Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

TRÂN VĂN LẠI CÓ Ý ĐỊNH GÂY THÙ HẰN MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT - TRUNG

 

Theo KCTĐ - Trên Báo Tiếng dân news tác giả Trân Văn/VOA có viết về “Hãy cẩn trọng với mối quan hệ rất hiếm thấy trên thế giới”. Tác giả đã cực kỳ khôn khéo và dẫn dắt vấn đề về chuyến thăm của Ông Tập Cận Bình - Tổng Bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc - đến thăm Việt Nam ngày 12/12 vừa qua, thế nhưng tác giả lại luận giả và đưa vấn đề này đi theo một chiều hướng khác và nhận định: Việc giải quyết vấn đề trên Biển Đông của Việt Nam với phía Trung Quốc không được hợp lý cho lắm. Tác giả viết rằng “... nhưng không tránh khỏi hoang mang về cách hành xử của Đảng CSVN trong quan hệ với Trung Quốc và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông... ”


    


        Không hiểu sao tác giả lại có thể đi luận giải về chuyến thăm Việt Nam của Ông Tập Cận Bình lại tài tình đến thế. Hai nước Việt - Trung luôn có mối quan hệ ngoại giao khăng khít được thiết lập từ tháng 01 năm 1950. Đó là mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc được thiết lập từ năm 2008 (Năm 2023 đánh dấu 15 năm hai nước thiết lập quan hệ này). Đó là mối quan hệ cấp cao nhất của nền ngoại giao Việt Nam ta dựa trên lòng tin xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi. Đồng thời, hai bên còn xây dựng sự tin cậy lẫn nhau ở cấp chiến lược. Từ khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao Việt - Trung đã đạt được nhiều thành tựu đáng nể tạo nên những điểm sáng: Về quan hệ chính trị: tổng thể được duy trì trên đà phát triển ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực, đặc biệt sau chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 11 năm 2022). Hợp tác trên các lĩnh vực: năm 2022, kim nghạch xuất khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 175,56 tỉ USD (tăng 5,47% so với năm 2021), trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,7 tỉ USD (tăng 6,63%), Việt Nam nhập siêu ở mức 60,17 tỉ USD (tăng 10,18%). Việt Nam tiếp tục giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác thương mại lơn thứ 4 của Trung Quốc tính theo quốc gia đơn lẻ (sau Mỹ, Nhật Bản và Hà Quốc). Trong 10 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với Trung Quốc đạt 138,9 tỉ USD. Trong 10 tháng đầu năm 2023, đầu tư của Trung Quốc đạt hơn 2,5 tỉ USD với 555 dự án, là nhà đầu tư FDI lớn thứ 4 tại Việt Nam. Trung Quốc nhiều năm dẫn đầu về số lượng du khách đến Việt Nam, chẳng hạn năm 2019 đạt hơn 5,8 triệu lượt người, chiếm 1/3 tổng số khách quốc tế đến Việt Nam. Trong 10 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã đón 1,3 triệu lượt khách Trung Quốc, đứng thứ 2 trong số các thị trường gửi khách đến Việt Nam (sau Hàn Quốc với 2,9 triệu lượt). (Số liệu trích trên báo Tuổi trẻ online ngày 12/12/2023)....
    
        Có thể khẳng định rằng, chuyến thăm của Ông Tập Cận Bình đến Việt Nam ta đem lại kỳ vọng về một “định vị mới”, “tầm mức mới”. Theo Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ khẳng định chuyến thăm cấp nhà nước của ông Tập Cận Bình sẽ là một dấu mốc mới trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Ông Nguyễn Minh Vũ cho biết cả Việt Nam và Trung Quốc “đều rất kỳ vọng” vào chuyến thăm lần này, trong đó có kỳ vọng về một “định vị mới”, “tầm mức mới”. Đó còn là kỳ vọng về những kết quả hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, với “một số lượng lớn các văn kiện có thể sẽ được ký kết” trong chuyến thăm và kỳ vọng về hiệu ứng lan tỏa của chuyến thăm đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân. Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Tăng Nghị (Khoa Quan hệ quốc tế Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP. HCM) và Giáo sư Triệu Vệ Hoa (Viện Nghiên cứu quốc tế, Đại học Phục Đán, Trung Quốc) đều cho rằng chuyến đi thể hiện sự đặc biệt coi trọng ở mức cao của lãnh đạo Trung Quốc với Việt Nam.

Thế mà tác giả lại có dụng ý khêu gợi lịch sử của thù hằn dân tộc giữa hai nước những vấn đề nó chưa phù hợp cho lắm, đó là cách nói trơ trẽn, bôi nhọ lịch sử, xuyên tạc lịch sử quan hệ ngoại giao Việt - Trung. Trong suốt quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước đổi mới đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta có quyền khẳng định và tự hào về những giá trị to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn, đàng hoàng hơn, to đẹp hơn sánh vai với các cường quốc năm châu, có một phần không nhỏ của nền ngoại giao tài tình “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nền ngoại giao thời kỳ mở cửa, hội nhập quốc tế, ngoại giao. “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nền ngoại giao “cây tre Việt Nam” - với những nguyên tắc cơ bản của nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam được khái quát là: “vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt”.... góp phần đem lại vị thế, uy tín, vai trò, thế và lực của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới không ngừng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Vậy nên, ông Trân Văn/VOA nên cẩn thận lời ăn tiếng nói của mình tránh để sai một li đi một dặm. Đừng để cái miệng lại làm khổ cái thân với đời, vướng vào vòng lao lý, “sảy một ly, đi một dặm” đó ông. Hãy cẩn thận hành động bản thân, nên suy nghĩ kĩ trước khi làm, mà làm rồi thì phải biết chịu trách nhiệm.

Dẫu biết rằng ông được cho ăn học tử tế, đàng hoàng, thế nhưng có tài thôi là chưa đủ đâu ông à. Mà cần phải có thêm cả chữ nhân, chữ đức để thu phục lòng người, để thêm phần phúc, phần đức trước hết về cho chính bản thân mình, cho con, cho cháu của ông trước rồi hãy là một công dân tốt của đất nước Việt Nam chứ đừng có mà nói, rồi viết để gây thù hằn dân tộc trong nước, gây thù hằn với các nước khác đâu nhé, nhất là mối quan hệ Việt - Trung. Hãy làm đúng lương tâm, trách nhiệm của một người công dân tốt đi đã, chứ đừng mãi lầm đường, lạc lối nhé. Đừng có mãi nói và viết những luận điệu xuyên tạc, sai trái, gây kích động, thù hằn, chia rẽ khối đoàn kết giữa các nước láng giềng, trong khu vực và trên thế giới hay gây lên tâm lý hoang mang, thách thức với các nước.... Hãy quay đầu là bờ, để được hưởng sự khoan hồng của của Đảng, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để nhận được sự tha thứ của nhân dân, của dân tộc và lịch sử. Hãy làm một nười công dân Việt Nam tốt, chứ đừng đi làm “tội đồ của lịch sử” nhé.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh cho những điều trên, được sử sách trên thế giới, khu vực, trong nước ghi nhận và cho thế hệ trẻ ngày nay thấy được những giá trị to lớn của nền hòa bình, ổn định và phát triển của đất nước ta đó ... chứ không phải như những gì ông nói, ông viết đâu?.... Trong đó có một phần công sức không hề nhỏ của nền ngoại giao Việt chúng ta. Mỗi chúng ta hãy “nhìn về đại cục, hướng về lâu dài, tôn trọng lẫn nhau” chứ đừng hẹp hỏi, ích kỷ vụ lợi cá nhân nhỏ nhen. Trước khi muốn trở thành một người thành công, cao siêu trong xã hội, hãy làm cho tốt những điều nhỏ nhặt đi đã - đó là bổn phận của một người công dân Việt nhé.

                                                                                                           BT

Quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới

 Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tới; trong đó, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là một nội dung quan trọng. Quán triệt sâu sắc tinh thần đó sẽ là cơ sở quan trọng để xác định phương hướng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, bảo vệ Tổ quốc trong thời gian tới.

Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc và thực tiễn bảo vệ Tổ quốc qua 30 năm đổi mới; đồng thời, tiếp thu tinh hoa trí tuệ nhân loại, Đại hội XII của Đảng kiên định và xác định những vấn đề cơ bản về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, thể hiện sâu sắc tư duy mới về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta.

1. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đại hội XII của Đảng xác định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”1. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, tạo cơ sở quan trọng cho Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân ta xác định và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh theo chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Khẳng định củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, Đảng ta nhấn mạnh nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhưng không coi nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là thứ yếu. Bởi, củng cố quốc phòng, an ninh là cơ sở trực tiếp tạo thuận lợi cho nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế; ngược lại, kinh tế phát triển, đất nước mạnh lên sẽ là “phương thức hữu hiệu” để bảo vệ Tổ quốc. Đây là quan điểm lý luận cơ bản, chi phối, quy định toàn bộ các nội dung, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

2. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là toàn diện, cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội trong chỉnh thể thống nhất. Đại hội XII của Đảng xác định: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”2. Trong tình hình mới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải bảo đảm được lợi ích quốc gia, dân tộc khi nước ta tham gia hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường ổn định, hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước trên thế giới hợp tác với Việt Nam. Các nội dung bảo vệ Tổ quốc quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau trong chỉnh thể thống nhất; bảo vệ lĩnh vực này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ lĩnh vực khác và ngược lại, không xem nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một lĩnh vực nào.

3. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp; củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng bảo vệ Tổ quốc là toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại; biểu hiện sức mạnh vật chất, tinh thần của toàn bộ nhân dân trong nước và kiều bào Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó còn là sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Để phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, Đảng ta xác định: tập trung xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng quan trọng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; phải “Tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống”3. Quan điểm sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn diện bảo vệ Tổ quốc, phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục khẳng định với nội hàm sâu, rộng thêm.

4. Quốc phòng và an ninh quan hệ chặt chẽ, thống nhất trong mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo đó, quốc phòng và an ninh đều hướng vào mục tiêu chung là bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; được thể hiện trong sự kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng và thế trận của nền quốc phòng toàn dân với xây dựng lực lượng và thế trận của nền an ninh nhân dân. Đại hội XII nhấn mạnh: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc”4. Mối quan hệ biện chứng đó đặt trong tổng thể thống nhất và gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ đó phản ánh yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản của hai lĩnh vực hoạt động đặc thù nhằm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng thế trận và lực lượng của quốc phòng và an ninh phải đảm bảo toàn diện, đồng bộ, quan hệ chặt chẽ, có chất lượng và hiệu quả cao trên phạm vi toàn quốc, cũng như trong từng địa bàn, từng lĩnh vực cụ thể.

5. Có kế sách phòng, chống các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, khắc phục các yếu tố tác động tiêu cực đến sự nghiệp củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là kinh nghiệm quý, một phương thức giữ nước đặc sắc của dân tộc, được Đảng ta kế thừa và phát huy đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Theo đó, quốc phòng và an ninh phải có đủ sức mạnh để “ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”5, để đất nước “không bị động, bất ngờ”; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho bạn bè quốc tế trong hợp tác với Việt Nam. Đại hội XII chỉ rõ: phải “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”6.

6. Quán triệt và xử l‎ý tốt mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn. Đây là quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc. Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới có tầm quan trọng đặc biệt, là quan hệ cơ bản, chi phối, thẩm thấu vào các mối quan hệ khác; được giải quyết trong sự gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ: phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng và an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong đó, xây dựng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng và phát triển văn hóa. Trong xây dựng Đảng, phải đạt đến mục đích là giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ quốc phòng và an ninh. Trong phát triển văn hóa phải chú ý gia tăng sức mạnh quốc phòng, an ninh, phục vụ cho xây dựng và phát huy các tiềm lực quốc phòng, an ninh, nhất là tiềm lực chính trị tinh thần. Mối quan hệ tác động lẫn nhau đó cần phải được nhận thức thấu đáo và xử lý đúng trong thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Phải “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”7. Việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phải được thể hiện cụ thể ở sự kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; trong đó, chú trọng phát triển kinh tế, gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

7. Sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”8. Trong nhận thức lý luận cũng như trong tổ chức thực tiễn, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng để tổ chức, lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước là cơ sở chắc chắn nhất bảo đảm cho Tổ quốc được bảo vệ vững chắc trong bối cảnh có nhiều biến động phức tạp. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, với âm mưu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang hòng làm cho Quân đội và Công an mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, thì vấn đề tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc càng trở nên quan trọng, cấp bách hơn. Đây không chỉ là sự trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp công nhân, mà còn là đòi hỏi bức thiết từ tình hình, nhiệm vụ của cách mạng nước ta thời kỳ mới. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trên, vấn đề then chốt là phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ.

Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc được Đảng ta khẳng định trong Đại hội XII là sự trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới và từ tư duy, phát triển lý luận đến tổng kết thực tiễn của Đảng, nhất là 30 năm đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vừa qua. Đây là cơ sở, nền tảng quan trọng để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta triển khai, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng đã đề ra.

Trung tướng, PGS, TS. NGUYỄN ĐÌNH MINH, Giám đốc Học viện Chính trị

Làn sóng đảo chính tại châu Phi – nguyên nhân và những hệ lụy

 Sau Niger, đến lượt Gabon trở thành quân bài tiếp theo của hiệu ứng domino đảo chính rung chuyển Tây và Trung Phi. Chỉ trong vòng chưa đầy ba năm, 08 cuộc chính biến quân sự đã xảy ra tại khu vực này, khiến cộng đồng quốc tế lo ngại về làn sóng lật đổ sẽ chưa dừng lại, đẩy châu lục trở lại vòng xoáy đảo chính như đã từng diễn ra trong quá khứ và dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Nạn nhân mới, nguyên nhân cũ

Ngày 30/8/2023, chỉ vài phút sau thông báo của cơ quan bầu cử quốc gia, Tổng thống Gabon Ali Bongo Ondimba - người “thắng cử” nhiệm kỳ thứ ba đã bị phế truất bởi lực lượng quân đội. Nhà lãnh đạo 64 tuổi bị quản thúc tại gia và đối mặt với các cáo buộc về gian lận bầu cử, tham nhũng trong thời gian lãnh đạo đất nước. Nhóm đảo chính thành lập một ủy ban lâm thời để điều hành đất nước, tuyên bố đình chỉ Hiến pháp và đóng cửa biên giới vô thời hạn. Tướng Brice Oligui Nguema, Tư lệnh Lực lượng vệ binh cộng hòa Gabon được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban Chuyển tiếp và Khôi phục thể chế (CTRI). Thời gian ngắn sau cuộc đảo chính chóng vánh, ngày 04/9, ông Brice Oligui Nguema tuyên thệ nhậm chức Tổng thống lâm thời và bổ nhiệm chính trị gia Raymond Ndong Sima làm Thủ tướng mới để lãnh đạo đất nước nhằm tiếp tục thực hiện những cam kết về đối nội và đối ngoại của Gabon.

Cuộc chính biến chấm dứt 56 năm cầm quyền của gia tộc Bongo không gây bất ngờ, bởi đây không phải là lần đầu tiên chính quyền của cựu Tổng thống Ali Bongo Ondimba bị lung lay bởi các âm mưu lật đổ. Năm 2016 và 2019, hai sự kiện tương tự đã diễn ra nhưng lực lượng thân chính phủ đã kịp thời “ứng cứu” thành công. Tuy nhiên, sự thay đổi chế độ lần này tại Gabon gây chấn động vì chỉ trước đó không lâu, một cuộc đảo chính quân sự đã rung chuyển Niger. Theo đó, ngày 26/7/2023, Tướng Abdourahamane Tiani, người đứng đầu lực lượng bảo vệ Tổng thống Niger đã dẫn đầu lực lượng đảo chính tuyên bố bắt giữ và lật đổ Tổng thống dân cử từ năm 2021 là ông Mohamed Bazoum. Một kịch bản tương tự như ở Gabon khi nhóm đảo chính ra lệnh đóng cửa biên giới quốc gia, đình chỉ các cơ quan nhà nước, bãi bỏ Hiến pháp, ban hành lệnh giới nghiêm; đồng thời, cảnh báo sẽ chống lại mọi sự can thiệp từ nước ngoài. Hai ngày sau, ông Abdourahamane Tiani tuyên bố là lãnh đạo mới của chính quyền quân sự trong giai đoạn chuyển tiếp dù không được quốc tế công nhận. Đây là cuộc đảo chính quân sự lần thứ 05 kể từ khi Niger giành độc lập vào năm 1960.

