Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023
MỘT TRÁI TIM TRÀN ĐẦY NHIỆT HUYẾT CÁCH MẠNG!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG "CÓ CHỦ TRƯƠNG, ĐỐI SÁCH XỬ LÝ THẮNG LỢI CÁC TÌNH HUỐNG, KHÔNG ĐỂ BỊ ĐỘNG, BẤT NGỜ!
PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Chiều 18/12, tại Hà Nội, Ban Dân vận Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học “Những vấn đề lý luận về bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và vấn đề phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới”.
Đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương chủ trì hội thảo; cùng sự tham dự của đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và Ban dân vận các Tỉnh ủy, Thành ủy khu vực phía bắc.
Hơn 20 tham luận, ý kiến gửi đến, trình bày tại hội thảo đã tập trung thảo luận, làm rõ những giá trị tư tưởng, lý luận của bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và quan điểm của Đảng ta về phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Nhiều ý kiến nêu bật sự cần thiết hệ thống hóa, bổ sung những vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm trong vận dụng có hiệu quả bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” về phát huy vai trò của các giai tầng xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước. Cùng với đó, làm rõ vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lực tự cường trong việc phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Phát biểu kết luận tại hội thảo, đồng chí Bùi Thị Minh Hoài khẳng định những ý kiến, tham luận được đúc rút từ thực tiễn công tác của các đại biểu hôm nay đã nêu bật và nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng bài học “Dân là gốc”, “Dân là trung tâm” và phát huy sức mạnh nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Đồng chí cho rằng, những vấn đề lý luận mới và kinh nghiệm của các địa phương về phát huy có hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng là những đóng góp quý giúp Ban Dân vận Trung ương, Ban Chủ nhiệm đề tài khoa học có thêm chất liệu quý để nghiên cứu kỹ lưỡng, hoàn thiện đề tài khoa học quan trọng này./.
⭐️🇻🇳⭐️LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 19/12.🇻🇳
⭐️🇻🇳⭐️LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 19/12.🇻🇳
"… Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ …"[49].
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ta, ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuối năm 1946, sau những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp bị thất bại; quan hệ Việt - Pháp ngày càng căng thẳng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh. Với dã tâm thống trị Việt Nam của thực dân Pháp, từ ngày 16 đến 18/12/1946, tại nhiều nơi trên đất nước ta, quân đội thực dân Pháp đã gây ra nhiều vụ tàn sát đối với đồng bào ta; gửi hậu thư đòi yêu sách… và đe dọa hành động chiến tranh. Trước tình hình đó, Ngày 18 và 19/12/1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng quyết định phát động toàn quốc kháng chiến.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố vào tối ngày 19/12/1946, trong bối cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với ý chí quyết tâm "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" của cả dân tộc đã giúp cho Đảng, Chính phủ vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến viết cách đây hơn 70 năm được xem là một lời hịch của non sông - lời hiệu triệu lịch sử, là một văn kiện có tính chất cương lĩnh chính trị, quân sự có giá trị thời đại sâu sắc. Trong tình hình mới, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tiếp tục nêu cao tinh thần giác ngộ cách mạng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thi đua đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với Quân đội ta, để thực sự là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phải thường xuyên quán triệt, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; nhất là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"; tập trung xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, ứng phó thắng lợi với mọi tình huống; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.🇻🇳
CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN – TIỀN THÂN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Dưới tài chỉ huy thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đội đã giành chiến thắng giòn giã trong hai Trận đánh đầu tiên tại đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần mở ra truyền thống vẻ vang đánh “trăm trận trăm thắng” của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 22-12-1944, thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đã chủ trì buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tại Khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Trước ngày thành lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị: "Trong 1 tháng phải có hoạt động, gây tin tưởng cho các chiến sĩ và gây truyền thống hành động tích cực, nhanh chóng cho bộ đội" và đặc biệt “trận đầu ra quân phải đánh thắng”.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng Ban chỉ huy của đội đã bàn bạc và cân nhắc kỹ các phương án, quyết định chọn đồn Phai Khắt và đồn Nà Ngần là điểm ra quân đầu tiên. Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình địch và địa hình tác chiến, Đội đã dùng kế trá hình thành quân địch, kết hợp với nhân dân địa phương đầy mưu trí và táo bạo.
