Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân

 Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh đặc biệt nguy hại, thế nhưng hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên vẫn còn biểu hiện xem nhẹ, thiếu ý thức trách nhiệm trong phòng vệ, đấu tranh. Thậm chí, nhiều nơi vẫn còn biểu hiện xô lệch và sai lệch trong nhận thức, tổ chức thực thi nhiệm vụ “đánh giặc từ bên trong” như chỉ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. 

          Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra 10 căn bệnh sinh ra do chủ nghĩa cá nhân. Đó là: Quan liêu, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, háo danh, thiển cận, tị nạnh, xu nịnh, a dua và kéo bè kéo cánh. Bây giờ, bệnh cá nhân còn có thêm những biểu hiện không thể xem thường, như cơ hội, thực dụng...

           Người cơ hội thì chuyên lợi dụng những kẽ hở của luật pháp, cơ chế, chính sách, những sơ hở trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy công quyền, xem đó là thời cơ để “đục nước béo cò”, vơ vét tài sản, tiền bạc Nhà nước và nhân dân, biến của công thành của tư. Kẻ cơ hội thì luôn tìm cách nịnh hót, kéo bè kéo cánh, cục bộ địa phương, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cái ác.

           Người thực dụng thì luôn coi tiền tài, vật chất là nhất, lấy đó làm quy chuẩn của mọi quan hệ mà coi nhẹ các giá trị tinh thần, văn hóa, đạo đức; họ sẵn sàng hạ mình để mưu cầu lợi ích. Cán bộ, đảng viên thực dụng thì kén chọn chức vụ, chỗ ngồi sao cho có lợi nhất, dễ kiếm tiền nhất.

           Người mắc bệnh cá nhân thường đề cao “cái tôi” một cách thái quá mà coi thường tập thể, dẫn đến gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền. Lâu dần thành ra lộng quyền, lợi dụng chức quyền để trục lợi cho cá nhân, phe nhóm mà bỏ qua lợi ích tập thể, lợi ích nhà nước và nhân dân. Những cán bộ kỷ luật Đảng thời gian qua vì “vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ” chính là ở chỗ này. Họ sai vì quá đề cao cá nhân mình mà bỏ qua những lời đóng góp thẳng thắn, chân thành của cán bộ, quần chúng.

           Thực tế cho thấy, đại đa số cán bộ, đảng viên trong bộ máy lãnh đạo của chúng ta, nhiều người có bản lĩnh, có tư cách, sống trung thực, nhân nghĩa, không  bon chen, ích kỷ, vụ lợi, tận tụy, trung thành, biết liêm sỉ, trọng danh dự... Nhưng cũng không thiếu những kẻ vì động cơ không trong sáng mà thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, sống “ba phải”, “im lặng là vàng”, khi sinh hoạt Đảng, chả mấy khi bày tỏ chính kiến, họa hoằn mới nói vài câu cho “phải phép”.

           Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên mà còn củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân với Đảng. Thế nhưng, có một thực tế lâu nay là, khi nói đến chủ nghĩa cá nhân thì nhiều người cứ như là “đang nói ai đó chứ không phải mình”, vì vậy, muốn đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân thì trước hết phải nhận diện chủ nghĩa cá nhân trong đời sống, sinh hoạt và trong công tác lãnh đạo, quản lý. Nhận diện được rồi thì tiến hành tự phê bình và phê bình để sửa chữa nghiêm túc, thực chất.

           Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

           Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, “chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”. Theo đó:

      Một là, phải có phương pháp đúng đắn, bước đi thích hợp, thận trọng, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong Đảng”; xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, khắc phục triệt để biểu hiện “nhẹ trên nặng dưới”, “đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”; phát huy “vai trò của người đứng đầu”, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị…

      Hai là, mỗi đảng viên dù ở cương vị công tác nào đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong trong thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, quy định tại đơn vị công tác, trong gia đình và ngoài xã hội.

      Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

      Từng đảng viên phải kết hợp chặt chẽ xây và chống, chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, ngăn chặn, đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân.

      Ba là, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những đảng viên có chức, có quyền.

      Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

      Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực./.

 Tác giả: Minh Hùng - Ban Tuyên giáo huyện ủy

CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG ĐẢNG ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

 

Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(15); để Đảng không phải là một “tổ chức làm quan phát tài”, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

 Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(16). Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. “Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”(17).

 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng vẫn giữ nguyên giá trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

 Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, “chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”(18). Theo đó:

 Một là, phải có phương pháp đúng đắn, bước đi thích hợp, thận trọng, kiên trì, không ngại khó, ngại khổ, ngại va chạm; thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, có cơ chế “kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong Đảng”; xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, khắc phục triệt để biểu hiện “nhẹ trên nặng dưới”, “đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ”(19); phát huy “vai trò của người đứng đầu”, cán bộ quản lý chủ chốt ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị…

 Hai là, mỗi đảng viên dù ở cương vị công tác nào đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong trong thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật, quy định tại đơn vị công tác, trong gia đình và ngoài xã hội.

 Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

 Từng đảng viên phải kết hợp chặt chẽ xây và chống, chú trọng rèn luyện phẩm chất đạo đức, ngăn chặn, đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện nghiêm Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 19/12/2016 về “Một số vấn đề làm ngay để tăng cường nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung tương”.

Ba là, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng trong việc giám sát cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những đảng viên có chức, có quyền.

 Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

 Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực./.

 Đại tá, TS. Đồng Anh Dũng

Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 

Hồ Chí Minh khẳng định “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”(5). Theo Người, “việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội”(6) là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.  

 

Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

 

Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. “...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót”(7), song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải “kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân”(8), vì “khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(9). Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: “chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”(10).

 

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. “Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới”(11), nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao..

 

Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(12).

 

Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

 

Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: “Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu”(13). “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”(14).