Tuy nhiên, kỷ lục này hoàn toàn không phải là cá biệt. Theo thống kê, từ năm 1952 đến nay, châu Phi đứng đầu thế giới về số lượng đảo chính với không dưới 214 cuộc chính biến, 106 trong số đó thành công. Trong số 54 quốc gia trên Lục địa đen, 45 nước đã ghi nhận ít nhất xảy ra một âm mưu đảo chính. Có nhiều nguyên nhân khiến châu Phi giữ “danh hiệu” đáng buồn này và cho đến nay, “mẫu số chung” cho các cuộc lật đổ vẫn chưa thay đổi.

Yếu tố đầu tiên phải kể đến đó là sự bất bình đẳng kinh tế và nghèo đói. Theo Ngân hàng Thế giới, 10% người giàu nhất ở châu Phi kiểm soát hơn 40% tài sản, trong khi 50% người nghèo nhất chia sẻ chưa đến 10% tài sản. Mức độ bất bình đẳng cao như vậy dẫn đến sự bất mãn trong dân chúng, bất ổn xã hội và khiến người dân có xu hướng ủng hộ các lực lượng đảo chính - những người hứa sẽ cải thiện nền kinh tế để mang lại cho họ một cuộc sống đầy đủ hơn. Điều này có thể thấy rõ tại Niger - một thuộc địa cũ của Pháp giành độc lập vào năm 1960 có dân số khoảng 25 triệu người. Quốc gia Tây Phi này đứng thứ 07 trong số những nước xuất khẩu uranium nhiều nhất thế giới, có mỏ vàng và một mỏ dầu trữ lượng lớn. Tuy nhiên, Niger hiện có tới hơn 10 triệu người (tương đương 41%) đang sống trong cảnh nghèo đói cùng cực. Nước này được Liên hợp quốc xếp hạng thứ 189/191 về chỉ số phát triển con người, đồng thời cũng đứng thứ 07 trong số các nước nghèo nhất thế giới. Các khoản viện trợ từ nước ngoài chiếm đến 40% ngân khố quốc gia. Vì vậy, trái với sự lo sợ thường thấy khi thay đổi chế độ, hàng nghìn người dân Niger đã tập trung ở thủ đô Niamey tuần hành thể hiện sự ủng hộ lực lượng đảo chính đã lật đổ Tổng thống Mohamed Bazoum.

Bên cạnh bất bình đẳng kinh tế và đói nghèo, tình trạng tham nhũng là một vấn nạn nguy hiểm tại rất nhiều quốc gia ở Lục địa đen. Theo Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2022 của Tổ chức Minh bạch quốc tế, 43 trong số 54 nước châu Phi được khảo sát xếp hạng dưới 50, chỉ dấu cho thấy những vấn đề tham nhũng nghiêm trọng. Cùng với sự tham lam, vơ vét của giới lãnh đạo, sự thất bại của các chính sách công và quản lý yếu kém của chính phủ là nguyên nhân dẫn đến sự bất bình của người dân, làm xói mòn lòng tin của công chúng. Trong bối cảnh các nhà lãnh đạo được bầu không có khả năng đáp ứng những kỳ vọng cơ bản nhất của người dân như tiếp cận nước và điện, thực phẩm, nhu yếu phẩm thiết yếu,… các cuộc đảo chính thường được người dân hoan nghênh như một “phương án” thay đổi chế độ hợp pháp với hy vọng chính phủ mới sẽ bớt tham lam hơn. Tuy nhiên, điều đáng buồn là rất nhiều lực lượng lật đổ lại thường có xu hướng phạm phải những lỗi lầm mà chính họ đã từng lên án trước đó.

Một lý do nữa khiến châu Phi luẩn quẩn trong vòng tuần hoàn đảo chính là sự thiếu vắng nền tảng dân chủ ở nhiều quốc gia. Thực tế là, khi nắm được quyền lực, các nhà lãnh đạo lại thường xuyên thay đổi các điều khoản ràng buộc về nhiệm kỳ trong hiến pháp. Những cải cách phi dân chủ đó đã cho phép một số tổng thống tái tranh cử vô thời hạn và có thể nắm quyền suốt đời. Gabon là một điển hình. Trước khi bị lực lượng quân đội giành mất quyền lực, cựu Tổng thống Ali Bongo Ondimba đang tìm kiếm nhiệm kỳ thứ ba kể từ khi nhậm chức vào năm 2009 sau cái chết của cha ông là Omar Bongo, người đã cai trị Gabon bằng “bàn tay sắt” trong hơn 40 năm.

Bất ổn an ninh là nguyên nhân quan trọng. Cho đến nay, nhiều quốc gia châu Phi vẫn phải đối mặt với các thách thức như: khủng bố, nổi dậy và tội phạm có tổ chức. Điều này tạo ra khoảng trống quyền lực mà các lãnh đạo quân sự có thể lợi dụng để lật đổ chính phủ. Niger là một ví dụ điển hình. Mặc dù Pháp có 1.500 binh sĩ đồn trú tại đây trong khi số lượng quân Mỹ hiện diện ở nước này nhằm thực hiện sứ mệnh chống khủng bố là 1.000 người, nhưng đã từ lâu, các nhóm khủng bố Hồi giáo hoạt động rất mạnh ở khu vực Sahel (khu vực kéo dài từ Đại Tây Dương đến Biển Đỏ). Ở phía Đông Nam Niger, nhóm Boko-Haram chiếm giữ khu vực xung quanh hồ Chad, giữa Nigeria và Chad. Ở phía Tây Nam, ngang tầm biên giới với Mali và Burkina Faso, các nhóm Al-Qaeda và Daesh tiếp tục kiểm soát một số vùng lãnh thổ. Vì vậy, Niger thường xuyên bị tấn công khiến hàng nghìn người thiệt mạng chỉ trong vài năm. Theo Bộ Ngoại giao Anh, từ tháng 01/2020 đến tháng 8/2022, quốc gia nằm ở trung tâm khu vực Sahel này đã hứng chịu không dưới 13 cuộc tấn công.

Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác khiến châu Phi trở thành tâm điểm của làn sóng đảo chính. Phổ biến nhất là việc những thế lực bên ngoài, chủ yếu là các cường quốc có thể giật dây gây ra lật đổ, hỗ trợ các vụ chính biến nhằm thúc đẩy lợi ích riêng như tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc gây ảnh hưởng đến đường hướng chính trị của một quốc gia tại châu lục này.

Những hệ lụy lâu dài

Sau khi buộc phải rời khỏi Cộng hòa Trung Phi, Mali và Burkina Faso, Pháp đang bắt đầu đàm phán để giảm quy mô hoặc rút quân khỏi Niger theo yêu cầu của chính quyền quân sự. Những cuộc chính biến ở các quốc gia tại khu vực được xem là vùng ảnh hưởng truyền thống của Pháp trong nhiều thập niên qua cho thấy vai trò của Paris ngày càng giảm sút nghiêm trọng. Tâm lý “bài” Pháp của người dân nhiều quốc gia tại Lục địa đen có xu hướng ngày càng gia tăng một cách đáng lo ngại. Trong khi đó, Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ - những quốc gia vốn đã thực thi nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh sự hiện diện tại châu Phi lại liên tiếp giành được lợi thế dẫn đến sự thay đổi cán cân địa chính trị tại khu vực.

Hai cuộc lật đổ tại Niger và Gabon cũng nối dài làn sóng đảo chính nguy hiểm tại châu Phi với nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Trước hết, các cuộc binh biến đã làm suy yếu thể chế dân chủ ở lục địa này. Nhiều chính phủ dân sự, trong đó có nhiều nhà lãnh đạo do dân bầu đã bị lật đổ bởi các lực lượng quân sự kéo theo tình trạng bất ổn chính trị và xã hội. Các cuộc đảo chính cũng xói mòn niềm tin của người dân vào các thể chế dẫn đến gia tăng xung đột và bạo lực, đặc biệt giữa các nhóm ủng hộ và phản đối chính phủ lâm thời. Điều này làm phức tạp thêm tình hình an ninh vốn đã rất yếu kém và làm sâu sắc thêm sự chia rẽ trong xã hội.