Sử dụng chiến thuật “tiến công bằng lối hoá trang kỳ tập” (tập kích), Đội đã mở đầu một cách xuất sắc trang sử chiến thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam”. Hoá trang kỳ tập là lối đánh tốn ít súng đạn, thương vong thấp song hiệu quả chiến đấu cao. Hai trận đánh đầu tiên, ngoài việc tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch trong đồn, Đội còn thu được nhiều vũ khí, quân trang. Quan trọng nhất là Đội giành thắng lợi theo đúng Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh "trận đầu ra quân phải đánh thắng".
Chiều tối ngày 25-12-1944 theo kế hoạch, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn, Đội cải trang thành lính dõng, chia làm hai tiểu đội tiến vào làng Phai Khắt. Đồng chí Thu Sơn (Nguyễn Văn Càng - Tiểu đội trưởng) mặc đồ Kaki đóng giả đội xếp cầm khẩu tiểu liên Mỹ đi đầu cùng hai đồng chí Bế Văn Sắt và Thịnh Nguyên đóng giả làm lĩnh khố xanh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp mặc bộ Kaki đóng giả cai đội. Toán lính dõng do các chiến sĩ cải trang đi từ phía châu Nguyên Bình tiến vào bản (thuộc xã Tam Lộng, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Cả đội chia làm hai cánh quân tiến vào đồn Phai Khắt. Đến bốt gác, đồng chí Thu Sơn chìa tờ giấy có đóng dấu đỏ cho tên lính gác (giấy này là do đồng chí Võ Nguyên Giáp khi đi công tác qua cơ quan in báo Việt Nam Độc lập tại Lam Sơn - Hòa An đã mượn máy đánh chữ, đánh tờ “Giấy đi tuần” giả, rồi dùng dấu giả đóng vào). Tên lính gác chưa kịp xem thì đồng chí Thu Sơn đã tiến thẳng vào trong đồn. Tiểu đội một theo sau nhanh chóng tiếp cận khu để súng, Tiểu đội hai cũng lập tức tiến vào trong đồn triển khai bao vây, tuyên bố là quân cách mạnh đến chiếm đồn, ai chống cự sẽ bị trừng trị, tất cả số lính có mặt đều phải nghe theo. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, chỉ trong vòng 30 phút, ta đã thu được 17 khẩu súng, một ít đạn, diệt tên đồn trưởng, bắt 17 tên địch.
Trong tâm thế hân hoan chiếm được đồn Phai Khắt, ngay sáng sớm hôm sau, đúng 7h00 ngày 26-12-1944, ta quyết định đánh đồn Nà Ngần thuộc xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Toàn Đội cải trang thành một toán lính dõng, lính khố đỏ đang dẫn giải ba “Cộng sản Mán” bị bắt đến giao nộp cho quan đồn. Lực lượng đánh đồn Nà Ngần là toàn bộ đội viên đã tham gia đánh đồn Phai Khắt được tăng cường thêm một số ít súng đạn. Đồng chí Thu Sơn cùng Tiểu đội xung phong dẫn ba cộng sản bị trói đến nộp cho quan đồn cùng với lá cờ tam tài (Đội thu được trong trận đánh đồn Phai Khắt). Bọn lính tưởng thật vội bố trí 6 lính và ra xếp hàng đón theo nghi thức nhà binh. Sau khi cả Đội tiến vào đồn, theo kế hoạch đã phân công, bốn chiến sĩ tiến tới gian giữa án ngữ giá để súng. Đồng chí Thu Sơn và Bế Văn Sắt nói chuyện với tên Đường để đánh lạc hướng. Trong lúc đó, Tiểu đội 2 chặn các cửa đồn, sau đó chia thành từng tổ vây bắt tù binh. Tiểu đội 3 vừa bắn chỉ thiên và hô to: "Chúng tôi là quân cách mạng đến lấy súng của Tây, tất cả giơ tay lên, không sẽ bị bắn" quân lính trong đồn hoang mang giơ tay đầu hàng.
