Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

Lợi dụng cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để thúc đẩy “diễn biến hòa bình” - một thủ đoạn thâm độc

 Thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta là chiêu trò thường thấy trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Hiện nay, lợi dụng các hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên cũng như kết quả phòng, chống vấn nạn này để chống phá là thủ đoạn rất thâm độc và nguy hiểm. Vì vậy, nhận diện và kiên quyết đấu tranh với những thủ đoạn đó, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị của đất nước và củng cố niềm tin của nhân dân là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng.

Tham nhũng, tiêu cực và “diễn biến hòa bình” là hai trong bốn nguy cơ đã được Đảng ta chỉ ra từ giữa nhiệm kỳ Đại hội VII (tháng 01/1994), đến nay “vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”1. Tuy hai nguy cơ này xuất phát từ hai chủ thể khác nhau, một là từ chiến lược phản động của các thế lực thù địch bên ngoài, một là “giặc nội xâm”, nhưng lại có quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình” là thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà tham nhũng, tiêu cực là một trong những biểu hiện của nó. Đồng thời, các thế lực thù địch lại triệt để lợi dụng chính các hành vi, kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để tạo ra các hoạt động chống phá trong chiến lược của họ. Đây thực sự là một thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

Để thực hiện mưu đồ đó, họ đưa ra các luận điệu xuyên tạc rằng: “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ một đảng ở Việt Nam”; hoặc “Việt Nam không thể phòng, chống tham nhũng thành công; Việt Nam càng chống, tham nhũng càng nặng, bởi vì đó là căn bệnh kinh niên của chế độ một đảng cầm quyền”. Họ còn cho rằng, thực chất cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ”, “triệt hạ lẫn nhau” trong Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. Từ đó, họ công kích chế độ, kêu gọi Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị, thực hiện đa đảng, tam quyền phân lập,... thì mới có thể chống được tham nhũng, tiêu cực.

Cần khẳng định rõ, những luận điệu trên là hết sức thâm độc, xảo trá, phản động, xuyên tạc những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hòng chia rẽ nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, từng bước hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích của họ là từng bước phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vậy tại sao các thế lực thù địch lại lợi dụng, xoáy sâu vào vấn đề tham nhũng, tiêu cực? Bởi vì, đây luôn là vấn đề “rất nóng”, được dư luận hết sức quan tâm; đó còn là biểu hiện tập trung nhất, rõ ràng nhất của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; là “nguyên liệu”, “mảnh đất màu mỡ”, “cái cớ” để các thế lực thù địch, cơ hội, những kẻ “trở cờ”, bất mãn với chế độ sử dụng tối đa nhằm thổi phồng khuyết điểm, bôi nhọ, xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; bản chất giai cấp công nhân, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt khác, đấu tranh loại trừ tham nhũng, tiêu cực vốn đã là khó khăn, lâu dài, gay go, quyết liệt, vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, nó là “giặc nội xâm”, nhiệm vụ chống lại nó “cũng cần kíp như đánh giặc trên mặt trận” thì các luận điệu này càng làm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thêm khó khăn, phức tạp, thậm chí nhiễu loạn trong nhân dân, chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên. Nếu chúng ta không tỉnh táo, không phân biệt đúng, sai, thật, giả, sẽ rất dễ mắc bẫy của kẻ thù; mà hậu quả là bất ổn về kinh tế, chính trị, thậm chí rối loạn, dẫn đến mất vai trò lãnh đạo của Đảng, sụp đổ chế độ. Vì vậy, cần nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc sai trái, lợi dung cuộc chiến này để thực hiện “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Chúng ta đều biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với quyền lực, là “khuyết tật bẩm sinh”, sự tha hóa của quyền lực mà bất kể chế độ xã hội nào trên thế giới cũng đều phải đương đầu với nó. Chính vì thế, tham nhũng không phải là sản phẩm riêng có của chế độ “độc đảng”, hay “bản chất” của thể chế nhất nguyên chính trị như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, rêu rao. Thực tiễn đã chứng minh, dù là các nước phát triển, đang phát triển, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, như: Nhật Bản, Hàn Quốc; hay nhất nguyên chính trị như Trung Quốc, hoặc như các nước có nền kinh tế phát triển cao, thực hiện tam quyền phân lập như ở châu Âu, Bắc Mỹ,... cũng đã và đang phải đương đầu với tệ tham nhũng. Tham nhũng đã từng làm rối ren xã hội, khuynh đảo thể chế chính trị, thậm chí là sụp đổ chính quyền ở một số nước trên thế giới.