Trên phương diện kinh tế, sự thay đổi chế độ ở những quốc gia phần lớn là nghèo đói ở châu Phi sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến nền kinh tế của chính đất nước đó cũng như toàn châu lục. Nhìn chung, hậu đảo chính là sự gián đoạn kinh tế, làm suy giảm đầu tư và tăng trưởng. Sự mất ổn định về chính trị khiến các nhà đầu tư nước ngoài e ngại việc tìm kiếm các cơ hội kinh doanh ở châu Phi. Hệ quả tất yếu là thu nhập của người dân suy giảm, dẫn đến tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng gia tăng. Các biện pháp trừng phạt của cộng đồng quốc tế nhằm vào những lực lượng đảo chính đang nắm quyền cuối cùng sẽ chỉ chồng chất thêm khó khăn cho những người dân vốn đang hằng ngày phải vật lộn với biến đổi khí hậu, nghèo đói và bất ổn an ninh.

Làn sóng đảo chính cũng gia tăng nguy cơ khủng bố ở Lục địa đen. Các nhóm cực đoan đang ẩn náu tại khu vực có thể lợi dụng tình hình bất ổn chính trị để thực hiện các vụ tấn công. Đơn cử, dưới thời cựu Tổng thống Mohamed Bazoum, Niger là đối tác quan trọng của các lực lượng quốc tế nhằm đối phó với các tay súng của Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) và Al-Qaeda. Thế nên, khoảng trống an ninh sau đảo chính tại quốc gia này có thể mang lại lợi ích cho các nhóm vũ trang và ảnh hưởng trực tiếp đến các nỗ lực chống khủng bố. Lục địa đen đứng trước nguy cơ trở thành căn cứ địa, điểm trú ẩn an toàn cho các nhóm cực đoan quốc tế mở rộng thanh danh, chiêu mộ thành viên và thực hiện các âm mưu tấn công trong và ngoài khu vực.

Những diễn biến tại khu vực Tây và Trung Phi cũng đang gây chia rẽ giữa các quốc gia tại lục địa này. Hiện ở châu Phi đang hình thành hai phe đối lập, gồm một số quốc gia ủng hộ lực lượng đảo chính và những nước công khai lên án các hành động chiếm chính quyền là phi dân chủ. Trong đó, chính phủ Mali và Burkina Faso cảnh báo “bất kỳ cuộc can thiệp quân sự nào vào Niger nhằm hạ bệ chính quyền đảo chính sẽ được coi là chống lại các quốc gia của họ”. Ngược lại, những thành viên Cộng đồng Kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS), dẫn đầu bởi Benin và Bờ Biển Ngà ủng hộ việc sử dụng vũ lực để khôi phục chế độ vừa bị lật đổ ở Niger. Như vậy, có thể thấy rằng, nếu không quản lý tốt, khả năng xung đột giữa các quốc gia châu Phi sẽ rất dễ xảy ra. Điều này cho thấy sự phức tạp trong nỗ lực giải quyết khủng hoảng nhằm chấm dứt chuỗi đảo chính đáng sợ ở châu lục này.

VÂN KHANH - THẾ HIỆP

“Bước ngoặt” trong xung đột tại Nagorno - Karabakh và tác động đối với khu vực

 Chiến dịch quân sự do Quân đội Azerbaijan tiến hành tại Nagorno - Karabakh (tháng 9/2023) nhanh chóng kết thúc, giải phóng hoàn toàn vùng đất mà lực lượng ly khai người Armenia kiểm soát hơn ba thập niên, tạo “bước ngoặt” quan trọng trong giải quyết xung đột ở khu vực này. Vậy bước ngoặt đó sẽ tác động đến khu vực ra sao là vấn đề cần tiếp tục quan tâm, nghiên cứu.

 “Bước ngoặt” trong cuộc xung đột

Nagorno - Karabakh là vùng đất nằm ở phía Tây Azerbaijan, diện tích khoảng 4.400km2, với hơn 90% dân số là người Armenia, từ lâu là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa Azerbaijan và Armenia. Trong lịch sử, cả Azerbaijan và Armenia đều coi Nagorno - Karabakh là vùng đất “biểu tượng” về lịch sử, văn hóa và khu vực chiến lược quan trọng, nên đều có yêu sách chủ quyền “không khoan nhượng”. Tháng 7/1918, Nghị viện Armenia đầu tiên của Nagorno - Karabakh tuyên bố, khu vực này là “vùng đất tự quản” và tiến hành thành lập quốc hội, chính phủ riêng. Chính quyền Azerbaijan khi đó cực lực phản đối và coi đây là hành động “không thể chấp nhận được”. Dưới thời Liên bang Xô Viết, xung đột giữa hai bên lắng dịu và Nagorno - Karabakh được xây dựng thành “khu tự trị”, do Chính quyền Azerbaijan quản lý, song ngọn lửa “phục quốc” vẫn âm ỉ cháy trong tộc người Armenia. Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, chủ nghĩa dân tộc bùng phát, sự bất đồng giữa người Armenia và người Azerbaijan cũng bắt đầu dâng cao. Đỉnh điểm là năm 1988, chính quyền tự trị Nagorno - Karabakh tổ chức bỏ phiếu lựa chọn ly khai khỏi Azerbaijan để gia nhập Armenia. Tuy nhiên, kết quả này không được Moscow cũng như cộng đồng quốc tế công nhận, Liên Xô và Liên hợp quốc vẫn coi Nagorno - Karabakh thuộc về Azerbaijan. Năm 1991, sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, Azerbaijan bãi bỏ quy chế “tự trị” của Nagorno - Karabakh và đặt vùng lãnh thổ này dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính quyền trung ương. Đáp lại, ngày 10/12/1991, người Armenia ở Nagorno - Karabakh đã tổ chức trưng cầu dân ý, lựa chọn thành lập nhà nước Cộng hòa Nagorno - Karabakh (NKR) độc lập, thể hiện mong muốn hợp nhất với Armenia. Chính việc đó khiến mâu thuẫn giữa Azerbaijan với lực lượng ly khai Armenia tại Nagorno - Karabakh và chính quyền Armenia trở nên trầm trọng hơn. Đó cũng là nguyên do dẫn đến xung đột giữa Armenia và Azerbaijan nổ ra (năm 1993) làm hơn 30.000 người thiệt mạng. Giao tranh chỉ kết thúc (năm 1994) khi Nga đứng ra làm trung gian hòa giải và lực lượng ly khai người Armenia tiếp tục kiểm soát Nagorno - Karabakh cùng các vùng lân cận. Như vậy, mặc dù Nagorno - Karabakh vẫn là một bộ phận của Azerbaijan, nhưng vùng đất này lại do lực lượng ly khai người Armenia lãnh đạo - lực lượng được Chính phủ Armenia hậu thuẫn. Chính vì sự phức tạp này nên thỏa thuận do Nga làm trung gian hòa giải vẫn không thể dập tắt được mâu thuẫn vốn đang âm ỉ giữa Azerbaijan và Armenia, các cuộc đụng độ nhỏ giữa hai bên vẫn thường xuyên nổ ra tại Nagorno - Karabakh. Năm 2020, một cuộc đối đầu quân sự lớn giữa hai bên đã nổ ra tại khu vực này (trong 06 tuần), làm hàng nghìn người thiệt mạng. Trong cuộc chiến này, Azerbaijan giành được nhiều lợi thế trước Armenia nhờ sự hậu thuẫn của một số nước có liên quan. Đến tháng 11/2020, một lần nữa Nga lại đứng ra làm trung gian hòa giải và thỏa thuận hòa bình giữa Azerbaijan và Armenia được ký. Theo thỏa thuận, Azerbaijan giành lại toàn bộ lãnh thổ xung quanh khu vực Nagorno - Karabakh do Armenia kiểm soát từ năm 1994; Armenia phải rút quân khỏi Nagorno - Karabakh; phe ly khai người Armenia chỉ được quản lý một phần nhỏ ở Nagorno - Karabakh. Để giám sát các bên thực thi thỏa thuận, Nga điều đến đây khoảng 2.000 quân. Tuy nhiên, từ cuối năm 2022, các cuộc đụng độ giữa lực lượng ly khai người Armenia và lực lượng biên phòng của Azerbaijan liên tục nổ ra. Đặc biệt, ngày 19/9/2023, với cáo buộc các nhóm vũ trang của NKR tiến hành “hoạt động khủng bố” làm nhiều binh sĩ của Azerbaijan thiệt mạng, Baku đã mở chiến dịch quân sự được gọi là “chống khủng bố” nhằm vào lực lượng ly khai người Armenia tại Nagorno - Karabakh. Chiến sự diễn ra ác liệt, sau một ngày (20/9/2023) phe ly khai người Armenia thất bại; đồng thời, tuyên bố đầu hàng, chấp nhận giải giáp lực lượng và vũ khí, chấp thuận trao trả vùng đất mà họ đã kiểm soát suốt ba thập kỷ qua tại Nagorno - Karabakh cho Azerbaijan.