Khắc phục chủ nghĩa cá nhân theo tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/TW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương

 

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện, là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ. Qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Quân đội ta đã hun đúc nên truyền thống: “Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” và được Nhân dân luôn tin tưởng, yêu mến, vinh tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

 Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, vẫn còn một số cán bộ, chiến sĩ, trong đó có cả cán bộ cao cấp, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị, nhận thức chưa đầy đủ; chưa thực sự đề cao trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu; sống thực dụng, băn khoăn, dao động trước những khó khăn; vi phạm pháp luật, kỷ luật, quy định về những điều đảng viên không được làm, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân… Những hạn chế, khuyết điểm trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu: “Công tác tư tưởng, giáo dục chính trị ở một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; việc cụ thể hóa các chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” và nhận diện các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân còn chung chung; chưa kết hợp chặt chẽ giữa phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân với thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng”(1). Chính vì vậy, để thực hiện tốt nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng, nhất là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Quân đội phải thật sự trong sạch trong nội bộ, đi đầu trong đấu tranh chống tiêu cực, chống chủ nghĩa cá nhân”(2), Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”, nhằm góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

 Cùng với việc xác định rõ 5 đặc trưng cơ bản, thể hiện toàn diện phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương đã thống nhất nhận diện chủ nghĩa cá nhân ở 10 biểu hiện chủ yếu. Đó là sự phản ánh từ thấp đến cao những biểu hiện có thể nảy sinh trong suy nghĩ, hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội. Để góp phần đấu tranh, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”, cần thực hiện đồng bộ một số biện pháp cơ bản sau đây:

 Một là, thường xuyên giáo dục, quán triệt làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu, quan điểm của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Chủ nghĩa cá nhân là thứ “vi trùng rất độc”, nó làm “hư hỏng” đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội, làm phai nhạt phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng Nhân dân. Do vậy, phải thường xuyên giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân mà Quân ủy Trung ương đã chỉ ra. Muốn vậy, cán bộ, chiến sĩ phải tăng cường tự học tập, nghiên cứu về những biểu hiện và tính chất nguy hại của chủ nghĩa cá nhân đối với quá trình tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của bản thân mình. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, rèn luyện của tổ chức và tự giáo dục, rèn luyện của từng cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó khơi dậy nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, chiến sĩ thường xuyên đấu tranh, sửa chữa, “gột rửa”, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

 Hai là, các cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên thường xuyên chăm lo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng thực sự trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong đó, phải quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa tiêu chuẩn “Bộ đội Cụ Hồ” sát hợp với đặc điểm, tình hình, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình, làm cơ sở cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phấn đấu thực hiện. Trên cơ sở 10 biểu hiện về chủ nghĩa cá nhân được Quân ủy Trung ương nhận diện, các cấp ủy, tổ chức đảng, đơn vị phải cụ thể và chi tiết hơn nữa những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở đơn vị mình, làm cơ sở cho cán bộ, chiến sĩ chủ động đấu tranh, khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Đồng thời, coi đó là một trong những nội dung không thể thiếu trong đánh giá, phân loại, bình xét mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ, người lao động trong toàn quân.

 Ba là, nêu cao ý thức đấu tranh tự phê bình và phê bình, kết hợp chặt chẽ giữa phấn đấu, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” với kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: nâng cao đạo đức cách mạng đồng thời phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Do đó, muốn phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” nhất thiết mỗi cán bộ, chiến sĩ và các tổ chức phải nêu cao ý thức đấu tranh tự phê bình và phê bình. Trong đó, cần quán triệt và thực hiện tốt quan điểm: “kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy “xây” - giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài; “chống” - đấu tranh, phòng, chống, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Đặc biệt, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải đề cao tự phê bình và phê bình; phải tự phê bình thường xuyên như “rửa mặt hàng ngày”, “tự soi, tự sửa” từ suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm của bản thân mình. Đồng thời, phải tự khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, “bằng mặt, không bằng lòng” và thực hiện tốt mục đích phê bình để giúp cho mọi người đều tiến bộ.

Khắc phục những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ sĩ quan trẻ trong quân đội

 

Chủ nghĩa cá nhân đối lập với đạo đức cách mạng, đối lập với bản chất, truyền thống quân đội ta. Nó là kẻ thù bên trong trực tiếp ảnh hưởng làm suy giảm sức mạnh chiến đấu của quân đội. Chống chủ nghĩa cá nhân, trước hết khắc phục những biểu hiện của nó trong đội ngũ sĩ quan trẻ trong quân đội hiện nay là một vấn đề cấp thiết nhằm góp phần xây dựng quân đội ta vững mạnh, chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. 

 

Chủ nghĩa cá nhân được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm, nó trói mặt, bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng ham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, không nghĩ đến lợi ích của người khác, của nhân dân. Người khái quát những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội ta cũng như trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là: Ngại khó, ngại khổ, tham ô, lãng phí, hủ hóa, ăn hối lộ, tham danh, thích địa vị quyền hành… Bốn bệnh chủ yếu của chủ nghĩa cá nhân là tự do chủ nghĩa, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí, lười biếng. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù, là giặc nội xâm, nó không mang gươm, mang súng nhưng vô cùng nguy hiểm, kéo người ta xuống dốc không phanh. Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, là bệnh chính, bệnh mẹ sinh ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm khác. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Người nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm.

 

Sĩ quan trẻ là những sĩ quan tuổi đời không quá 30, tuổi quân từ 5 năm trở lên, cấp bậc quân hàm từ thiếu úy đến đại úy. Họ là những người mới trưởng thành đang thích ứng hoặc bắt đầu ổn định về nghề nghiệp, quan hệ công tác chưa rộng, còn ít trải nghiệm trong cuộc sống, chưa được rèn luyện nhiều trong thực tiễn chiến đấu.

 

Biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ đa dạng: hám danh tiếng, địa vị, hiếu thắng hơn người, tự cao tự đại, công thần, kiêu ngạo, ganh tỵ, kèn cựa địa vị với đồng đội, đố kỵ, bè phái, cục bộ… Họ coi việc học tập, công tác là phương tiện để tiến thân. Có những biểu hiện tham ô, ăn chặn tiêu chuẩn của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều. Bớt xén kinh phí huấn luyện, xây dựng đơn vị làm quỹ riêng, lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý xâm phạm tiêu chuẩn của bộ đội… Quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch đối với cấp dưới, xa rời quần chúng. Công việc đều chung chung, đại khái, thiếu tác phong sâu sát, cụ thể, chỉ đạo công tác chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, tự do tùy tiện trong công tác, bê tha trong sinh hoạt, lười biếng, thiếu trách nhiệm. Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ quân đội ta hiện nay có rất nhiều nguyên nhân, đó là tác động khách quan của tình hình kinh tế- xã hội, nhưng cơ bản nhất là nguyên nhân chủ chủ quan, thiếu tự rèn luyện của sĩ quan trẻ và kiểm tra, giám sát chặt chẽ của cấp trên.