Hiện nay, dù có những cách hiểu và diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung lại, đều thống nhất: tham nhũng luôn gắn liền với quyền lực và lợi ích cá nhân; tham ô, tham nhũng đều có bản chất, nguồn gốc là hành vi của những người có chức, có quyền, lợi dụng chức, quyền đó cấu kết để tham ô, nhận hối lộ, cố ý làm trái pháp luật để vụ lợi; lấy “của công làm của tư”, bòn rút ngân sách của nhà nước, tài sản của tập thể để làm của tư, hoặc của một nhóm người. Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm cho thấy, tình trạng tham nhũng diễn ra ở rất nhiều nước trên thế giới, nếu năm 2020, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100, thì năm 2022, mặc dù có tiến bộ ở nhiều nước, nhưng vẫn không khả quan. Theo thang điểm từ 0 (tham nhũng cao) đến 100 (rất minh bạch), thì chưa có nước nào đạt 100 điểm, cao nhất cũng chỉ đạt 90 điểm (Đan Mạch)2. Ở nhiều nước có chế độ đa đảng, thường xuyên được xếp hàng cao của thế giới về chống tham nhũng, như: Phần Lan, New Zealand, Singapore, Thụy Điển, Na Uy, Úc, Canada,... nơi được cho là dân chủ, minh bạch và có các quy định rất chặt chẽ về phòng, chống tham nhũng, nhưng tham nhũng vẫn còn tồn tại, thậm chí trầm trọng hơn nhiều nước khác. Trên thực tế, đã có nhiều quan chức cấp cao, cả nguyên thủ quốc gia của một số nước phát triển cũng “dính” vào tham nhũng, bị pháp luật xử lý.

Vì lẽ đó, tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội, được cho là “quốc tế nạn”, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực diễn ra ở tất cả các quốc gia, bất kể theo thể chế chính trị nào, một đảng hay đa đảng. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nếu có khác biệt, thì chỉ là ở mức độ và ảnh hưởng nhiều hay ít mà thôi.

Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi tham ô, tham nhũng, lãng phí là “giặc nội xâm”. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và chính phủ”3. Vì vậy, nó rất nguy hiểm, thậm chí là nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm, bởi nó nảy sinh, tồn tại, phát triển một cách ngấm ngầm ngay trong hàng ngũ của chúng ta, nó diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trên tất cả các lĩnh vực, gắn liền với quyền lực, chức vụ, nơi mà hầu hết do đảng viên của Đảng đảm nhiệm. Những năm gần đây, đặc biệt là từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư là Trưởng ban, đã lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong 10 năm (từ năm 2012 đến 2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến tháng 5/2022, đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Trong 6 tháng đầu năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra 452 vụ án/1.409 bị can về các tội tham nhũng (tăng 155 vụ/727 bị can so cùng kỳ năm 2022).

Kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”. Cũng có nghĩa, không hề có chuyện “phe phái”, “đấu đá, thanh trừng nội bộ”; tất cả, dù là ai, làm gì, ở đâu, khi sai phạm đều bị xử lý nghiêm khắc. Chính những hành động quyết liệt, kiên trì, bền bỉ, bài bản, thận trọng, chắc chắn và kết quả đạt được của Việt Nam, mà trong báo cáo của Tổ chức Minh bạch quốc tế, năm 2022, Việt Nam tăng 03 điểm CPI so với năm 2021, từ 39 lên 42 trên thang điểm 100 và tiến 10 bậc trên bảng xếp hạng, từ vị trí thứ 87/180 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2021, lên 77/180, thuộc nhóm nước có tiến bộ nổi bật, cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam những năm qua4. Các nước, các tổ chức quốc tế đánh giá rất cao sự nỗ lực, cố gắng và những kết quả phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam, cho rằng: công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực của Việt Nam hiện nay là “mạnh mẽ hơn lúc nào hết”; “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam đang phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và theo một cách có hệ thống”.

Như vậy, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhận rõ tính chất nguy hại của tham nhũng, tiêu cực. Từ đó, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, với ý chí, quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao; với tinh thần đấu tranh không “ngừng”, không “nghỉ” như chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đến nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Đây chính là minh chứng sinh động, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, lợi dụng cuộc chiến này để thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN VĂN THÀNH, Học viện Quốc phòng

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc chủ trương của Đảng về “dân thụ hưởng”

 Chủ trương “dân thụ hưởng” là một điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Điều đó, khẳng định sự nhất quán từ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên đều hướng tới mục đích cao cả là vì hạnh phúc của nhân dân; nhân dân thực sự được hưởng mọi thành quả của sự nghiệp cách mạng. Song hòng chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức bóp méo, xuyên tạc chủ trương này. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng hết sức nguy hiểm, cần kiên quyết vạch trần, bác bỏ.

Kế thừa quan điểm các kỳ đại hội trước và tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới đất nước, Đại hội XIII của Đảng bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, đó là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”1. Đây không chỉ là sự hoàn thiện chủ trương của Đảng trong thực hành dân chủ, tạo cơ sở chính trị, pháp lý thuận lợi để tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ và vai trò chủ thể của nhân dân, mà còn là sự cụ thể, hiện thực hóa, khẳng định mục tiêu quan trọng tối thượng của cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã lựa chọn là vì lợi ích của nhân dân: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, v.v. Song với mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình xuyên tạc rằng chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước ta chỉ là hình thức, là khẩu hiệu suông, là “chiêu trò” mị dân, lợi dụng dân để củng cố địa vị của giai cấp và thu lợi cho mình. Đặc biệt, lợi dụng tình hình đời sống một bộ phận nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn; nhất là khi Đảng, Nhà nước ta quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đã phanh phui, đưa ra xét xử một số vụ án lớn, trong đó có một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang, các thế lực chĩa mũi rêu rao: chỉ “quan mới được hưởng thụ”, còn dân vạn đời vẫn chỉ nghèo khổ mà thôi; rằng, khẩu hiệu mà Đảng Cộng sản nêu ra chỉ lừa bịp, mị dân, ru ngủ dân để rồi cai trị dân, bao nhiêu quyền hành, bao nhiêu lợi ích quan đều hưởng hết. Thậm chí có kẻ còn “ác khẩu” cho rằng cần sửa lại chủ trương “dân thụ hưởng” thành “quan thụ hưởng”, v.v. Chúng ta không lạ gì những luận điệu, chiêu trò này của các thế lực thù địch; đó hoàn toàn là sự suy diễn, quy chụp thiếu khách quan, lấy hiện tượng quy bản chất, “gắp lửa bỏ tay người”; mục đích của họ không có gì khác là phủ nhận tất cả những nỗ lực và thành quả đạt được mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng, nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Song, thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của gần 40 năm đổi mới đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu xuyên tạc này.