Theo các chuyên gia, chiến dịch quân sự mà Quân đội Azerbaijan tiến hành vừa qua tại Nagorno - Karabakh được tính toán kỹ lưỡng về thời gian, nhằm giành lợi thế lớn nhất về mặt chiến lược cũng như quân sự. Mặc dù Armenia là thành viên Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO) cùng với Nga, Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và được Nga ủng hộ trong xung đột tại Nagorno - Karabakh, nhưng kể từ khi ông Nikol Pashinyan - người có xu hướng thân phương Tây trở thành Thủ tướng thì mối quan hệ giữa Armenia với Nga ngày càng xấu đi. Thủ tướng Nikol Pashinyan cho rằng, Nga đang “rời bỏ khu vực” và Armenia phụ thuộc vào an ninh của Nga là “sai lầm chiến lược”. Bên cạnh đó, chính phủ nước này còn tuyên bố sẽ tổ chức tập trận chung với Mỹ - hoạt động bị Nga chỉ trích là “bước đi không thân thiện”. Cũng theo các nhà nghiên cứu, việc Yerevan “xa rời” Moscow có thể là sai lầm, nó sẽ làm cho các hoạt động hỗ trợ lực lượng ly khai tại Nagorno - Karabakh gặp nhiều khó khăn; đồng thời, tạo cơ hội “có một không hai” cho Azerbaijan tiến hành thắng lợi chiến dịch quân sự, tạo “bước ngoặt” quan trọng trong cuộc xung đột tại Nagorno - Karabakh. Sau khi chiến sự xảy ra, Moscow cho rằng, chiến dịch quân sự “chống khủng bố” của Azerbaijan được tiến hành trên lãnh thổ của họ, Moscow không thể làm gì khi Yerevan công nhận Nagorno - Karabakh thuộc chủ quyền Azerbaijan; lực lượng Gìn giữ hòa bình của Nga tại khu vực này chỉ đóng vai trò cứu trợ nhân đạo và sơ tán người dân ra khỏi khu vực giao tranh.

Tác động đến khu vực

Chiến dịch quân sự do Azerbaijan tiến hành tại Nagorno - Karabakh nhận được nhiều luồng dư luận khác nhau. Một số nước thì cho rằng, chiến thắng của Quân đội Azerbaijan trước lực lượng ly khai người Armenia có ý nghĩa quan trọng, mở ra hy vọng chấm dứt cuộc xung đột kéo dài suốt ba thập niên tại Nagorno - Karabakh, qua đó giải quyết dứt điểm một trong những “điểm nóng” ở khu vực Nam Kavkaz. Tuy nhiên, một số quốc gia lại bày tỏ sự quan ngại sâu sắc, bởi hoạt động quân sự này có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng tại Nagorno - Karabakh. Trên thực tế, từ tháng 12/2022, Azerbaijan đã tiến hành phong tỏa “hành lang Lachin” - huyết mạch quan trọng để Armenia đảm bảo nguồn cung thiết yếu cho khoảng 120.000 người dân Armenia sống tại Nagorno - Karabakh. Hoạt động phong tỏa của Azerbaijan được cho là “mở đường” để tiến hành chiến dịch “chống khủng bố” và nó khiến cho cuộc sống của tộc người Armenia ở Nagorno - Karabakh lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu thốn.

Sau chiến sự, mặc dù chính quyền Azerbaijan cam kết đảm bảo an ninh cho người dân ở Nagorno - Karabakh, nhưng mới đây, chính phủ nước này lại ra lệnh bắt giữ thủ lĩnh và truy nã hơn 300 quan chức của lực lượng ly khai người Armenia. Do lo ngại bị trả thù và một đợt thanh lọc sắc tộc có thể diễn ra, nhiều người dân gốc Armenia đã và đang tìm cách di tản, trốn chạy khỏi Nagorno - Karabakh. Điều này khiến nguy cơ về một cuộc khủng khoảng nhân đạo mới sẽ xảy ra và gây bất ổn cho khu vực. Trong khi đó, chính trường Armenia lại đang bị “rung lắc” bởi những mâu thuẫn về cách giải quyết chiến sự tại Nagorno - Karabakh. Phe đối lập lên án chính quyền của Thủ tướng Nikol Pashinyan đã “quá chậm trễ” trong việc đối phó với chiến dịch quân sự, dẫn đến lực lượng ly khai người Armenia thất bại. Họ kêu gọi ông Nikol Pashinyan từ chức, đồng thời yêu cầu Quốc hội tiến hành bãi nhiệm và kết án Thủ tướng Nikol Pashinyan về tội phản quốc. Nhiều quan chức trong Chính phủ Armenia cũng đưa ra cảnh báo đáng lo ngại: sau thắng lợi tại Nagorno - Karabakh, Azerbaijan cũng có thể sử dụng sức mạnh quân sự để thực hiện yêu sách chủ quyền đối với các khu vực khác mà họ cho là đang tranh chấp với Armenia.

Ở một góc nhìn khác, nhiều nhà phân tích cho rằng, trong cuộc xung đột vừa diễn ra tại Nagorno - Karabakh, ngoài các lực lượng của Azerbaijan, Armenia, phe ly khai NKR, còn có sự can dự ở những mức độ khác nhau của một số quốc gia có liên quan trong khu vực với mục tiêu và lợi ích riêng. Chính sự hậu thuẫn, giúp đỡ từ bên ngoài đã tạo nên những ảnh hưởng không nhỏ đối với tương quan lực lượng trên chiến trường. Điều đó được minh chứng rõ nét trong cuộc xung đột năm 2020, với sự giúp đỡ của một số nước về vũ khí, phương tiện chiến đấu, Quân đội Azerbaijan đã làm chủ chiến trường, giành lại nhiều vùng đất do lực lượng ly khai người Armenia kiểm soát ở Nagorno - Karabakh. Còn đối với Nga, thời gian qua, nước này đóng vai trò chính trong việc ký các hiệp định đình chiến giữa Azerbaijan và Armenia; tham gia gìn giữ hòa bình tại khu vực tranh chấp Nagorno - Karabakh, nhưng hiện đang phải tập trung nguồn lực cho cuộc chiến tại Ukraine nên khó có thể ngăn cản một chiến dịch quân sự quy mô lớn của Azerbaijan ở khu vực. Về phía Liên minh châu Âu (EU) cũng đang tích cực hòa giải mâu thuẫn giữa Azerbaijan và Armenia sau chiến sự. Mặc dù vậy, nhiều nước thành viên EU có quan điểm khác nhau về chiến dịch quân sự này. Trong khi nhiều nước EU ủng hộ hoặc giữ thái độ “trung lập” đối với chiến dịch quân sự của Azerbaijan tại Nagorno - Karabakh, thì Pháp - quốc gia chủ chốt của EU lại phản đối, nhiều quan chức nước này còn tuyên bố ủng hộ Armenia và cam kết cung cấp vũ khí, phương tiện chiến đấu cho Yerevan. Vì vậy, giới phân tích quốc tế cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang rất gay gắt, cuộc xung đột tại Ukraine diễn biến phức tạp, Trung Đông đang nóng lên, thì tình hình tại Nagorno - Karabakh nói riêng, khu vực Nam Kavkaz nói chung sẽ rất khó đoán định.