 

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” là một đơn thuốc hữu hiệu để giải quyết những vấn đề yếu kém, bất cập trong Đảng, là cơ sở để cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là đội ngũ sĩ quan trẻ soi mình để thấy rõ những ưu và khuyết điểm của mình, từ đó đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Để khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ sĩ quan trẻ trong quân đội cần  thực hiện tốt một số biện pháp sau:

 

Xây dựng môi trường quân đội trong sạch, lành mạnh để ngăn chặn những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ. Môi trường là tập hợp những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hoạt động sinh sống và phát triển. Môi trường có hai bộ phận là tự nhiên và xã hội. Môi trường xã hội rất phức tạp bao gồm nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức, văn hóa, lối sống… các yếu tố này có quan hệ biện chứng với nhau và đều tác động đến mỗi thành viên trong xã hội. Môi trường quân đội là nơi diễn ra mọi hoạt động của quân nhân, là cái nôi nuôi dưỡng mọi cán bộ, chiến sỹ không ngừng trưởng thành và phát triển. Vì vậy xây dựng môi trường quân đội trong sạch là đòi hỏi tất yếu khách quan tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi quân nhân tự tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.

 

Môi trường quân đội trong sạch là môi trường trong đó mọi hoạt động của quân nhân diễn ra một cách tốt đẹp, quan hệ cán bộ với chiến sỹ như chân với tay, quan hệ đồng chí, đồng đội như anh em một nhà. Đó là môi trường sống có kỷ cương, công bằng, tính tập thể cao. Đó là  môi trường mang đậm tính trội của nền văn hóa, đạo đức Việt Nam, lòng yêu nước, thương nòi và tư tưởng nhân nghĩa, những lý tưởng cao đẹp của người quân nhân cách mạng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và những chuẩn mực đạo đức truyền thống có giá trị nhân bản sâu sắc. Để xây dựng môi trường quân đội trong sạch, phải thường xuyên quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng quân đội kiểu mới. Xây dựng môi trường trong sạch trong quân đội, trước hết và trực tiếp cần tập trung xây dựng các tập thể quân nhân ở đơn vị cơ sở trong sạch, vững mạnh.

 

Tập thể quân nhân ở đơn vị cơ sở là nơi diễn ra toàn bộ các hoạt động học tập, lao động, huấn luyện chiến đấu, là nơi trực tiếp nuôi dưỡng rèn luyện, điều chỉnh hành vi, phát triển nhân cách quân nhân trong đó có đội ngũ sĩ quan trẻ. Đó là nơi sĩ quan trẻ bộc lộ tài năng, ưu điểm, khuyết điểm, đồng thời là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để sĩ quan trẻ không ngừng trưởng thành, phát triển. Chăm lo xây dựng các tập thể quân nhân trong sạch, vững mạnh trong tình hình hiện nay cần giải quyết tốt một số nội dung chính sau: tạo nên sự thống nhất cao về ý chí và hành động từ mỗi quân nhân, phát huy dân chủ, đề cao kỷ luật đối với cán bộ, chiến sỹ ở đơn vị. Xây dựng các mối quan hệ xã hội lành mạnh trong tập thể đồng thời tạo được dư luận xã hội lên án mạnh mẽ, nghiêm khắc những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân.

 

Chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi để sĩ quan tu dưỡng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đời sống vật chất tinh thần được cải thiện sẽ góp phần cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ sĩ quan trẻ yên tâm phấn khởi, gắn bó với tập thể quân nhân, không ngừng tu dưỡng rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng chiến đấu đến cùng vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, qua đó những hành vi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân ở sĩ quan trẻ cũng từng bước được khắc phục. Trong quá trình xây dựng quân đội, Đảng và Nhà nước thực sự quan tâm, từng bước đổi mới và thực hiện chính sách đối với quân đội, góp phần cải thiện một bước đời sống của cán bộ chiến sỹ, tạo bầu không khí tâm lý tích cực giúp cán bộ, chiến sỹ yên tâm phấn khởi, đoàn kết gắn bó cùng nhau xây dựng các tập thể quân nhân trong sạch, vững mạnh.

 

Thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng là biện pháp tích cực có ý nghĩa trực tiếp góp phần khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở đội ngũ sĩ quan trẻ. Đạo đức cách mạng là vũ khí sắc bén để chiến thắng những thói hư tật xấu trong mỗi con người. Đạo đức cách mạng không những chỉ làm đẹp con người mà còn chuyển hóa thành sức mạnh vật chất cải tạo chính hoàn cảnh sống và bản thân con người. Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay trước hết cần giáo dục nâng cao trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng cho sĩ quan trẻ. Qua đó tiếp tục xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ trung thành với Tổ quốc có quyết tâm phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng lên trên hết. Giáo dục đạo đức cách mạng phải đi đối với thực hành đạo đức cách mạng, có như vậy đạo đức cách mạng mới có cơ sở hình thành phát triển bền vững. Giáo dục đạo đức cách mạng cho sĩ quan trẻ phải thực sự giúp cho họ có dũng khí và phương pháp đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân đang tồn tại ở chính họ.

 

Nguyễn Tú Anh - Hà Hải Lý

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI

 

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội hiện đang là yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng hiện nay, giúp cho Quân đội thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy; lực lượng tiên phong, đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc.

 Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cần tập trung vào những giải pháp chủ yêu sau:

 Một là, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cơ quan chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần xác định rõ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn quân, trực tiếp và chủ yếu nhất là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp. Do đó, bí thư cấp ủy, người chỉ huy các cấp, trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Ban Chỉ đạo 35 của Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị; từ đó đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo việc bảo vệ nền tảng tư tưởng trong Quân đội sát, đúng, hiệu quả, thiết thực. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội”(2). Ngoài ra, cần quan tâm, chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao, đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị về tiếp đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05 về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

 Hai là, tập trung xây dựng các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, tập thể quân nhân, cán bộ nhất là cán bộ chủ chốt các cấp trong Quân đội trong sạch, vững mạnh ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, làm cơ sở, tiền đề cho việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng trong Quân đội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược lâu dài của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, là công việc thường xuyên, tự giác và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp.  Do đó, cần tiếp tục xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội các cấp trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức  và cán bộ, trực tiếp góp phần giữ vững sự thống nhất, đoàn kết, nhất trí trong các tổ chức đảng, sự đồng thuận của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị. Từ đó, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng thời, cần làm tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị để nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Quan tâm và tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ để nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, khắc phục những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc, góp phần giữ vững bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ” trong tình hình mới.

Ba là, tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay để gia tăng năng lực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ.