“Dân thụ hưởng” là mục tiêu cao cả của cách mạng Việt Nam, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân; kế thừa truyền thống của dân tộc và từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân, quần chúng vừa là động lực, vừa là chủ thể thực hiện và thụ hưởng chính thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, vì vậy “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách,... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”2. Quan điểm đó được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng, đạo đức, phong cách, mọi việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vì dân, vì nước: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”3. Người cũng yêu cầu Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, cán bộ, đảng viên phải làm cho các giá trị về tự do, độc lập không chỉ là khẩu hiệu cách mạng, mà phải được hiện thực hóa trên thực tế để nhân dân, đồng bào mình được thụ hưởng những giá trị to lớn của nền độc lập, của thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là: tự do, hạnh phúc, cơm ăn, áo mặc, cơ hội được học hành, phát triển toàn diện cá nhân, v.v. Thấm nhuần tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương châm “dân thụ hưởng” luôn được thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân”4. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng là vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã bổ sung, hoàn thiện, yêu cầu phải thực hiện tốt phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Chủ trương này không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và các nguồn lực trong nhân dân trong tiến trình hiện thực hóa các chủ trương, quyết sách của Đảng vào cuộc sống. Không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng, mà chủ trương “dân thụ hưởng” còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Ngay ở Điều 1, Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, đã khẳng định: “... Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”, v.v. Điều này khẳng định, “dân thụ hưởng” là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã và đang từng ngày, từng giờ được hiện thực hóa ở Việt Nam. Nó không phải là khẩu hiệu suông!

“Dân thụ hưởng” được bảo đảm trên thực tế. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam là toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... song có thể thấy rõ nhất là đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên rõ rệt. Mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề nhưng nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Các chỉ số cơ bản thể hiện quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân đều tăng dần qua từng năm: năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm phát triển con người cao (đạt mức 0,703), nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển; chỉ số hạnh phúc (các tiêu chí được đánh giá, gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng) của nước ta cũng liên tục tăng tới 12 bậc, từ vị trí 77 năm 2022 lên vị trí 65/150 quốc gia trong năm 2023. Liên hợp quốc đánh giá và công nhận Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ trung bình tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020); chỉ số giáo dục Việt Nam tăng từ 0,618 (năm 2016) lên 0,640 (năm 2020); chỉ số thu nhập tăng 0,624 (năm 2016) lên 0,664 (năm 2020). Tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD của Mỹ đánh giá chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể: có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia (năm 2021), v.v. Điều đó cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững, thực chất. Cùng với đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người; xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý đất nước, xã hội là để mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Đồng thời, thực hiện tốt đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh để mỗi người dân Việt Nam đang hàng ngày, hàng giờ được thực sự thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả lao động của mình. Đặc biệt, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, dịch bệnh (đặc biệt là đại dịch Covid-19) khiến đời sống vô cùng khó khăn thì Đảng, Nhà nước đều kịp thời có các chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ; các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và toàn xã hội đều đoàn kết, giang tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mọi người dân Việt Nam không ai bị bỏ lại phía sau, đều bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí minh: “dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”5, v.v.

Thực tiễn trên là con số biết nói, được các quốc gia, tổ chức uy tín thế giới; ngay cả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng phải thừa nhận. Đó là minh chứng rõ ràng nhất, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa quan điểm, chủ trương “dân thụ hưởng” của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, khẳng định chủ trương “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, hay khẩu hiệu để hô hào, mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam; không thủ đoạn xảo trá nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Đại tá NGÔ ĐÌNH PHIẾM - Trung tá VŨ VĂN BÁCH*

Bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là chủ trương nhất quán của Việt Nam

 Kỷ niệm 75 năm Ngày Nhân quyền thế giới - ngày ra đời Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (10/12/1948 - 10/12/2023), Việt Nam chúng ta tự hào là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, nỗ lực bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả trong nước và trên thế giới. Những nỗ lực đó góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và là minh chứng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về vấn đề quyền con người ở Việt Nam.

Tôn trọng, bảo đảm quyền con người là quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta; được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ; được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; được thực hiện tích cực, có trách nhiệm trong quá trình triển khai các nghĩa vụ và cam kết quốc tế về quyền con người.

