Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường
sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát
thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các
website; lập nên những “diễn đàn” (forum) hòng tập hợp những phần tử bất mãn,
chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý
kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”,
“hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống
phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt
Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm
vấn đề sau:
Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt
Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo
lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng”(!?). Họ sử dụng các kỹ thuật cắt
xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng
an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên
câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân
dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng
chính kiến”(1).
Lịch sử gần 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại
của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan
trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có
công tác lý luận chính trị trong quân đội. Có thể khẳng định, ngay từ khi được
thành lập, những chiến công, những thành quả các mạng mà quân đội Nhân dân Việt
Nam có được thì ngoài về con người và vũ khí còn phải kể đến vai trò của công
tác lý luận chính trị. Việc Đảng ta đã ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên
truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt
Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định
hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
ở Việt Nam”(4). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là
Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 24 và 25/12/1944. Chiến thắng này đã tác động mạnh
mẽ, gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh
thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ
vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay
nhân dân. Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này
đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh đã giúp cho cán bộ và chiến sĩ trang bị thế giới quan khoa học,
phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng,
rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ
đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này đã kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội
trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh,
cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả
với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.
Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”, nếu
trong thời chiến, những chiến thắng hiển hách của quân đội ta đều là những chiến
thắng trước kẻ thù xâm lược và phá hoại (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược,
Khơ-me Đỏ ở biên giới Tây Nam; Trung Quốc ở biên giới phía Bắc…) thì trong thời
bình, đó là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ
mới. Đó là Dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an
ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động,
bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống
phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ
tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường
thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng
xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, giúp nước
trong phòng chống đại dịch Covid-19, thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực
hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội
Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả, như: giúp nhân
dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải
phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở
Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp) và gần
đây nhất là cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa
động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần
trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới:
Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ
Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái
gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những
chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.
Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được
trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò
“trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu
Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức,
một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc
không phụ thuộc vào bên nào”. Chiếu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là
khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân
đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của
“các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…
Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ
thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây
dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo:
“Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi
ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình
chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và
nhân dân làm chủ”(5)… Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi
là “hai bên đối lập”!
Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý
luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp
và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực
tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai
cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý
tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân”(6) … Như vậy,
quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”!
Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập.
Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân,
giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(7).
Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”. Vậy
thì, sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội có phụ thuộc vào yếu tố “trung lập”
hay là phụ thuộc vào các yếu tố khác? Khi bàn về sức mạnh, sức chiến đấu của
quân đội, Ph.Ăngghen cho rằng: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của
quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện
vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”(8). Như vậy, sức mạnh, sức chiến đấu cho
quân đội được hình thành trước hết là do “điều kiện kinh tế” và sau đó là nhiều
yếu tố khác gắn với từng hoàn cảnh lịch sử và từng quốc gia riêng biệt. Từ lý
luận của Ăngghen, đối chiếu vào lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội
Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng
hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền
thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu
tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính
trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ
sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ
Hồ” làm cơ sở”(9).
Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một
số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”,
là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”.
Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ
khác của quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm
nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ
luật, kỷ cương quân đội và gây bức xúc trong xã hội.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên,
nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người
vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng việc được nhà nước,
quân đội giao nhiệm vụ để cấu kết, sai phạm; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu
ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương
phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi
hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người
này là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh
chính trị, thiếu thường xuyên rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại
diện cho cho quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!
Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội
và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc,
với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ.
Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi
canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy
quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng
và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để
giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ,
vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của quân đội.
Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm
kỷ luật hoàn toàn không phải là sai phạm
của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình
đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò
lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực
thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy hình thức/nguyên
cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu
biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự
việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì hẳn nhiên những người này
sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.
Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của
công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch
đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo
của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nâng cao cảnh giác với các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch; đồng thời tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn hiểm độc, tinh vi của chúng
Trả lờiXóa