 Cần tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay giữ vị trí, vai trò quan trọng, giúp cho mọi quân nhân nhận thức sâu sắc những giá trị cốt lõi tạo nên nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Từ đó, xây dựng và củng cố vững chắc lòng tin, lý tưởng vào những giá trị bền vững và tạo cơ sở khoa học cho việc tự nguyện, tự giác phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, trung thành tuyệt đối với nhân dân, với Tổ quốc. Do đó, phải tích cực đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cấp, nhất là các học viện, nhà trường phù hợp với từng đối tượng quân nhân.

 Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội luôn giữ vị trí, ý nghĩa quan trọng giúp mọi quân nhân có được niềm tin, bản lĩnh, trình độ… hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Do vậy, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Quân đội hiện nay cần tập trung làm cho mọi quân nhân hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ Quân đội... Trong giáo dục, cần làm cho họ thấy tính đúng đắn và sự cần thiết trong vai trò Đảng lãnh đạo Quân đội; lý tưởng khát vọng hoà bình, độc lập, tự do, hạnh phúc của giai cấp, dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Xây dựng hình thành, truyền bá những hệ giá trị cốt lõi của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong thời đại mới đến bạn bè quốc tế; tập trung khơi dậy và phát huy truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, tiếp thu những giá trị văn hóa tinh hoa của nhân loại.

 Bốn là, làm tốt công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng Internet, mạng xã hội trong Quân đội hiện nay.

 Cần quản lý chặt chẽ thông tin trên internet, mạng xã hội ở tất cả các đơn vị trong toàn quân, không để các thế lực thù địch lợi dụng, chiếm lĩnh trận địa thông tin. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội trong tình hình mới. Chỉ đạo Ban Chỉ đạo 35 và lực lượng 47 các cơ quan, đơn vị trong toàn quân hoạt động có nền nếp, hiệu quả.

 Các cơ quan chức năng cần thực hiện tốt công tác rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền bảo đảm chặt chẽ; phân định rõ các loại báo chí điện tử, tạp chí điện tử, trang thông tin điện tử. Tiến hành kiểm soát chặt chẽ việc đăng tải thông tin trên Internet, mạng xã hội của các quân nhân; đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các trang web, blog, nhóm, trang diễn đàn để đăng tải các bài viết với nội dung tuyên truyền các quan điểm chính thống, định hướng dư luận, phản bác hoặc tiến hành đấu tranh phản bác ngay tại các trang mạng “độc hại”.

 Năm là, xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên sâu trong bảo vệ tư tưởng của Đảng trong Quân đội và đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội.

 

Chú trọng xây dựng đội ngũ nòng cốt, chuyên sâu là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ lý luận cao, có khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, chế độ và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Từ đó cần tập trung tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm đấu tranh, cung cấp những thông tin, cập nhật nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ để họ đấu tranh trên mạng xã hội. Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến mạng xã hội, an ninh mạng Bộ Tư lệnh 86, Lực lượng 47 trong toàn quân; thường xuyên bám mạng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thích hợp trên mạng xã hội để phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và gỡ bỏ thông tin xấu độc, những dịch vụ, hành vi vi phạm pháp luật, gây hại đến hoạt động quân sự.

 Sáu là, tổ chức đấu tranh có hiệu quả, quyết liệt với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội

 Phát huy tốt vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

 Trang bị những kiến thức cần thiết để mỗi cán bộ, chiến sĩ có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, “miễn dịch” với những thông tin xấu độc, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc và tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội.

 Có thể khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội không chỉ liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà còn có ý nghĩa sống còn với sự tồn tại và phát triển của Quân đội. Do đó, để Quân đội ta tiếp tục phát huy được những truyền thống anh hùng, vẻ vang, mỗi tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cũng như mỗi cán bộ, chiến sĩ cần phải luôn không ngừng tu dưỡng, rèn luyện để giữ gìn bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức “Bộ đội cụ Hồ” mà còn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sức đề kháng trước các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.

 Đại tá Lê Đức Hòe

Chủ nhiệm Chính trị Binh chủng Pháo Binh

Cái gọi là “Cách mạng Trắng cho Việt Nam”

 

Ngày 08/4/2019 tại thành phố San Jose, Hoa Kỳ có cuộc hội luận của các hội đoàn chống cộng cực đoan bàn về phương thức đấu tranh cho Việt Nam nhằm giải thể Đảng Cộng sản và thay đổi thể chế nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một luật sư người Mỹ gốc Việt nổi tiếng là kẻ chống cộng cực đoan đã tuyên bố: “Ở Việt Nam bây giờ không còn là chế độ cộng sản nữa, chỉ còn cái vỏ Cộng sản thôi, còn cái ruột thực chất là Chủ nghĩa Dân tộc, các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đang thực hiện Chủ nghĩa Dân tộc”; “Lãnh đạo Việt Nam bây giờ đổi mới nhanh lắm … dự đoán chỉ vài năm nữa thôi họ sẽ đổi tên nước thành Cộng hoà Việt Nam (!)”. Những luận điểm này của Y cùng với các loại cách mạng màu trên thế giới mà Y tập hợp lại với tên gọi “Cách mạng trắng cho Việt Nam”; Đó là:“Khuyến khích các nhà đấu tranh dân chủ trong nước, thay vì tẩy chay, hãy mạnh dạn nhập cuộc vào trong Quốc hội để từ đó, thay đổi cơ chế chính trị, …. Tạo môi trường cho chính các đảng viên Cộng sản Việt Nam nhìn thấy vấn đề, … đứng lên thay đổi cơ chế chính trị như Gorbachev và Boris Yeltsin ở Nga hoặc Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương ở Trung Quốc …. Nếu muốn cho Việt Nam có một Gorbachev thì phải tạo cơ hội và nuôi dưỡng môi trường cho một Gorbachev được nẩy sinh”. Tại cuộc hội luận này Y đã giới thiệu, tuyên truyền và tặng cuốn “Cách mạng trắng” cho những người tham dự để tuyên truyền rộng rãi trong các hội, nhóm chống cộng cực đoan ở Mỹ và các nước cũng như các hội nhóm phản động, dân chủ cuội ở Việt Nam. Đến nay cuốn sách “Cách mạng trắng” vẫn đang được bán công khai trên mạng và nhiều cửa hàng sách tại Hoa Kỳ. Để tiếp tục luận điệu xuyên tạc và chuyển tải “Cách mạng trắng” với âm mưu bịa đặt xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử, từ 2019 trên nhiều diễn đàn, trang mạng xã hội, Y nhiều lần tuyên bố: “Trong giai đoạn 1954 đến 1975 Việt Nam có hai quốc gia. Những ai nói Việt Nam chỉ có một quốc gia là ngu dốt, là kẻ tội đồ của dân tộc, là kẻ phản quốc, là tiếp tay cho nước ngoài cướp Hoàng Sa, Trường Sa” ....