Ngay từ bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người đã được khẳng định như một chân lý vĩnh cửu và phổ biến: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”1. Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta cũng khẳng định: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”2. Kể từ đó đến nay, với nhận thức “quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”3, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người4 cùng nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản về lao động. Trên cơ sở đó, Việt Nam đã nỗ lực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người nhằm bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế, phù hợp với điều kiện đặc thù của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 là đỉnh cao của hoạt động lập hiến về quyền con người khi dành tới 36/120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung, ban hành các luật, bộ luật trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

Bên cạnh việc hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, với sự nhất quán về chính sách coi “con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”5, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người cả ở trong nước và trên thế giới. Việt Nam đã đảm nhận thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 và tiếp tục được tín nhiệm giữ vai trò này trong nhiệm kỳ 2023 - 2025. Cần lưu ý rằng, để trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quốc gia ứng viên phải đạt được những tiến bộ vượt bậc trong hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước; đồng thời, phải có đóng góp, đưa ra nhiều sáng kiến và tích cực hành động thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu. Bởi vậy, việc Việt Nam hai lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng cho những nỗ lực tích cực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực quyền con người suốt nhiều năm qua; đồng thời, khẳng định sự coi trọng của bạn bè quốc tế đối với vị thế của Việt Nam trong các hoạt động thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Trên thực tế, kể từ khi gia nhập Liên hợp quốc (năm 1977) đến nay, Việt Nam đã luôn chứng tỏ là một thành viên có trách nhiệm với công tác bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, thông qua việc tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người; đồng thời, đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở trong nước, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Công cuộc đổi mới được Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện trong 37 năm qua với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đều hướng vào mục tiêu bảo đảm, bảo vệ các quyền của người dân. Đúng như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Nhân quyền lớn nhất ở Việt Nam là lo cho 100 triệu dân ấm no, và hạnh phúc, dân chủ, cuộc sống bình yên, an ninh, an toàn, an dân, phát huy tối đa yếu tố con người, đó là điều quan trọng nhất”6. Còn ông Jean Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt thì nhấn mạnh: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”7. Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị được bảo đảm, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, được thực hiện minh bạch trong thực tiễn. Theo đó, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; mọi công dân không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, nếu đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Các quyền con người, quyền công dân về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Nếu thu nhập bình quân đầu người (GDP) trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD. Nhờ đó, đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Tiến bộ và công bằng xã hội đạt nhiều kết quả ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% (năm 1993) xuống dưới 03% (năm 2020) theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đứng thứ 115/191 quốc gia trong bảng xếp hạng, thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng HDI nhanh nhất thế giới giai đoạn 1990 - 2021. Các vấn đề an sinh xã hội cũng luôn được quan tâm chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay của đại dịch Covid-19, trở thành một trong những điểm sáng của Việt Nam được quốc tế ghi nhận. Để bảo đảm quyền được sống của người dân trước sự lây lan nhanh chóng của đại dịch Covid-19, Chính phủ Việt Nam đã coi việc bảo vệ sức khỏe, quyền lợi của người dân là ưu tiên cao nhất trong mọi chính sách, chương trình hành động. Ở một số thời điểm, Chính phủ chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế đất nước để bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, bảo đảm an toàn, ổn định xã hội nhằm hỗ trợ cho người lao động và doanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch, bảo đảm đời sống và an toàn cho người lao động. Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP, ngày 01/7/2021 của Chính phủ “Về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” đã đến tay 36,5 triệu người dân trên cả nước, 394.000 đơn vị sử dụng lao động và 500.000 hộ kinh doanh với tổng số tiền là 45.600 tỉ đồng8, là một minh chứng cụ thể cho những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người. Đánh giá sự tiến bộ của Việt Nam trên lĩnh vực này, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn của VOV vào ngày 12/9/2023 về mối quan hệ hợp tác Việt Nam - UNDP trong 45 năm qua (1978 - 2023) và những triển vọng trong thời gian tới đã khẳng định: “Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó”.

Cùng với các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa nói trên, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền con người, quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được khẳng định tại Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng; nhờ đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì đến năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo được tổ chức, thu hút hàng vạn tín đồ, nhân dân tham dự. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm; xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ; 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tính đến cuối năm 2022, nước ta có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó, có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 cán bộ đã được cấp thẻ nhà báo9. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam lên đến 72,1 triệu người, chiếm khoảng 73,2% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng, internet và chỉ số trung bình thời gian sử dụng internet của người Việt Nam ở mức cao (khoảng 07 giờ/ngày) là minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Với tư cách là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền, trong nhiệm kỳ 2014 - 2016, Việt Nam đã có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người; là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết, hoặc trực tiếp là tác giả một số nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua bằng đồng thuận. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã tự nguyện thực hiện 03 lần công bố Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) và tích cực thực hiện hầu hết các khuyến nghị của Hội đồng Nhân quyền sau các kỳ báo cáo; đồng thời, đang tích cực chuẩn bị để hoàn thành đúng hạn nghĩa vụ báo cáo quốc gia chu kỳ IV theo Cơ chế này. Bên cạnh đó, từ tháng 6/2014 đến nay, Việt Nam đã cử hàng trăm lượt sĩ quan, nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại hai Phái bộ ở Cộng hòa Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, thể hiện trách nhiệm đối với việc bảo vệ quyền con người trên phạm vi quốc tế. Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025, Việt Nam đã chứng tỏ ngay vai trò của mình trong lĩnh vực quyền con người trên phạm vi toàn cầu khi hỗ trợ khẩn cấp Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sau thảm họa động đất diễn ra ngày 06/02/2023. Thêm nữa, việc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ngày 03/4/2023 đồng thuận thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (VDPA) do Việt Nam đề xuất và soạn thảo là dấu ấn nổi bật của Việt Nam ngay trong khóa họp đầu tiên đảm nhận cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Tất cả những nỗ lực đó của Việt Nam trên lĩnh vực nhân quyền là minh chứng thuyết phục khẳng định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở trong nước, cũng như trên phạm vi thế giới là nhất quán và liên tục. Những nỗ lực đó góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu; đồng thời, là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