Trận đánh diễn ra trong vòng 15 phút, ta tiêu diệt 5 tên địch, bắt sống 17 tên, kể cả Lý Phó Pảo và bọn binh lĩnh tháo chạy, thu 27 súng, khá nhiều đạn dược và một thanh kiếm. Sau khi thắng trận, toàn Đội nhanh chóng thu gom súng đạn, tài liệu và phát truyền đơn cho nhân dân tuyên truyền và thả số lính khố đỏ về địa phương.
Trận Phai Khắt và Nà Ngần (diễn ra trong hai ngày 25 và 26-12-1944) là hai trận đánh đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với hai chiến thắng này cho thấy đồng chí Võ Nguyên Giáp và Ban chỉ huy đã đưa ra kế hoạch tác chiến hợp lý thể hiện tầm nhìn, tư duy quân sự sáng tạo, phù hợp với khả lực lượng và trình độ tác chiến của ta.
Hai trận đánh đã mở đầu cho truyền thống lịch sử hào hùng “trăm trận trăm thắng” của Quân đội ta. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần tuy quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa lịch sử hết sức quan trọng. Đây là chiến thắng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam dưới sự tổ chức, chỉ đạo của Đảng và Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sự chỉ huy tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần gây tiếng vang mạnh mẽ, làm nức lòng nhân dân, mở ra một thời kỳ phát triển mới của cuộc đấu tranh vũ trang của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
KỶ NIỆM 77 NĂM NGÀY BÁC HỒ RA LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN (19/12/1945 - 19/12/2023).
Nước nhà được độc lập chưa được bao lâu thì vào ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai, rồi từng bước mở rộng đánh chiếm Nam Bộ, Nam Trung Bộ.
Vừa chỉ đạo quân dân miền Nam chiến đấu chống quân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đàm phán, nhân nhượng để tìm kiếm giải pháp hòa bình. Nhưng mọi cố gắng của ta đều bị thực dân Pháp khước từ.
Với trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngày 12/12/1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn quốc kháng chiến.
Và ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, Lời kêu gọi của Người đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc và vẫn khắc sâu trong tâm khảm mỗi người Việt Nam hôm nay để lại những bài bài học sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sự ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân- tiền thân Quân đội nhân dân Việt Nam
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22/12/1944 theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước. Phát xít Đức ráo riết chuẩn bị xâm lược Liên Xô. Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc và tiến công xuống phía Nam.
Ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật nhảy vào Đông Dương. Pháp đầu hàng và câu kết với Nhật, áp bức bóc lột nhân dân. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương bị hai tầng áp bức của Pháp - Nhật, phải chịu cảnh "một cổ hai tròng". Mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dương với Pháp - Nhật trở nên sâu sắc và lên cao hơn hơn bao giờ hết. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương ngày càng cách mạng hóa. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kì và cuộc binh biến Đô Lương.
Trong tình hình cách mạng Việt Nam đang cấp bách, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Từ ngày 10 đến 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Pác Bó (Cao Bằng) để hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Đông Dương trong bối cảnh mới. Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc xác định: “Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang...” (2) và chỉ rõ để có “một lực lượng vũ trang toàn quốc” cần phải“có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc”(2).
Quán triệt tư tưởng quân sự Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã tiến hành đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang, tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi.