Ngày 26/4/2020 và ngày 31/10/2020 Y công khai tuyên bố từ bỏ Cách mạng trắng vì nó sai trái, phản động, không còn phù hợp nhưng ngay sau đó Y lại lập lờ, xảo trá rằng: “… Việt Nam khi phát động phong trào không cho các quan chức hạ cánh an toàn, đấu tranh chống tham nhũng… đó chính là đang làm Cách mạng trắng rồi (!)”. Nghe thoáng qua tưởng là Y ca ngợi Việt Nam chống tham nhũng nhưng thực ra, đây là hành vi đánh tráo khái niệm, tráo trở, lập lờ đổi trắng thay đen, lừa bịp quần chúng hết sức hèn hạ, nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải hết sức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc sự thật, bịa đặt lịch sử, bóp méo lịch sử, xét lại lịch sử của các thế lực thù địch đang muốn thực hiện cách mạng màu, “Cách mạng trắng” ở Việt Nam làm mất ổn định xã hội, gây nghi ngờ vào nền tảng tư tưởng của Đảng và mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Hơn bao giờ hết, mỗi công dân Việt Nam yêu nước hãy tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang kiên định mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, dân chủ, công bằng, phồn vinh hạnh phúc cho Nhân dân./.

Tổng tập hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

Với mong muốn thế hệ trẻ có thể hiểu sâu sắc và toàn diện về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dưới tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân vừa cho ra mắt cuốn “Tổng tập hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.

“Từ nhân dân mà ra” là phần mở đầu của cuốn hồi ký và cũng lý giải cho gốc tích của quân đội ta. Điện Biên Phủ - Võ Nguyên Giáp đã trở thành huyền thoại trong thế kỷ XX, truyền cảm hứng cho những người dân bị nô dịch quyết tâm lật đổ chế độ thực dân xây dựng nền độc lập của riêng mình. Cuốn hồi ký tái hiện sinh động, chân thực như những thước phim toàn cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là diễn biến của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ những ngày đầu gây dựng lực lượng, rèn giũa, thử lửa qua từng trận đánh, quân đội ta đã lớn mạnh chiến đấu kiên cường giành thắng lợi vang dội. Một đội quân được sinh ra từ lòng yêu nước và tinh thần quả cảm của nhân dân, được nhân dân nuôi nấng, đùm bọc yêu thương, chiến đấu bảo vệ nhân dân. Tình cảm quân dân quấn quýt, gắn bó đã nuôi dưỡng và là nguồn sức mạnh to lớn cho bộ đội cùng nhân dân ta bước vào chiến dịch.

“Những năm tháng không thể nào quên” là phần thứ hai của cuốn hồi ký. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành những trang viết trang trọng với sự biết ơn vô hạn tới Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc ta và người thầy vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dưới bàn tay chèo lái của Bác, sự lãnh đạo tài tình của Trung ương Đảng do Bác đứng đầu đã động viên khí thế sục sôi đánh Pháp của nhân dân ta. Hình ảnh Bác là sức mạnh tinh thần to lớn động viên quân và dân ta chiến thắng kẻ thù.

Phần thứ ba “Chiến đấu trong vòng vây” đã diễn tả chân thực những giai đoạn kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta, từ Việt Bắc Thu - Đông 1947 đến chiến dịch Biên giới 1950. Chúng ta đã từng bước giành chiến thắng, làm tiêu hao sức mạnh của quân địch. Qua từng chiến dịch, bộ đội ta đã trưởng thành, được tôi luyện ý chí chiến đấu. Dấu ấn lãnh đạo và tài chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được khẳng định qua từng chiến thắng. Năm năm chiến đấu trong vòng vây, từ ngày 23/9/1945 đến mùa hè năm 1950 đã đưa dân tộc thoát khỏi hiểm họa mất nước lần thứ hai. Tuy nhiên giới cầm quyền Pháp lúc này chưa hề cảm thấy đã tới lúc đạo quân xâm lược phải cuốn gói ra đi. Trong khi về phía quân và dân ta, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng đã hoàn toàn củng cố, nhưng chặng đường phía trước vẫn còn rất dài và lắm chông gai. Bằng tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm đánh Pháp của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đại tướng Võ Nguyên Giáp con thuyền cách mạng đã cập bến thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ.

“Đường tới Điện Biên Phủ” và “Điểm hẹn lịch sử” là phần thứ tư và thứ năm, đã ghi lại chặng đường đấu tranh cách mạng kiên cường mà anh dũng của quân và dân ta. Và chiến thắng Điện Biên phủ như một cái kết tất yếu cho một dân tộc yêu chuộng hòa bình, khát khao độc lập dân tộc. Điện Biên Phủ là điểm hẹn lịch sử. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là kết quả của sự kế thừa và sáng tạo nghệ thuật quân sự của cha ông ta: lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chuyển phương châm tác chiến “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc” góp phần quyết định giành thắng lợi.

“Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” là phần cuối cùng như bản hùng ca kết thúc cuộc kháng chiến 30 năm thắng hai “đế quốc to”, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi đã tạo niềm tin và khí thế cho quân và dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những dòng hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã miêu tả chân thực và rõ nét thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành một vị tướng lỗi lạc, tài ba, một nhà quân sự chiến lược dày dạn kinh nghiệm trong chỉ huy tác chiến. Cuốn “Tổng tập Hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp” đúng như một bộ phim toàn cảnh về 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Mở đầu là những năm tháng xây dựng lực lượng, trải qua bao chiến dịch để đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ và kết thúc mùa xuân toàn thắng 30/4/1975. Hiếm có một cuốn sách nào viết toàn cảnh về diễn biến của các chiến dịch lịch sử trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc mà lại được viết bởi chính vị Đại tướng - Tổng Tư lệnh của Quân đội nhân dân Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến. Đây thật sự là tài liệu quý để thế hệ trẻ hiểu được toàn diện mà sâu sắc về hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc./.

Quốc tế ca

 

"Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian" - Đó là lời đầu của bài thơ L’Internationale, dịch nghĩa là “Quốc tế” của Eugène Potier, một nhà thơ lớn, người chiến sĩ trung kiên của cách mạng vô sản Pháp. Lenin gọi Eugène Potier là “nhà tuyên truyền vĩ đại của cách mạng vô sản”.