NGUYỄN NGỌC HỒI

VỤ VIỆC CÔ GIÁO Ở TUYÊN QUANG BỊ HỌC SINH XÚC PHẠM VÀ SỰ NGỤY BIỆN CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN!

 Vụ việc cô giáo ở huyện Sơn Dương, Tuyên Quang bị học sinh xúc phạm đang thu hút cộng đồng mạng. Điều đáng nói ở đây là việc cơ quan chức năng huyện Sơn Dương có văn bản theo hướng bảo vệ học sinh, lấy việc cô giáo từng bị kỷ luật ra để đánh giá sự việc theo hướng thiếu khách quan, bất lợi cho cô giáo. Xin có vài lời:

Quân - sư - phụ” là quan niệm được cổ nhân nêu ra từ 2.500 năm trước. Theo Khổng Tử, địa vị của người thầy được nâng lên trên cả địa vị của người cha trong gia đình - sau ông vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến người cha. Người cha cũng có bổn phận dạy dỗ con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa, người dạy dỗ con mình nhiều nhất, sát nhất, cả mặt kiến thức và đạo đức chính là người thầy. Tôi không nghĩ rằng quan niệm này bây giờ đã lạc hậu hoàn toàn, dù tất nhiên phải có cách hiểu mới. Chẳng hạn, “quân” bây giờ không phải là ông vua nào cụ thể mà có thể hiểu là “đất nước”, là “Tổ quốc”, là “pháp luật”…, người thầy vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng, hình thành nhân cách, trí tuệ của con trẻ. Thời nào cũng thế, trẻ bất kính già, trò hỗn láo với thầy cô thì đó chắc chắn là biểu hiện của một xã hội xuống cấp về đạo đức, luân lý.
Báo chí đang hướng ngòi bút của mình để bao biện con trẻ, vùi dập cô giáo. Họ cho rằng cô Phan Thị Hằng có mâu thuẫn với học sinh lớp 6, 7 và cũng từng bị kỷ luật và lấy đó để quả quyết rằng cô Phan Thị Hằng thiếu đạo đức, thiếu chuẩn mực. Xin thưa rằng, cô giáo sai thì sẽ có Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhà trường xử lý. Không thể đánh đồng, lấy câu chuyện đó để biện minh cho sự vô giáo dục, láo xược của những học sinh này. Sản phẩm của giáo dục khai phóng là thế này chăng? Báo chí, cơ quan chức năng đánh giá vụ việc theo hướng này thì rõ ràng là họ đang cố đánh bùn sang ao, chẳng trong sáng tý nào! Cô giáo sai là học sinh có quyền chửi rủa, xúc phạm được sao?
Hiện nay, khi không còn “quân” thì quan niệm “quân - sư - phụ” nên hiểu là người thầy đáng được đề cao, tôn trọng hơn các bậc cha mẹ. Nói cách khác, các bậc cha mẹ nên có sự kính trọng người thầy của con, không nên xem ngang hàng hoặc là người dưới, nhất là khi cha mẹ là người có chức vụ, địa vị cao trong xã hội. Tôn trọng người thầy không chỉ là giữ truyền thống tốt đẹp “tôn sư trọng đạo” của dân tộc mà còn là cách để người thầy làm tốt hơn thiên chức của mình. Cha ông ta cũng từng nói: Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy, có lẽ cũng theo logic đó. Giáo dục Việt Nam sẽ đi về đâu nếu thầy cô là tiêu điểm cho những đòn đánh bầy đàn, không thương tiếc. Thật đáng lo ngại cho cái gọi là giáo dục khai phóng./.
----------
Lão chăn bò.

CHÁY NHÀ RA MẶT CHUỘT!

