Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22/12/1944 theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước. Phát xít Đức ráo riết chuẩn bị xâm lược Liên Xô. Nhật mở rộng xâm lược Trung Quốc và tiến công xuống phía Nam.
Ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật nhảy vào Đông Dương. Pháp đầu hàng và câu kết với Nhật, áp bức bóc lột nhân dân. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương bị hai tầng áp bức của Pháp - Nhật, phải chịu cảnh "một cổ hai tròng". Mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dương với Pháp - Nhật trở nên sâu sắc và lên cao hơn hơn bao giờ hết. Nhân dân các dân tộc ở Đông Dương ngày càng cách mạng hóa. Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kì và cuộc binh biến Đô Lương.
Trong tình hình cách mạng Việt Nam đang cấp bách, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc về tới Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng (Cao Bằng), trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Từ ngày 10 đến 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành trung ương Đảng tại Pác Bó (Cao Bằng) để hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Đông Dương trong bối cảnh mới. Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc xác định: “Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang...” (2) và chỉ rõ để có “một lực lượng vũ trang toàn quốc” cần phải“có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc”(2).
Quán triệt tư tưởng quân sự Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã tiến hành đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang, tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi.
Trên cơ sở quân du kích hình thành trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Đảng quyết định thành lập Đội du kích Bắc Sơn (2-1941). Đội du kích Bắc Sơn đã qua rèn luyện, thử thách trong cuộc đấu tranh cách mạng, Đảng tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, chấn chỉnh tổ chức và đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân I (sau Hội nghị Trung ương 8), sau đó lần lượt tổ chức Trung đội Cứu quốc quân II (9-1941) và Trung đội Cứu quốc quân III (2-1944). Trên cơ sở Cứu quốc quân và các đội du kích, tự vệ chiến đấu phát triển ở các chiến khu Cao-Bắc-Lạng, Hà-Tuyên-Thái, để có một lực lượng chủ lực làm nòng cốt thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ hơn, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương thành lập Đội quân giải phóng để “tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng” (3).
Thực hiện Chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, vào lúc 17 giờ ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại tại núi Dền Sinh dãy Khau Giáng thuộc xã Tam Kim và Hoa Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ðồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Đoàn thể đọc tuyên bố thành lập đội và nêu rõ nhiệm vụ của đội đối với Tổ quốc: “Các đồng chí! Ngày hôm nay, 22 tháng 12 năm 1944, theo mệnh lệnh của Ðoàn thể, chúng ta tập trung ở chốn rừng xanh núi đỏ này, giữa tổng Trần Hưng Ðạo và tổng Hoàng Hoa Thám trong liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng, để khai hội thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân... Quân giải phóng là một đội quân rất trọng kỷ luật, tuyệt đối phục tùng thượng lệnh, là một đội quân giàu tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ. Kinh nghiệm của chúng ta còn non, nhưng có làm mới có kinh nghiệm và làm tất nhiên sẽ có kinh nghiệm. Chúng ta tin tưởng ở thắng lợi... Theo chỉ thị của đoàn thể, dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, tôi xin tuyên bố: Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập và hạ lệnh cho các đồng chí tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu...” (3).
Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, toàn đội đã long trọng tuyên đọc Mười lời thề danh dự, quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cách mạng, kiên quyết tiêu diệt quân thù cướp nước, hết lòng hết dạ phục vụ nhân dân, tinh thần đoàn kết và ý thức tổ chức, kỷ luật cao của một đội quân cách mạng. Mười lời thề của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã trở thành lời thề của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này.
Khi mới ra đời, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân gồm 34 người, biên chế thành 3 tiểu đội do ông Hoàng Sâm làm Đội trưởng và ông Xích Thắng làm Chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo. Trong đó có 4 người dân tộc Kinh, 20 người là dân tộc Tày, 8 người là dân tộc Nùng, 1 người dân tộc Mông, 1 người dân tộc Dao Tiền, có 28 người quê ở Cao Bằng, 2 người quê ở Quảng Bình, 1 người quê ở Lạng Sơn, 2 người quê ở Thái Nguyên, 1 người quê ở Thái Bình. 34 đội viên là những đồng chí trung kiên nhất của các đội vũ trang Cao - Bắc - Lạng, một số trong đội quân Nam tiến; một số trong Cứu quốc quân, có người đã đi học quân sự ở nước ngoài về. Vũ khí trang bị cho Đội có 2 súng thất cửu, 17 súng trường, 14 súng kíp. Hai ngày trước lễ thành lập có một số vũ khí gồm 1 súng tiểu liên do Mỹ sản xuất, 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 hộp nổ do ông bà Tống Minh Phương và anh em Việt kiều ở Côn Minh gửi tặng. Đội có 500 đồng chi phí quân nhu.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ làm nhiệm vụ chiến đấu, mà còn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, quần chúng nhân dân giác ngộ, đi theo cách mạng. Khẳng định điều này, tại buổi lễ thành lập, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh “Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là nhiệm vụ quan trọng và nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời. Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này” (4).
Sau khi ra đời một thời gian ngắn, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phay Khắt (24/12/1944) và Nà Ngần (25/12/1944). Đây là hai trận đánh mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu” của quân đội ta.
Cùng với sự lớn mạnh của phong trào cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không ngừng phát triển, trở thành đội quân vững vàng về chính trị, tài giỏi về quân sự, chiến đấu và chiến thắng trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược và là nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975 đến nay.
Như vậy, sự ra đời Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân vào ngày 22/12/1944 là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, một bước ngoặt lịch sử trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc Việt Nam. Nó đánh dấu sự phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Tuy số lượng đội viên ít, vũ khí thô sơ, thiếu thốn nhưng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân xứng đáng là “một đoàn quân gang thép, rắn chắc không sức mạnh nào khuất phục nổi, sẵn sàng quật nát kẻ thù”.
bài rất hấp dẫn
Trả lờiXóa