Eugène Potier sinh năm 1816, trong một gia đình nghèo khổ ở Paris. Lớn lên trong giai đoạn bão táp đấu tranh giai cấp ở châu Âu cuối thế kỷ 19, phong trào cách mạng sôi nổi của Pháp lúc bấy giờ đã tác động đến Eugène Potier. Ông sớm tiếp thu tư tưởng của Marx và Engels, đã tham gia đấu tranh trên cả mặt trận tư tưởng và là người chiến sĩ cấm súng chiến đấu cho đến phút cuối cùng trong “Tuần lễ tháng 5 đẫm máu”.

Bài thơ “Quốc tế” được Eugène Potier viết năm 1871, sau khi Công xã Paris bị đàn áp dẫn đến thất bại. Eugène Potier chất chứa nỗi xót thương hàng triệu người nô lệ trên thế giới đang phải sống trong đói rét. Từ quá trình chiến đấu của mình, ông liên tưởng đến những người đồng chí vì theo đuổi chân lý mà dốc cạn bầu nhiệt huyết. Từ những ngày vui sướng giai cấp công nhân được làm chủ, ông liên tưởng đến cảnh huy hoàng khi giai cấp vô sản thế giới được hoàn toàn giải phóng. Công xã đã thất bại nhưng cách mạng sẽ tiếp tục.

Năm 1888, nhạc sĩ người Pháp Pierre Degayter, người phụ trách Đội hợp xướng Tiếng nói Công nhân ở thành phố Lille đã phổ nhạc bài thơ thành bài hát. Ngày 23/6/1888, Ban đồng ca công nhân của thành phố Lille đã biểu diễn lần đầu tiên bài ca “Quốc tế” trong Ngày hội công nhân của thành phố. Sau lần biểu diễn đầu tiên ấy, “Quốc tế ca” đã gây được tiếng vang rất lớn trong công nhân. Mọi người vô cùng yêu thích bài ca chiến đấu này. Từ đó, nó được lan truyền rất nhanh ở nước Pháp và các nơi trên thế giới, trở thành tiếng kèn lệnh chiến đấu của các chiến sĩ cộng sản và nhân dân lao động. Sức truyền cảm của điệu nhạc và lời ca đã có sức cổ vũ, động viên, kêu gọi mạnh mẽ tinh thần “vô sản thế giới đoàn kết lại”, lật đổ chế độ bóc lột, mang sức ta mà giải phóng cho ta.

Đầu thế kỷ XX, các đại biểu đi dự Quốc tế Cộng sản đã học thuộc “Quốc tế ca” đem về phổ biến ở đất nước mình. Năm 1902, “Quốc tế ca” được dịch ra tiếng Nga. Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (năm 1917), “Quốc tế ca” được lấy làm Quốc ca của Liên Xô. Đến năm 1944, sau khi Liên Xô thông qua bài Quốc ca mới, Đảng Cộng sản Liên Xô quyết nghị giữ bài “Quốc tế ca” làm Đảng ca.

Ở Việt Nam, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên phỏng dịch “Quốc tế ca” thành thơ lục bát và giới thiệu trên một số tờ báo vào năm 1927:

"Hỡi ai cực khổ đồng thời đứng lên!

Bất bình này chịu sao yên,

Phá cho tan nát một phen cho rồi!

Bao nhiêu áp bức trên đời,

Sạch sành sanh phá cho rồi mới tha!

Cuộc đời này đã đổi ra,

Xưa kia con ở nay là chủ ông!"

Khi Đảng cộng sản Đông Dương thành lập năm 1930, bài “Quốc tế ca” được bí mật phổ biến và sau đó được hát công khai trong những cuộc biểu tình. Trong những năm đấu tranh cách mạng gian khổ, “Quốc tế ca” là nguồn an ủi, sự thúc giục góp phần giữ vững ý chí chiến đấu cho biết bao chiến sĩ cách mạng trung kiên. Bị giặc bắt, họ hát “Quốc tế ca”. Khi ra trước tòa án, khi ra pháp trường, “Quốc tế ca” vang lên một cách hiên ngang, bất khuất. Trong nhà tù, họ dạy nhau hát “Quốc tế ca” để giữ vững tinh thần. Khi mít tinh, biểu tình, “Quốc tế ca” vang lên để tập hợp quần chúng đấu tranh.

“Quốc tế ca” là một tác phẩm âm nhạc phổ biến khắp thế giới. Âm nhạc và thơ ca ở đây không còn là nghệ thuật đơn thuần mà đã trở thành một vũ khí đấu tranh thực sự. Các bản dịch khác nhau đã được các đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất, hoàn chỉnh lại như lời ca hiện nay:

“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian!

Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn!

Sục sôi nhiệt huyết trong tim đầy chứa rồi.

Quyết phen này sống chết mà thôi.

Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành

Toàn nô lệ vùng đứng lên đi.

Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa

Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình.

Đấu tranh này là trận cuối cùng

Kết đoàn lại để ngày mai

L'Anh-te(rơ)-na-xi-o-na-lơ

Sẽ là xã hội tương lai.

Đấu tranh này là trận cuối cùng

Kết đoàn lại để ngày mai

L'Anh-te(rơ)-na-xi-o-na-lơ sẽ là xã hội tương lai”./.

Hiện tượng Quốc kỳ

 

Theo John (phóng viên người Anh thường trú tại Việt Nam) thì có lẽ trên thế giới này hiếm có một dân tộc nào lại yêu quý lá Quốc Kỳ của dân tộc mình hơn người dân Việt Nam ....

Ông viết: "Tôi đã từng tác nghiệp khắp nơi trên thế giới - nhưng khi đến Việt Nam thì mới thực sự choáng ngợp về người dân nơi đây. Ngày Tết - khắp nơi trên cả nước Việt Nam treo cờ, ngày Quốc Khánh, ngày Giải Phóng Miền Nam 30/4, ngày lễ hội truyền thống ở địa phương ..., đặc biệt nhất là những khi đất nước này có dịp ăn mừng về đội tuyển bóng đá của họ sau mỗi trận đấu hoặc khi đón đoàn cầu thủ từ nước ngoài trở về .... Ở đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng, ở đâu cũng thấy những khuôn mặt hân hoan rạng ngời, không kể thanh niên mà có cả người già, trẻ em .... Tôi nghĩ: Việt Nam không phải là một quốc gia quá hâm mộ bóng đá - nhưng phải thừa nhận họ quá hâm mộ lá cờ đỏ sao vàng - bởi vậy cho nên họ chỉ đợi những dịp nào đó để họ có lý do, có cái cớ ... để được mang lá cờ của mình ra cùng hò hét với mọi người .... Tôi đã từng đi lọt vào giữa biển người, biển cờ trong những đêm Hà Nội không ngủ - tôi mới cảm nhận rằng ở đất nước này có một tinh thần dân tộc vô cùng to lớn - tinh thần đó không thể nào là tự phát, không thể chỉ có được một vài trăm năm - tinh thần đó chắc chắn đã có trong mỗi con người ở dân tộc này từ ngàn đời vì vậy mới thấm được ... như một thứ văn hoá truyền thống được kế thừa từ đời này qua đời khác .... Đó chính là một tinh thần đoàn kết - người dân họ chỉ mượn sự kiện để được cầm cờ, mượn được cầm cờ để được hoà mình vào không khí gắn bó tinh thần dân tộc triệu người như một - Chắc cũng bởi thế cho nên ... dân tộc này mới đánh đuổi tất cả những giặc ngoại xâm hùng mạnh nhất ra khỏi bờ cõi ...".