Vụ việc Ông Lưu Bình Nhưỡng bị bắt để phục vụ điều tra trong vụ án của giang hồ đất Thái Bình "Cường Quắt) đã gần cả tháng nay nhưng dư luận vẫn đang rất quan tâm. Đặc biệt là các tổ chức phản động ở hải ngoại và những người theo chủ nghĩa "dân túy" đưa ra thuyết âm mưu kiểu: Lưu Bình Nhưỡng do thẳng thắng, đụng chạm nhiều nên bị trù dập hay Lưu Bình Nhưỡng là người hết lòng vì nguyện vọng chính đáng của dân....Xin có đôi lơi:
Mới nhất, trong phiên họp thứ 7, HĐND tỉnh khoá XVII chiều ngày 7/12, lãnh đạo VKSND tỉnh Thái Bình thông tin về mối quan hệ giữa ông Lưu Bình Nhưỡng và giang hồ Cường "quắt". Đề cập về mối quan hệ giữa ông Lưu Bình Nhưỡng và giang hồ Cường "quắt", TTXVN dẫn lời Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Bình cho hay, "ông Nhưỡng từng nhận Cường là cháu, Cường từng nói ông Nhưỡng là bố nuôi. Do có mối quan hệ từ trước nên Cường đã nhờ ông Lưu Bình Nhưỡng can thiệp, tác động với cơ quan chức năng của tỉnh Thái Bình để các nhóm xã hội không gây sự, gây khó khăn nữa. Sau đó, Cường tiếp tục thực hiện việc cưỡng đoạt tiền của doanh nghiệp".
Không ai được coi là có tội khi chưa có bản án, quyết định của Tòa án. Thế nhưng, những gì mà cơ quan chức năng tỉnh Thái Bình công bố trước bàn dân thiên hạ thì rõ ràng là Ông Lưu Bình Nhương đã vi phạm pháp luật, đến mức phải xử lý hình sự. Then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật. Có pháp luật và pháp luật được thi hành một cách phổ quát, nghiêm minh, đúng đắn thì xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc. Pháp bất vị thân, bất vị nhân. Mọi người bình đẳng dưới pháp luật. Ông Lưu Bình Nhưỡng vi phạm pháp luật thì pháp luật phải điều chỉnh hành vi ông ta, không để ảnh hưởng đến xã hội. Chẳng có chuyện tư thù hay trù dập gì ở đây cả! Tin tin tưởng cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình trong vụ việc này.
Cổ nhân dạy: "“Pháp luật không hùa theo người sang... Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu". Với ai thì tôi không chắc, riêng quan điểm cá nhân tôi thì Lưu Bình Nhưỡng là kẻ tôn sùng "chủ nghĩa dân túy", nhồi vào tai những người chưa hiểu biết những lời lẽ mị dân. Vụ việc ở Đồng Tâm là ví dụ điển hình. Nếu không có ông ta và Bạch mi lão tử thì không có vụ việc đau lòng đó. Lưu Bình Nhưỡng bị oan ư? Nếu ông ta bị hàm oan thì gà sẽ mọc răng./.
----------

Lão chăn bò. 

10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

 1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

 2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.

 3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.

 4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

 5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

 6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

 7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.

 8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

 10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 NĂM 12 NĂM 1961!

     “Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa"!

       Là lời của Bác Hồ trong bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam, đăng Báo Nhân dân, số 2830, ngày 21 tháng 12 năm 1961. Nhân dịp đó, Bác đã gửi lời khen ngợi đến các lực lượng thanh niên đã tích cực thi đua thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có; việc gì khó, thanh niên làm” và mong thanh niên thực hiện cho kỳ được những nhiệm vụ chính mà Đại hội đã nêu, để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm nền tảng vững mạnh để hòa bình thống nhất nước nhà.

      Thực hiện lời dạy của Bác “Đâu cần thanh niên có; việc gì khó, thanh niên đi đầu”, các thế hệ đoàn viên, hội viên, thanh niên, đội viên thiếu niên và nhi đồng ở nước ta đã nỗ lực hết mình trong việc chung tay góp phần xây dựng miền Bắc vượt qua mọi khó khăn thử thách, đạt được nhiều thắng lợi hết sức to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sau này.

        Ngày nay, vinh dự, tự hào và phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, Thanh niên Quân đội luôn nêu cao tinh thần chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức học tập, rèn luyện; thi đua rèn đức, luyện tài, vươn tới những đỉnh cao, làm chủ khoa học hiện đại. Đồng thời Thanh niên Quân đội luôn là lực lượng mẫu mực, đi đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lực lượng xung kích trong phòng, chống có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chủ động khắc phục khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho./.
Môi trường ST.

5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.

 Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

 Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.

 Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình khu vực và thế giới.


Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.

Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.

Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.

 Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.

Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).

Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.

 Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.

 QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bả

Đại tá, PGS, TS LƯU NGỌC KHẢI 

Đấu tranh chống luận điệu “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

 Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.

Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". 

 Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.

Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.

Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).

 Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay. 

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và  phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”(1).

Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”(4). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu

Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…

Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”(5)… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”!

Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”(6) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(7).

Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập” hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”(8). Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở”(9).

Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.

Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước, quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.

Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù ý nghĩa, vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam là vô cùng quan trọng và không thể phủ nhận, song với âm mưu đòi “phi chính trị hóa” quân đội, phá hoại chủ trương xây dựng cũng như sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, tiến tới phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội và cuối cùng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực chống đối, thù địch vẫn không ngừng sử dụng các thủ đoạn, chiêu trò để xuyên tạc, chống phá, nhất là về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam.

để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị”(10). Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử gần 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo lý khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối "nhai đi nhai lại"; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của tặng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị”(11)”./.

 Là bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần xây dựng nhân cách và phẩm chất người quân nhân cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác chính trị đã trở thành một trong những cơ sở vững chắc để quân đội thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc gắn với từng bối cảnh lịch sử.

TS. Bùi Tiến Sỹ

ThS. Trần Văn Quang

Học viện Chính trị khu vực III


Đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội - một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay

 “Phi chính trị hóa” quân đội là một trong những âm mưu thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước. Vì vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn, nhất là thủ đoạn mới của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả.