Trên cơ sở quân du kích hình thành trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Đảng quyết định thành lập Đội du kích Bắc Sơn (2-1941). Đội du kích Bắc Sơn đã qua rèn luyện, thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng, Đảng tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh tổ chức và đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân I (sau Hội nghị Trung ương 8), sau đó lần lượt tổ chức Trung đội Cứu quốc quân II (9-1941) và Trung đội Cứu quốc quân III (2-1944). Trên cơ sở Cứu quốc quân và các đội du kích, tự vệ chiến đấu phát triển ở các chiến khu Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương thành lập Đội quân giải phóng để “tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng” (3).
Thực hiện Chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, vào lúc 17 giờ ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại tại núi Dền Sinh dãy Khau Giáng thuộc xã Tam Kim và Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ðồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Đoàn thể đọc tuyên bố thành lập đội và nêu rõ nhiệm vụ của đội đối với Tổ quốc: “Các đồng chí! Ngày hôm nay, 22 tháng 12 năm 1944, theo mệnh lệnh của Ðoàn thể, chúng ta tập trung ở chốn rừng xanh núi đỏ này, giữa tổng Trần Hưng Ðạo và tổng Hoàng Hoa Thám trong liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng, để khai hội thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân... Quân giải phóng là một đội quân rất trọng kỷ luật, tuyệt đối phục tùng thượng lệnh, là một đội quân giàu tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Kinh nghiệm của chúng ta còn non, nhưng có làm mới có kinh nghiệm và làm tất nhiên sẽ có kinh nghiệm. Chúng ta tin tưởng ở thắng lợi... Theo chỉ thị của đoàn thể, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, tôi xin tuyên bố: Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập và hạ lệnh cho các đồng chí tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu...” (3).
Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, toàn đội đã long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự, quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng, kiên quyết tiêu diệt quân thù cướp nước, hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý thức tổ chức, kỷ luật cao của một đội quân cách mạng. Mười lời thề của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã trở thành lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
Khi mới ra đời, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 3 tiểu đội do ông Hoàng Sâm làm Đội trưởng và ông Xích Thắng làm Chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo. Trong đó có 4 người dân tộc Kinh, 20 người là dân tộc Tày, 8 người là dân tộc Nùng, 1 người dân tộc Mông, 1 người dân tộc Dao Tiền, có 28 người quê ở Cao Bằng, 2 người quê ở Quảng Bình, 1 người quê ở Lạng Sơn, 2 người quê ở Thái Nguyên, 1 người quê ở Thái Bình. 34 đội viên là những đồng chí trung kiên nhất của các đội vũ trang Cao - Bắc - Lạng, một số trong đội quân Nam tiến; một số trong Cứu quốc quân, có người đã đi học quân sự ở nước ngoài về. Vũ khí trang bị cho Đội có 2 súng thất cửu, 17 súng trường, 14 súng kíp. Hai ngày trước lễ thành lập có một số vũ khí gồm 1 súng tiểu liên do Mỹ sản xuất, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp nổ do ông bà Tống Minh Phương và anh em Việt kiều ở Côn Minh gửi tặng. Đội có 500 đồng chi phí quân nhu.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ làm nhiệm vụ chiến đấu, mà còn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, quần chúng nhân dân giác ngộ, đi theo cách mạng. Khẳng định điều này, tại buổi lễ thành lập, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh “Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là nhiệm vụ quan trọng và nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời. Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này” (4).
Sau khi ra đời một thời gian ngắn, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phay Khắt (24/12/1944) và Nà Ngần (25/12/1944). Đây là hai trận đánh mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu” của quân đội ta.
Cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không ngừng phát triển, trở thành đội quân vững vàng về chính trị, tài giỏi về quân sự, chiến đấu và chiến thắng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược và là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975 đến nay.
Như vậy, sự ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22/12/1944 là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, một bước ngoặt lịch sử trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc Việt Nam. Nó đánh dấu sự phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Tuy số lượng đội viên ít, vũ khí thô sơ, thiếu thốn nhưng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân xứng đáng là “một đoàn quân gang thép, rắn chắc không sức mạnh nào khuất phục nổi, sẵn sàng quật nát kẻ thù”.