Nội dung bài viết đó của John đã cung cấp chất liệu và tạo cảm hứng cho bài thơ “Hiện tượng Quốc kỳ” đăng trên trang Zalo của bạn Huyen – Cham, như sau:

Tôi đã đi khắp nẻo thế gian

Thấy một dân tộc Việt Nam kỳ lạ

Cờ Tổ quốc sao mà thiêng liêng quá!

Bay rợp trời rực đỏ cả rừng hoa

Thế giới này tôi đã đi qua

Đến Việt Nam mới vỡ oà cảm xúc

Dòng sông đỏ chẳng bao giờ kết thúc

Khắp nẻo đường, góc phố bản trường ca.

Tôi nghĩ rằng: Hiếm có một quốc gia

Cờ tổ quốc nhìn đâu cũng thấy

Sao kỳ vĩ và thiêng liêng đến vậy?

Sự kiện gì cũng lấy cớ để yêu!

Gương mặt hân hoan rạng rỡ hò reo

Phút chiến thắng như quên đi tuổi tác

Từ em nhỏ đến cụ già tóc bạc

Bỗng thăng hoa trong giờ phút ăn mừng .

Có đất nước nào cờ tổ quốc thành rừng?

Âm ỉ cháy rồi sáng bừng dân tộc

Trong huyết mạch của “đồng bào gan góc”

Truyền thống ngàn năm vun đắp, kế thừa.

Bạn đã bao giờ thử cảm giác này chưa?

Lạc vào giữa biển người Hà Nội

Cùng phố phường dòng người rong ruổi

Thức trắng đêm để hò hét tưng bừng .

Bạn của tôi ơi! Sao các bạn chưa từng?

Một lần đặt chân lên hình chữ S

Để cảm nhận muôn điều khác biệt

Sẽ phải trầm trồ: Sao tuyệt đến ngạc nhiên!

Ngọn cờ đào là huyết mạch thiêng liêng

Để gắn kết triệu người như một

Một bó đũa sẽ trở thành rường cột

Dân tộc này có một không hai!

Giáo sư Trần Văn Khê

 

Giáo sư Trần Văn Khê là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung ra thế giới.

Một lần ông được mời dự buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản, tổ chức tại Paris (Pháp), tham dự hầu hết là người Nhật và người Pháp, duy chỉ mình ông là người Việt. Diễn giả hôm đó là một cựu Thủy sư Đề đốc người Pháp đã mở đầu bài thuyết trình bằng câu: “Thưa quý vị, tôi là Thủy sư Đề đốc đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy một rừng văn học, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm với chỉ 31 âm tiết. Chỉ hai điều này thôi, các nước khác không dễ có được...". Lời phát biểu đó đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Khi đến phần giao lưu, ông xin phép được bày tỏ: "Thưa ông Thủy sư Đề đốc, ông nói rằng ông đã ở Việt Nam cả 20 năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Chẳng biết khi ngài qua Việt Nam, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của nước Việt? Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách .... Phải chi ngài chơi với giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm 1300 sách báo về văn chương Việt Nam mà giáo sư đã in trên Tạp chí Viễn Đông Bác cổ của Pháp. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông ấy đã cất công sưu tập .... Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng vạn áng văn kiệt tác ....". Giáo sư Trần Văn Khê tiếp tục chia sẻ với giọng nói đanh thép: "Ngài nói trong thơ Tanka, chỉ cần một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Tôi chỉ là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng với kiến thức văn chương học thời trung học cũng đủ để trả lời ngài: Việt Nam có câu: “Đêm qua mận mới hỏi đào/Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Trai gái thường mượn hoa lá để bày tỏ tình cảm. Còn về số âm tiết, tôi nhớ sử Việt Nam chép rằng ông Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên (Trung Quốc) gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:

Thanh thiên nhất đóa vân

Hồng lô nhất điểm tuyết

Thượng uyển nhất chi hoa

Dao trì nhất phiến nguyệt

Y! Vân tán, tuyết tiêu

Hoa tàn, nguyệt khuyết.”

Khi Giáo sư Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông Thủy sư Đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam". Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”. Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”./.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐÊM 18, RẠNG SÁNG 19/12/1972 "B-52 ĐẦU TIÊN BỊ BẮN RƠI TẠI CHỖ TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI"!

     Từ 19h25 đến 20h18 ngày 18-12-1972, nhiều tốp B-52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm. Trung đoàn Tên lửa 261 được lệnh tiêu diệt tốp máy bay này. Một kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 59 đã phóng 2 quả đạn, hạ 1 B-52, là “siêu pháo đài bay” đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.

Đêm 18 rạng sáng 19-12-1972, Mỹ huy động 90 lần chiếc B-52 ném 3 đợt bom xuống Hà Nội, xen kẽ có 8 lần chiếc F-111 và 127 lần chiếc máy bay cường kích, ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm của Thủ đô, 85 khu vực dân cư, làm chết 300 người. 

Quân và dân ta đã bắn rơi 6 máy bay các loại, trong đó có 3 B-52 (2 chiếc rơi tại chỗ)./.
Yêu nước ST.

 

Thư viện tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Trung đoàn 937 tổ chức trưng bày, giới thiệu tài nguyên thông tin và phục vụ xe Thư viện lưu động

Trong 2 ngày (18 và 19-12), Thư viện tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Trung đoàn 937, Sư đoàn 370 tổ chức trưng bày, giới thiệu tài nguyên thông tin và phục vụ xe Thư viện lưu động nhân kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2023) và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2023).

Thư viện tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Trung đoàn 937 tổ chức trưng bày, giới thiệu tài nguyên thông tin và phục vụ xe Thư viện lưu động
Thượng tá Nguyễn Trọng Đoàn - Phó Chính ủy Trung đoàn 937 phát biểu tại buổi trưng bày, giới thiệu.