 “Phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam là âm mưu trong tổng thể chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Đây là một âm mưu không mới, nhưng cực kỳ thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động ngoan cố chống phá cách mạng nước ta trong suốt thời gian qua. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách hiện nay. Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động sử dụng những thủ đoạn ngày càng đa dạng, tinh vi và thâm hiểm hơn. Các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận hệ tư tưởng của Đảng, của quân đội là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; triệt để “khoét sâu” vào những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước để phủ nhận những thành tựu đạt được của công cuộc đổi mới ở nước ta; lợi dụng tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của quân đội vào Đảng; kêu gọi “đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013”, đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”(?!)...

 Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Họ kêu gọi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng và cán bộ tham gia phụ trách công tác Đảng trong quân đội, kêu gọi xây dựng quân đội “trung lập”, quân đội “quốc gia”, không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một đảng phái nào; tung hô ca ngợi mô hình quân đội một số nước để chứng minh quân đội không liên quan đến chính trị; kêu gọi Quân đội nhân dân Việt Nam nên liên minh với quân đội một số nước để tiến lên hiện đại, trở thành quân đội “nhà nghề”(?!). Họ cho rằng, các vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng phải được nhân dân bàn bạc công khai và quyết định thông qua những "diễn đàn dân chủ"; lợi dụng chủ trương tinh giản biên chế, cơ cấu, sắp xếp lại quân đội đã và đang thực hiện để xuyên tạc, kích động, quy chụp cho rằng đó là biểu hiện của tham nhũng, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong quân đội...

 Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh chống phá trên cả lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, truyền bá lối sống thực dụng, buông thả, thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước, của quân đội, nhằm thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm “nhạt dần” bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, tạo “mảnh đất màu mỡ” cho tư tưởng phi vô sản thâm nhập vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.

 Nguy hiểm hơn, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để phát tán những bài viết, clip với cường độ, tần suất ngày càng tăng nhằm thổi phồng, xuyên tạc sự thật, khoét sâu mâu thuẫn, kích động tư tưởng công thần, địa vị, bè phái, cục bộ địa phương, đòi hưởng thụ đãi ngộ; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Họ lợi dụng quân đội tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, lợi dụng những sự việc xảy ra trong quân đội để suy diễn, chia rẽ quân đội với nhân dân, với Đảng, nhằm chia rẽ tinh thần đoàn kết “quân với dân như cá với nước”, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, bôi xấu hình ảnh và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”…

 Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng, do vậy bản chất giai cấp của Nhà nước như thế nào thì bản chất giai cấp của quân đội cũng như thế; không có quân đội siêu giai cấp, đứng ngoài giai cấp, trung lập về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta không được một phút lơ là, chủ quan, bởi trên thực tế, các thế lực thù địch đã từng thực hiện thành công “phi chính trị hóa” đối với quân đội Liên Xô, quân đội các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong những năm 80 của thế kỷ XX; và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.

 Đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong những năm qua luôn được coi trọng. Trong lực lượng quân đội, ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, cán bộ, chiến sĩ được giáo dục tinh thần cảnh giác với âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; đã có những chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện mang lại hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống “phi chính trị hoá” quân đội. Song, thực tế vẫn còn những hạn chế, có mặt chưa theo kịp với diễn biến của tình hình thực tiễn. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ hiểu chưa sâu sắc và chưa đầy đủ về âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Do vậy, còn có những biểu hiện thiếu cảnh giác, bị động, lúng túng khi phải đối mặt với những tình huống khó khăn, phức tạp, nhất là đấu tranh trực diện với những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Trước những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội đã làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, ở những mức độ nhất định xuất hiện tư tưởng, tâm lý dao động về chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những hiện tượng này đã và đang gây tác hại không nhỏ đến bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở trong giai đoạn cách mạng mới. Bởi vậy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn, nhất là những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch luôn là nhiệm vụ quan trọng, mang tính cấp bách, cần có hệ thống giải pháp phòng, chống đồng bộ, hiệu quả.

 Để làm vô hiệu hóa và đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

 Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

 Từ khi quân đội ta ra đời đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mọi sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta. Trong khi đó, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội, làm cho quân đội từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp. Do vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là giải pháp có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

 Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao. Theo đó, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp; hết sức tránh mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với cơ quan, đơn vị.

Tổ chức đảng các cấp trong quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, trọng tâm là thực hiện tốt các quy định của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương về trách nhiệm nêu gương gắn với thực hiện sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa”. Kết hợp chặt chẽ xây dựng tổ chức đảng các cấp trong quân đội trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có trình độ cao, phẩm chất và năng lực toàn diện đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong những năm tới. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, giữa tổ chức đảng với các tổ chức trong đơn vị, giữa đảng viên với quần chúng, cán bộ với chiến sĩ. Xây dựng các tổ chức trong đơn vị thực sự đoàn kết nhất trí cao, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, tới từng đơn vị, từng cán bộ, chiến sĩ. Kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, thiếu gắn kết việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.

 Hai là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của quân đội; tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ.