SỐNG "TỐT ĐỜI ĐẸP ĐẠO", ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC
Phát huy truyền thống sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng bào Công giáo trên cả nước ngày càng khẳng định là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, luôn đồng hành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một mùa Giáng sinh nữa lại sắp về. Những ngày này, tại các xóm đạo trên khắp cả nước một không khí rộn ràng, hân hoan đang lan toả. Các giáo dân tất bật chuẩn bị trang trí các tuyến đường, nhà thờ, hang đá, cây thông Noel, sẵn sàng đón lễ Giáng sinh an lành, ấm áp.
Với trên 7 triệu đồng bào Công giáo Việt Nam đang sinh sống trên mọi miền đất nước, trong những năm qua, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào Công giáo đã hưởng ứng và tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể xã hội và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động, nhất là phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, sống tốt đời, đẹp đạo” do Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động.
Báo cáo tổng kết hoạt động của Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc Người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2023-2028) tháng 10 vừa qua cũng cho thấy, phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào Công giáo tiếp tục được duy trì và phát triển cả bề rộng và chiều sâu; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình hay, cách làm tốt cùng với nhiều tấm gương điển hình tiên tiến, xuất sắc trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, giúp nhau xóa đói giảm nghèo.
Đồng bào Công giáo chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đặc biệt, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Công giáo ngày càng được chăm lo, bản sắc văn hóa của dân tộc được giữ gìn và phát huy. Nhiều hoạt động đền ơn, đáp nghĩa được triển khai thực hiện, có ý nghĩa giáo dục, nhân văn sâu sắc. Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, giáo dục đào tạo, dạy nghề và giải quyết việc làm ngày càng có nhiều kết quả thiết thực. Đối tượng chính sách, hộ nghèo được Nhà nước và xã hội chăm lo tích cực với tinh thần “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. An sinh xã hội được bảo đảm. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Chính trị - xã hội ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của đồng bào Công giáo.
Với truyền thống sống tốt đời, đẹp đạo, đồng bào Công giáo Việt Nam ngày càng khẳng định là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; luôn đồng hành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.
Không chỉ là đồng bào Công giáo, với các tôn giáo, tín ngưỡng khác cũng vậy. Việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Điều này được thể hiện thông qua Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng như Chính phủ đã ban hành Nghị định và các văn bản pháp luật khác đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc, đảm bảo tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Gần đây nhất, Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, khi đưa ra các nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đã nêu rõ: Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận.
Trong nỗ lực chung ấy, mọi hành vi xuyên tạc, bóp méo, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước đều bị nghiêm cấm. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 cũng đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như: Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường. Việc chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi cũng sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là nhu cầu chính đáng của người dân, được Nhà nước bảo hộ. Các tôn giáo đều chung sống hài hòa, đoàn kết, không có xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo. Việc quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh; tôn trọng, khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo sẽ góp phần không nhỏ cho sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Thứ Hai, 18 tháng 12, 2023
MỖI NGƯỜI DÂN NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY
Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Bộ Công an (C07) vừa đưa ra khuyến cáo bảo đảm an toàn PCCC dịp Tết Nguyên đán.
TƯ TƯỞNG NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT VỀ ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO VIỆT NAM
Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra mắt bạn đọc là sự kiện có ý nghĩa quan trọng.
NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG, CHỐNG HOẠT ĐỘNG “BẤT TUÂN DÂN SỰ” Ở NƯỚC TA
Hiểu theo nghĩa phổ thông, “bất tuân dân sự” là hoạt động phản kháng bất bạo động nhằm công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật, gây cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Ở Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng hoạt động "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị (ANCT), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH).
VĂN HOÁ NÊU GƯƠNG TRONG ĐẢNG
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn nêu gương, thì cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện nói đi đôi với làm và phải biết lấy người tốt, việc tốt để tuyên truyền, nói ít làm nhiều, nói được làm được. Tránh thói ba hoa, chống thói nói một đằng làm một nẻo.