Xung đột tại Nagorno - Karabakh kéo dài hơn ba thập niên do nhiều nguyên nhân; trong đó, vấn đề về lịch sử, văn hóa, điều kiện địa lý tự nhiên, sự phân bố dân cư, cùng sự can dự của một số nước và tổ chức khu vực từ bên ngoài được cho là những nguyên nhân chính khiến xung đột tại đây càng phức tạp, khó giải quyết. Trên thực tế, việc các bên sử dụng sức mạnh thông qua các hoạt động quân sự không những không thể giải quyết được bất đồng, mà còn làm cho mâu thuẫn thêm sâu sắc, xung đột ngày càng ác liệt. Các chuyên gia nghiên cứu cho rằng, chiến dịch “chống khủng bố” mà Azerbaijan tiến hành ở Nagorno - Karabakh, về mặt quân sự đã giành thắng lợi, hoàn thành mục tiêu đặt ra; song ở mặt nào đó, nó có thể là “vết đen” trong quan hệ giữa Azerbaijan với Armenia, hay nói cách khác là ngày càng khoét sâu sự hận thù giữa tộc người Armenia với người Azerbaijan. Bởi vậy, “bước ngoặt” do chiến dịch chống khủng bố của Azerbaijan tạo ra trong xung đột ở Nagorno - Karabakh có giúp vùng đất này bình yên trở lại hay chuyển sang trạng thái xung đột mới vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ.

MINH ĐỨC - HOÀI NAM

Bảo vệ quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng ở Việt Nam - thành tựu không thể phủ nhận

 Sự xuất hiện của mạng xã hội mang lại nhiều tiện ích cho con người, đóng góp vào sự phát triển của xã hội nhưng cũng chứa đựng nhiều nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người, nhất là giới trẻ. Vì vậy, việc Đảng và Nhà nước ta triển khai nhiều biện pháp bảo vệ quyền của người dân nói chung, quyền của người chưa thành niên nói riêng trên không gian mạng là hết sức cần thiết và là một tất yếu khách quan, mà không ai có thể phủ nhận.

Hiện nay, mạng xã hội đã trở nên phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của hầu hết người dân Việt Nam cùng với tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh và internet ngày càng tăng. Theo thống kê mới nhất của tổ chức “We Are Social”, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 06 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Ở Việt Nam, mọi người được tự do lập tài khoản và hoạt động trên mạng xã hội theo nhu cầu của bản thân1; Việt Nam không chặn hoặc cấm đoán bất kỳ mạng xã hội hay bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia internet (nếu không có sự vi phạm pháp luật). Các công ty công nghệ, như: Google (YouTube, Google), Meta (Facebook), ByteDance (TikTok),… hoạt động và phát triển mạnh, thu nhiều lợi nhuận từ thị trường Việt Nam. Mọi người dân ở Việt Nam đều có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật thông qua internet, mạng xã hội. Đó là minh chứng sống động về việc Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền được tự do thông tin, tự do internet của mỗi người dân.

Tuy nhiên, với tính đặc thù, cùng sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, bên cạnh mặt tích cực, không gian mạng cũng chứa đựng nhiều thông tin tiêu cực, nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống con người, nhất là giới trẻ, trong đó có một bộ phận người chưa thành niên (người chưa thành niên trong phạm vi bài viết này cũng được hiểu là trẻ em nói chung) bị xâm hại, dụ dỗ, lôi kéo tham gia vào hoạt động vi phạm pháp luật, như: mại dâm, sử dụng, mua bán chất ma túy, trộm cắp, thậm chí là ép buộc để thực hiện hành vi xâm hại. Không những thế, việc sử dụng internet quá nhiều, thiếu sự kiểm soát, định hướng,... sẽ làm gia tăng tỷ lệ người chưa thành niên gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, sức khỏe, học tập, thậm chí dẫn đến tự tử. Theo số liệu của Cục Trẻ em, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm 2022, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em (Tổng đài 111) đã ghi nhận gần 370.000 cuộc gọi đến, với gần 28.000 cuộc gọi được lập hồ sơ và hơn 1.500 ca can thiệp hỗ trợ. Trong số này, có 419 cuộc gọi báo cáo về hoạt động xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

Nhận rõ sự nguy hại của mặt trái mạng xã hội đối với người chưa thành niên và với quan điểm “Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, phát triển toàn diện và bảo đảm quyền của trẻ em; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”2, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành các văn bản, quy định pháp luật và nhiều giải pháp quan trọng để vừa sử dụng internet, mạng xã hội an toàn, đúng mục đích, vừa bảo vệ quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng. Thế nhưng, các thế lực thù địch, một số người nhân danh các tổ chức nhân quyền đã không thừa nhận điều đó, một mặt cho rằng Việt Nam không có tự do internet, mặt khác lại cho rằng Việt Nam không quan tâm bảo vệ quyền người chưa thành niên trên không gian mạng, v.v. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, thiếu cơ sở, phủ nhận vai trò của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của người chưa thành niên nói riêng trên không gian mạng.

Trên thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến thế hệ trẻ, nhất là giáo dục, đào tạo để lớp trẻ phát triển toàn diện, trở thành công dân tốt cho xã hội; trong đó có việc kiên quyết đấu tranh, khắc phục những tác động tiêu cực, bảo đảm bảo tốt nhất quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng và được thể hiện rõ ở những nội dung sau:

Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành các quy định pháp luật của các đối tượng, trực tiếp là nhóm trẻ vị thành niên, gia đình và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet nói chung, mạng xã hội nói riêng, như: lồng ghép vào chương trình giáo dục nội dung trang bị kiến thức, nhận thức về môi trường mạng cho người chưa thành niên, trẻ em và kỹ năng cơ bản khi sử dụng internet, cách thức tìm kiếm sự hỗ trợ khi bị xâm hại trên môi trường mạng; đẩy mạnh các hình thức tư vấn hỗ trợ trẻ em thông qua tư vấn học đường. Đối với gia đình, người chăm sóc trẻ, giáo viên,... đề cao trách nhiệm thường xuyên cập nhật kiến thức, phương pháp hướng dẫn trẻ các kỹ năng tự bảo vệ mình, tìm hiểu thông tin và khả năng tự phát hiện, tố cáo các hành vi có nguy cơ xâm hại khi tham gia môi trường mạng. Các doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ học tập trên môi trường mạng để người chưa thành niên truy cập, khai thác hiệu quả và an toàn. Đồng thời, biểu dương, khen thưởng kịp thời và nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo trong bảo đảm quyền của người chưa thành niên nói chung, trên không gian mạng nói riêng.

Thứ hai, Đảng và Nhà nước Việt Nam không ngừng hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm tạo “lá chắn” vững chắc để bảo vệ quyền của người chưa thành niên, nhất là khi tham gia mạng xã hội. Bằng chứng là, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990; cùng với đó, quan tâm xây dựng tương đối đồng bộ hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền cho người chưa thành niên nói chung, trên không gian mạng nói riêng, như: Luật Công nghệ thông tin; Luật An toàn thông tin mạng; Luật Trẻ em; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng. Đặc biệt, ngày 01/6/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 830/QĐ-TTg phê duyệt chương trình “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh trên không gian mạng giai đoạn 2021 - 2025”; ngày 30/7/2021, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký Quyết định số 1123/QĐ-BTTTT ban hành Kế hoạch triển khai quyết định số 830/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, v.v. Trong các văn bản pháp luật đã quy định rõ về bảo vệ quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”3; “Trẻ em có quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, giữ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác khi tham gia trên không gian mạng”4. Đồng thời, quy định rõ “Trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng”5 đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thứ ba, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ động, nỗ lực trong công tác chăm sóc và bảo vệ người chưa thành niên nói chung; bảo đảm quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng nói riêng. Trước hết là chăm lo công tác giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, xây dựng môi trường văn hóa,... tạo điều kiện tốt nhất để lớp trẻ được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện về phẩm chất đạo đức, thể chất, trí tuệ, v.v. Đồng thời, hoàn thiện bộ máy chăm sóc, bảo vệ quyền của người chưa thành niên; tăng cường các giải pháp kỹ thuật nhằm thu thập, phân tích, giám sát tuân thủ thực hiện việc chặn lọc, gỡ bỏ các nội dung xâm hại trẻ em trên môi trường mạng; triển khai hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ liên quan đến quyền của người chưa thành niên. Thành lập Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em hoạt động 24/24, miễn phí cước gọi và cước tư vấn để thường trực tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em. Đặc biệt, hằng năm, các cấp, ngành, địa phương đều tích cực hưởng ứng, tổ chức hiệu quả “Tháng hành động vì trẻ em” với nội dung phong phú, hiệu quả. Tiêu biểu, năm 2018 tổ chức Tháng hành động vì trẻ em với chủ đề “Vì cuộc sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em trong thế giới công nghệ số”, truyền đi thông điệp thiết thực và ý nghĩa được xem như là “Thông điệp bảo vệ trẻ em trên không gian mạng”; trong đó có thông điệp: vì cuộc sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em trong thế giới công nghệ số; sử dụng mạng xã hội vì cuộc sống an toàn, lành mạnh của trẻ em; lắng nghe trẻ em bằng trái tim, bảo vệ trẻ em bằng hành động. Đặc biệt, sáng 10/9/2023, trong khuôn khổ Chương trình Phiên họp giả định toàn thể “Quốc hội trẻ em” lần thứ I , diễn ra tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đã thảo luận về vấn đề bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và phòng, chống tai nạn thương tích, bạo lực, xâm hại trẻ em. Việc làm đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với trẻ em, trong đó có việc bảo vệ quyền trẻ em trên không gian mạng. Cùng với đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm tạo nguồn lực mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả trong bảo đảm quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng. Theo báo cáo khảo sát của MSD (Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững - Management and Sustainable Development Institute), tại Việt Nam năm 2022, có đa số trẻ tham gia khảo sát (60%) trả lời là cảm thấy an toàn khi sử dụng internet; đồng thời, các em cũng nhận thức được các nguy cơ mất an toàn khi sử dụng internet, đặc biệt là bị nghiện internet (60,9%). Kết quả đó là rất khích lệ, khẳng định các chủ trương, giải pháp của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người nói chung, quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng nói riêng là đúng hướng, hiệu quả, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển, hội nhập của Việt Nam trong suốt quá trình hơn 35 năm đổi mới. Việt Nam sẽ không ngừng bồi đắp thành quả này nhằm tiếp tục mang lại tự do, hạnh phúc và phát triển cho cộng đồng; bảo đảm cho người chưa thành niên được phát triển tự do, lành mạnh.