 Đây là giải pháp quan trọng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội. Bởi, sự giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, ngăn chặn sự xâm nhập của những luồng tư tưởng phi vô sản, góp phần làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, nhất thiết phải lấy chính trị của Đảng làm gốc, làm cốt; phải mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, thực hiện mục tiêu cao cả là chiến đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

 Theo đó, cần tăng cường giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, mục tiêu lý tưởng, quan điểm, đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch cho cán bộ, chiến sĩ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời với việc coi trọng giác ngộ bản chất giai cấp công nhân, cần giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, bồi dưỡng tình cảm đối với quê hương, đất nước, con người Việt Nam cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Có như vậy mới bảo đảm cho quân đội ta gắn bó với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó.

 Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, chiến sĩ về chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, nhất là âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Từ đó, không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó có hiệu quả trước sự chống phá của các thế lực thù địch với các thủ đoạn và tính chất khác nhau. Hình thức, phương pháp giáo dục cần được tiến hành phù hợp, linh hoạt, sáng tạo; trong đó, hết sức coi trọng các hình thức, như: Huấn luyện chính trị, giáo dục thông qua thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, thông qua phong trào hành động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ và các hoạt động khác của công tác tư tưởng, văn hoá...

 Ba là, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh ở các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

 Phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng quản lý chặt chẽ mọi mặt của các tổ chức, từng con người và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị hằng ngày, hằng giờ của từng cán bộ, chiến sĩ; từ đó kịp thời phát hiện, có những biện pháp ngăn chặn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, không tạo những sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá. Muốn vậy, phải thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, quản lý chặt chẽ mọi mặt và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong từng cơ quan, đơn vị. Cần quản lý về lịch sử chính trị, lập trường, quan điểm, thái độ chính trị, trình độ giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, quan hệ của mọi quân nhân. Thực hiện tốt chế độ phân công, phân cấp quản lý; phát huy vai trò của cấp ủy, hệ thống chỉ huy các cấp; tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ; thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức trong đơn vị; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với quản lý hành chính theo điều lệnh quân đội; chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn đóng quân giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

 Môi trường văn hoá trong sạch, lành mạnh trong quân đội là bức tường thành vững chắc vô hiệu hóa sự tấn công của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nói chung, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch nói riêng. Trong tình hình hiện nay, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong quân đội” gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần đẩy mạnh tổ chức các hoạt động thể thao, văn hoá, văn nghệ, đọc báo, nghe đài, hội thao, hội thi, nhất là trong các ngày nghỉ, giờ nghỉ nhằm tạo ra đời sống tinh thần phong phú, vui tươi, lành mạnh, đồng thời góp phần phòng ngừa, đẩy lùi sự xâm nhập của các loại ấn phẩm độc hại. Người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên ở các cơ quan, đơn vị cần đổi mới phương pháp, tác phong công tác, triệt để khắc phục lối quản lý hành chính đơn thuần, áp đặt, thiếu tính thuyết phục, thiếu trách nhiệm trong tổ chức đời sống vật chất, tinh thần của đơn vị, không tạo ra “khoảng trống” để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các hoạt động chống phá. Cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu trong thực hiện các quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội; xây dựng lối sống văn minh, ứng xử có văn hóa, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, đề cao tình đồng chí, đồng đội, tình đoàn kết quân - dân, yêu thương, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và phát huy lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

 Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội cho cán bộ, chiến sĩ_Nguồn: dangcongsan.vn

Bốn là, tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

 Đây là giải pháp mang tính thời sự cấp bách hiện nay, bởi đấu tranh trực diện trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là mặt trận cam go, quyết liệt hiện nay. Trong cuộc đấu tranh này, phải tổ chức thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng quân đội cách mạng; vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của những luận điệu “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp”,... của các thế lực thù địch. Đồng thời, tiếp tục khẳng định, quân đội ta ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, dân tộc sâu sắc đã làm nên truyền thống tốt đẹp “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(1). Thời gian tới, mặc dù tình hình chính trị thế giới, khu vực còn nhiều diễn biến phức tạp, khó dự báo; các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt chống phá, nhưng quân đội ta vẫn luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, kiên định và tuyệt đối trung thành với mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Để tổ chức đấu tranh có hiệu quả trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, phải chú trọng hơn nữa nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện truyền thông xã hội cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp trong định hướng nhận diện và đấu tranh kịp thời, có trọng tâm với các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, phát huy vai trò cơ quan thường trực ban chỉ đạo 35 của đảng ủy các cấp thực hiện tốt việc tham mưu, xây dựng, ban hành đồng bộ hệ thống quy chế, quy định, chương trình hành động cụ thể; thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, cung cấp thông tin và định hướng đấu tranh kịp thời, có trọng tâm. Phát huy sâu, rộng vai trò của lực lượng 47 ở các cơ quan, đơn vị toàn quân tham gia đấu tranh vạch trần bản chất phản động trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động. Chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư tưởng, lý luận có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén trong đấu tranh và tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí và các đơn vị văn hóa, nghệ thuật quân đội, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với hệ thống truyền thông, văn hóa, nghệ thuật của cả nước để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới, còn có ý kiến khác nhau từ thực tiễn tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội./.

 Theo TS Cao Văn Trọng/tapchicongsan.org.vn