với dân, với nước.
Coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức
Để làm tốt công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta mãi mãi là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Tiếp tục nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó cán bộ, đảng viên phải “tự giác nêu gương”. Mỗi đảng viên phải là những người tiên phong, gương mẫu; phải thấm nhuần việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực hiện tốt nội dung nêu gương của cán bộ, đảng viên theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là phải được thể hiện trên cả ba mối quan hệ: Đối với mình, đối với người và đối với việc.
Trước hết, đối với mình, không được tự cao tự đại, tự mãn, mà phải cần, kiệm, liêm, chính; phải là “nhân, trí, dũng, liêm”; bản thân mình phải làm gương trong công việc từ nhỏ đến lớn, thường xuyên học tập, rèn luyện, tự phê bình, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân về mọi mặt để tiến bộ.
Ðối với người, phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết và có tình thương yêu, bao dung, độ lượng. Đối với người, trước hết và quan trọng nhất là đối với đồng chí, đồng sự, nhất là đối với cấp dưới và sau đó là đối với quần chúng nhân dân. Đối với cấp dưới, “Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm nom, gia đình họ khỏi khốn quẫn...”. Đối với quần chúng, phải gắn bó với quần chúng, lấy quyền, lợi ích, nguyện vọng của quần chúng làm điểm xuất phát để xây dựng các chủ trương, chính sách. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta.
Đối với việc, phải tận tâm, tận lực, có trách nhiệm, gương mẫu phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; phải luôn giữ vững nguyên tắc “Dĩ công vi thượng”, phải “chí công vô tư”, phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, nhân dân và của Đảng.
Ba mối quan hệ ấy chứa đựng nhiều nội dung cụ thể rất phong phú và cũng biến đổi theo từng thời kỳ phát triển của cách mạng. Hiện nay, trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế... đứng trước nhiều cơ hội và thách thức của các yếu tố thời đại, ba mối quan hệ đó chứa đựng nhiều nội dung về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và phải được cụ thể hóa, thậm chí thể chế hóa trong nêu gương và noi gương.
Ngày nay, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ta có được không chỉ là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, sự hy sinh quên mình và những tấm gương mẫu mực, trong sáng về tinh thần tận trung với nước, với Đảng, tận hiếu với dân của lớp lớp thế hệ cán bộ, đảng viên, mà còn do “thực hiện đồng bộ với các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”. Vì vậy, cán bộ, đảng viên, mỗi người lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành và địa phương đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ./.
ST