Thực tiễn trên đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận về việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên trên không gian mạng của Việt Nam; những luận điệu đó chỉ là “tiếng nói lạc lõng” trong dòng chảy xã hội mà thôi.

NGUYỄN THỊ ĐẮC HƯƠNG - ĐỖ TIẾN TRƯỜNG, Học viện Chính trị

Không thể xuyên tạc đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng

 Hiện nay, trước sự phát triển của vũ khí, phương tiện, hình thái chiến tranh, có quan điểm cho rằng, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là không phù hợp. Đây là nhận thức, quan điểm sai lầm, thiếu cơ sở khoa học, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Trước sự phát triển và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc sản xuất vũ khí, phương tiện chiến tranh đã, đang có sự nhảy vọt về chất, với nhiều tính năng vượt trội cả về kỹ thuật, chiến thuật; trong đó, những ưu thế về sự thông minh, độ chính xác cao, uy lực lớn, tầm hoạt động xa, có thể hoạt động trong điều kiện thời tiết, khí hậu phức tạp và đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều lần so với các thế hệ vũ khí trước đây là đặc tính nổi bật. Vũ khí công nghệ cao ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản một số quan điểm về chiến tranh, ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật quân sự, phương thức tác chiến, v.v.. Dựa vào đó, các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng nước ta cho rằng, trong điều kiện mới của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nhất là chiến tranh địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, vũ khí thông minh,... thì đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam là lỗi thời và sai lầm. Từ đó, họ ca ngợi sức mạnh quân sự của phương Tây; tuyệt đối hóa vũ khí, trang bị và xem đó là vấn đề quyết định trong chiến tranh; thúc đẩy chạy đua vũ trang và khuyên ta nên liên minh, liên kết quân sự với các nước có tiềm lực lớn về quân sự. Đây là thủ đoạn không mới, nhưng rất nguy hiểm nhằm đánh vào lòng người, nhất là trong bối cảnh các nước lớn không ngừng phô trương và sử dụng vũ khí thông minh, áp dụngtrí tuệ nhân tạo trong các cuộc xung đột cục bộ để răn đe các nước khác. Mục đích thực sự của họ nhằm gieo rắc hoài nghi về sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam; về đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng; về phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc,... để từng bước hướng lái nước ta theo con đường liên minh, liên kết dẫn tới phụ thuộc vào nước ngoài, v.v. Sự thực, xét cả về lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định, đường lối chiến tranh nhân dân là đường lối duy nhất đúng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và những kẻ cho rằng đây là đường lối sai lầm thì chính họ là sai lầm nhất.

Vì sao chúng ta lại khẳng định như vậy? Bởi đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng là đường lối đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, dựa vào phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, sức mạnh của toàn dân, sức mạnh toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Điều đó thể hiện sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nước ta, một dân tộc đất không rộng, người không đông nhưng luôn phải đối phó với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh, nếu không phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc thì không đủ sức mạnh để đánh thắng kẻ thù. Vì vậy, chưa có một đường lối nào có thể thay thế được đường lối chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Chiến lược quân sự Việt Nam thời kỳ mới đã khẳng định: “Huy động sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân đánh bại mọi hình thái chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn ven lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Chiến tranh nhân dân là đường lối duy nhất đúng để phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nếu buộc phải tiến hành chiến tranh. Chiến tranh nhân dân - một trong những sáng tạo về nghệ thuật tiến hành chiến tranh của Việt Nam là đường lối kế thừa xuất sắc truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, khi phải chống lại những đội quân xâm lược lớn mạnh hơn ta nhiều lần, tổ tiên ta đã vận hành thắng lợi nghệ thuật “lấy yếu chống mạnh, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, dựa trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc. Thời bình thực hiện giữ nước từ khi nước chưa nguy, với các chính sách “ngụ binh ư nông”, “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc”, dựa vào dân để giữ nước. Thời chiến đánh giặc bằng sức mạnh của toàn dân tộc “chúng chí thành thành, cử quốc nghênh địch”, cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc. Dựa vào dân làm kế “vườn không, nhà trống”, đánh giặc bằng mọi lực lượng, mọi loại vũ khí, ở mọi lúc, mọi nơi,… để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, viết nên truyền thống vẻ vang, đánh giặc giữ nước bằng sức mạnh của toàn dân tộc. Thời nào cũng vậy, khi đã phát huy được cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, thì không một thế lực nào khuất phục được dân tộc ta - đó là thực tế mà không thế lực nào có thể phủ nhận.

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin: “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân cũng như sự kế thừa xuất sắc truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, Đảng ta luôn khẳng định nhất quán đường lối chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhờ đường lối ấy, chúng ta đã phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng Tám lịch sử, kế tiếp đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập cho dân tộc. Trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, chúng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị trong chiến tranh, coi trọng yếu tố con người với lòng yêu nước và ý chí quyết tâm cao độ, yếu tố nhân dân. Dựa vào đường lối chiến tranh nhân dân, chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp, toàn diện từ mọi mặt của đất nước, triển khai thắng lợi phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân, kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực. Thông qua chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, tính đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân được kiểm nghiệm, trở thành nhân tố chủ yếu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Toàn cảnh phiên khai mạc  Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước, đường lối chiến tranh nhân dân vẫn là đường lối cơ bản, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong tổ chức, chuẩn bị và sẵn sàng tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra). Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ngày nay có sự phát triển, thay đổi rất khác trước, dự báo đối tượng tác chiến sẽ sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao, vũ khí thông minh cùng những phương thức tác chiến mới. Yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng cao, nhất là nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biên giới, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, ly khai, giữ vững hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Trong tình hình ấy, đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân trong đấu tranh bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vẫn còn nguyên giá trị. Mọi luận điểm phủ nhận, xuyên tạc đường lối chiến tranh nhân dân chỉ là mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch. Trên thực tế, chúng ta chưa bao giờ coi nhẹ vũ khí công nghệ cao; tuy nhiên, vũ khí công nghệ cao không phải là “vũ khí vạn năng”, nó cũng có những hạn chế, bởi nó được chế tạo theo hệ thống, vận hành theo hành trình, quy luật, một số loại còn chịu ảnh hưởng rất lớn của địa hình, thời tiết, một số loại còn bay thấp, tốc độ không cao, v.v. Nếu có các giải pháp hợp lý vẫn có thể hạn chế hiệu quả của vũ khí công nghệ cao, kể cả các giải pháp thô sơ, truyền thống. Như Giám đốc Trung tâm kỹ thuật của NATO, M. Defourneaux đã thừa nhận: “Ngay với đối thủ yếu, họ chỉ cần làm hỏng một bộ phận cũng đủ xóa bỏ hiệu lực của toàn bộ hệ thống vũ khí hiện đại, ngược lại để xóa một nhóm du kích độc lập, có thể phải diệt đến người cuối cùng”; “nơi mà xe tăng hạng nặng, khí tài điện tử hoặc trí tuệ con người không hoạt động được, thì ở đó con người vẫn tiếp tục cuộc chiến”; “sức mạnh vũ khí không thể thay thế được cái vĩ đại từ hàng nghìn năm nay - sức mạnh con người”, v.v.