Thư viện tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Trung đoàn 937 tổ chức trưng bày, giới thiệu tài nguyên thông tin và phục vụ xe Thư viện lưu động
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 937 đọc sách.

Với mô hình trưng bày sách, chiếu phim tư liệu và phục vụ xe Thư viện lưu động đã thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tham gia. Đợt trưng bày tài liệu đã giới thiệu đến cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn hơn 300 tài liệu về lịch sử truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam; truyền thống tốt đẹp về phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", những chiến thắng và dấu son chói lọi trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, những con người huyền thoại… nhằm giáo dục truyền thống, nâng cao nhận thức, lòng tự hào dân tộc, tình cảm và trách nhiệm của thế hệ hôm nay với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Thông qua hoạt động trưng bày giới thiệu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng cán bộ chiến sĩ; trực tiếp góp phần tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phổ biến công nghệ, kỹ thuật mới, giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng và phát triển phong trào văn hóa đọc sách báo nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, tiếp tục phát huy truyền thống, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", "Người chiến sĩ Phòng không - Không quân ưu tú".

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 19/12 "QUYẾT TỬ ĐỂ TỔ QUỐC QUYẾT SINH"!

     Tháng Tám năm 1945, chớp thời cơ “ngàn năm có một”, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi toàn quốc, xóa bỏ ách cai trị của đế quốc phát xít, đồng thời lật đổ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á!
Nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, hòng khôi phục chế độ cai trị như trước. Trải qua một thời gian chúng ta nhân nhượng để ra sức chuẩn bị tiềm lực mọi mặt, ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đây là sự kiện quan trọng, là bước chuyển của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam sang thời kỳ mới.

SÁCH LƯỢC HÒA HOÃN VÀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TIỀM LỰC CHO KHÁNG CHIẾN
Sau khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế hết sức hiểm nghèo. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, hơn 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch tràn vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng nuôi dưỡng mưu đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền tay sai. Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân đội Anh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, nhưng thực chất là “dọn đường”, giúp đỡ thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.
Ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, tăng cường sử dụng biện pháp quân sự mở rộng phạm vi chiếm đóng toàn Nam Bộ. Trong khi giặc ngoại xâm đang ồ ạt tràn vào, tiềm lực mọi mặt của Nhà nước cách mạng lại chưa được củng cố: ngân sách cạn kiệt; nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá nặng nề; sản xuất đình trệ, nạn đói chưa được khắc phục; hơn 90 % dân số chưa biết chữ; những tệ nạn của chế độ cũ để lại (mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút...) còn phổ biến. Tất cả những khó khăn chồng chất trên đã đặt nước Việt Nam vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. 
Tuy nhiên, đất nước cũng có những thuận lợi cơ bản: Nhân dân đã giành quyền làm chủ và bước đầu được hưởng những quyền lợi do chế độ mới đem lại nên rất quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng. Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới đang hình thành. Phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản.
Trên cơ sở phân tích rõ những thuận lợi và khó khăn, Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ quan trọng trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống của Nhân dân, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến lâu dài.
Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng đề ra, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện sách lược hòa hoãn linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết đối với cả thực dân Pháp và Tưởng Giới Thạch. Từ ngày 23/9/1945 đến tháng 2/1946, ở miền Bắc, ta chấp nhận nhượng bộ cho quân đội Tưởng Giới Thạch và các phần tử tay sai của chúng một số quyền lợi chính trị, kinh tế như: Đặc cách cho một số ghế bộ trưởng trong chính phủ và 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử; nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm; nhận tiêu tiền “quan kim”, “quốc tệ” của quân Tưởng...
Mặt khác, Trung ương Đảng chỉ đạo quân dân ta ở miền Nam kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Một số đội quân chủ lực “Nam tiến” đã được Đảng và Chính phủ ta điều động từ miền Bắc vào sát cánh cùng đồng bào miền Nam đánh giặc cứu nước. Đến tháng 2/1946, thực dân Pháp đã ký hiệp ước thỏa hiệp thay thế quân Tưởng Giới Thạch ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, chuẩn bị mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô cả nước. Trước bối cảnh lịch sử mới, từ tháng 3/1946 đến tháng 11/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) nhượng bộ cho quân Pháp một số quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm nhanh chóng đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, kéo dài thêm thời gian hòa hoãn.
Tranh thủ thời gian hòa bình, nhân dân Việt Nam ra sức củng cố tiềm lực mọi mặt, chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến với Pháp. Việc chăm lo xây dựng quân đội cách mạng làm nòng cốt cho kháng chiến được Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Ngày 22/5/1946, Chính phủ ra sắc lệnh quy định Vệ quốc đoàn (còn gọi Vệ quốc quân) chính thức trở thành Quân đội quốc gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngoài ra, cách mạng còn có gần một triệu hội viên thuộc lực lượng dân quân tự vệ khắp cả nước, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh trong những chặng đường về sau.

KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC BÙNG NỔ (19/12/1946) - BƯỚC CHUYỂN LỚN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động khiêu khích, công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với nước ta. Tháng 11/1946, chúng ngang nhiên đưa lực lượng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường, chiếm một số trụ sở của Chính phủ cách mạng. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.
Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định lịch sử: phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến, khẳng định rõ:
“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.
Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta ở các tỉnh bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn. Tại Thủ đô Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu toàn thành, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Dù quân ta trang bị vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, chiến sĩ ta có sự hỗ trợ tích cực của nhân dân vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, nhà bưu điện... diệt nhiều địch, gây hoang mang cho kẻ thù.
Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng đánh giặc cứu nước với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Đến tháng 2/1947, khi địch tăng viện phá vòng vây, lực lượng ta được lệnh rút về hậu phương, cuộc chiến đấu trong các đô thị tạm thời kết thúc để chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới.
Trải qua gần hai tháng liên tục chiến đấu, quân dân ta giành thắng lợi quan trọng: thực hiện tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch trong thành phố, làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, vật chất (ta đã vận chuyển được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên liệu ra vùng căn cứ); tranh thủ thời gian tổ chức cho hàng chục vạn Nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài.
76 năm đã trôi qua, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc cũng như giá trị lịch sử ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Sự kiện đã góp phần khẳng định đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cuộc đụng đầu lịch sử với thực dân Pháp. Mặt khác, thắng lợi của toàn quốc kháng chiến là thắng lợi đầu tiên trong cuộc trường chinh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), tạo cơ sở vững vàng cho ta giành được thành quả cách mạng trong những chặng đường tiếp theo.
Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng; tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, tạo tiềm lực to lớn cho đất nước; không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước./.
Yêu nước ST.