Vũ khí dù có hiện đại đến đâu vẫn do con người sử dụng, vì thế không thể coi nhẹ yếu tố con người, mà đường lối chiến tranh nhân dân là đường lối phát huy cao độ yếu tố con người, với phẩm chất kiên cường, bất khuất, có ý chí, quyết tâm cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chiến đấu vì quê hương, đất nước. Vũ khí công nghệ cao có thể phá hủy được một số mục tiêu cố định, sát thương được một bộ phận lực lượng vũ trang và nhân dân ta, nhưng không thể đánh được tất cả mọi nơi trên đất nước Việt Nam và càng không thể là vũ khí bất khả xâm phạm; còn Đảng, còn Quân đội, còn Nhân dân, chúng ta còn chiến thắng. Đó chính là chiến tranh nhân dân.

Dựa vào vũ khí công nghệ cao, kẻ địch có thể có ưu thế về làm chủ trên không và một số môi trường đặc thù, nhưng chiến tranh nhân dân lấy làm chủ mặt đất làm chủ yếu, thực tiễn chiến tranh đã chỉ rõ, ai làm chủ mặt đất người đó sẽ chiến thắng. Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh của những con người thông minh, sáng tạo, đặc biệt sáng tạo trong vận dụng cách đánh, đánh địch ở mọi nơi, trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết, sáng tạo ra nhiều biện pháp tác chiến, nghi binh, lừa địch, cơ động, dịch chuyển, thật giả không phân biệt, kẻ địch khó mà xác định được các mục tiêu “thật” cho vũ khí công nghệ cao.

Lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân là lực lượng toàn dân, có mặt ở khắp mọi nơi, tạo thế trận rộng khắp, có thể bắn hạ tên lửa hành trình, máy bay không người lái, máy bay bay thấp, có thể đánh hiểm vào các khu vực bố trí vũ khí công nghệ cao của địch trên các môi trường, địa hình,... bằng các lực lượng đặc biệt tinh nhuệ. Trong tương lai, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, chúng ta vẫn phải kiên trì đường lối chiến tranh nhân dân, nhưng có sự phát triển ở trình độ cao và vẫn phải đánh với đối phương có vũ khí, trang bị hiện đại hơn ta, thậm chí hiện đại hơn ta rất nhiều lần. Chỉ có chiến tranh nhân dân mới phát huy được cao nhất sức mạnh của toàn dân tộc đánh thắng quân xâm lược, kể cả chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao và chỉ có chiến tranh nhân dân mới có nhiều giải pháp hạn chế vũ khí công nghệ cao. Đây cũng là câu trả lời đanh thép để bác bỏ luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Bảo vệ Tổ quốc bằng nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới, đánh địch bằng mưu kế, thắng địch bằng thế thời, đó là thượng sách giữ nước của dân tộc. Một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được. Để tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực, trong điều kiện đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao, cần có các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ xung đột và chiến tranh, chuẩn bị mọi mặt để tiến hành thắng lợi chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Một là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, có sức mạnh tổng hợp cao, có sức đề kháng mạnh mẽ và có khả năng ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức đúng đắn cho toàn dân về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chuẩn bị thế trận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới ngay từ thời bình. Tập trung giáo dục để mọi người có nhận thức đúng về tình hình các mặt, về đối tượng, đối tác, dự kiến các tình huống quốc phòng, an ninh, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hết sức chú trọng bồi dưỡng để có nhận thức đúng về vũ khí công nghệ cao, khắc phục tư tưởng sợ sệt, lo ngại, thiếu niềm tin vào khả năng sức mạnh của đất nước. Từ đó, có quyết tâm cao trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, coi trọng xây dựng hệ thống chính trị, “thế trận lòng dân”, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng các thành phần của thế trận quân sự, gắn xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân với xây dựng thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân không ngừng hiện đại là cơ sở chủ yếu để tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc thắng lợi. Về lực lượng, là cơ sở để mở rộng lực lượng, đáp ứng yêu cầu chiến tranh. Về tiềm lực, là cơ sở quan trọng huy động các khả năng tiềm tàng của đất nước phục vụ nhu cầu của chiến tranh. Về thế trận, là cơ sở chủ yếu để chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại phải toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trang bị kỹ thuật, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, huấn luyện và bảo đảm. Coi trọng nâng cao trình độ năng lực, tổ chức, trang bị, vũ khí và nghệ thuật tác chiến; trong đó, hiện đại hóa về vũ khí, trang bị có vai trò rất quan trọng trong chiến tranh sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao. Chúng ta luôn khẳng định con người là nhân tố quyết định nhưng cũng với những con người ấy, nếu có vũ khí, trang bị tốt hơn thì hiệu suất tác chiến sẽ cao hơn. Vì vậy, cùng với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cần kết hợp chặt chẽ giữa cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị hiện có với sản xuất, mua sắm trang bị hiện đại cho Quân đội, tập trung trang bị các loại vũ khí chiến lược có tầm đánh xa, uy lực lớn, độ chính xác cao, nâng cao khả năng răn đe từ thời bình và đánh thắng nếu buộc phải tiến hành chiến tranh. Đầu tư hơn nữa xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, bảo vệ từng địa bàn, địa giới hành chính, phát huy cao nhất sức mạnh của nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chỗ dựa vững chắc cho toàn dân đánh giặc.

Ba là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học quân sự, nhất là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân. Coi trọng công tác nghiên cứu dự báo, nhất là dự báo chiến lược, dự báo các thách thức, tình huống quốc phòng, an ninh, hình thái chiến tranh có thể xảy ra. Trong nghiên cứu về đối tượng tác chiến, chú trọng đối tượng có thể tiến hành chiến tranh xâm lược quy mô lớn, không coi nhẹ đối tượng xâm lấn biên giới, biển, đảo. Nghiên cứu về chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao và các giải pháp phòng, chống vũ khí công nghệ cao. Nghiên cứu phát triển lý luận tác chiến chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, nhất là các loại hình tác chiến mới xuất hiện: tác chiến bảo vệ biển, đảo; tác chiến phòng thủ; tác chiến đánh địch tiến công hỏa lực; tác chiến tiến công tổng hợp; tác chiến không gian mạng; tác chiến điện tử,… kế thừa kinh nghiệm từ chiến tranh giải phóng, nhưng không sa vào chủ nghĩa kinh nghiệm, các nghiên cứu phải phù hợp các điều kiện tác chiến mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Trung tướng, PGS, TS. TRẦN THÁI BÌNH

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng - vấn đề then chốt làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội

 Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội nhân dân lớn mạnh về mọi mặt, để cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi công cuộc giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, trước những đòi hỏi về phát triển đất nước và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Đảng ta xác định “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025 cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”1. Đây là chủ trương đúng đắn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước, đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, toàn quân ta. Thế nhưng các thế lực thù địch lại lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, chống phá với thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc.

Nhằm gây sự chú ý của dư luận, cùng với “ca tụng”, đánh giá cao chủ trương xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại của Đảng, một số cá nhân xưng danh “người yêu nước” đã “kiến nghị”, “đề xuất” với Đảng, Nhà nước về cách thức xây dựng Quân đội hiện đại “phù hợp” điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Theo họ, hòa bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế thời đại, thì vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp hiện đã lỗi thời; rằng, nếu đã xác định lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm mục tiêu cao nhất thì xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại chỉ cần nhấn mạnh tính nhân dân, tính dân tộc là đủ, đề cập tính đảng, tính giai cấp của Quân đội là không cần thiết, hay ít nhất cũng làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hiện đại hóa Quân đội. Đồng thời, họ còn “mạnh dạn” đề xuất: trong tình hình mới, phải nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả của nhà nước pháp quyền và để làm được điều đó thì mọi hoạt động của Quân đội cần được luật hóa, đặt dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, còn Đảng chỉ cần lãnh đạo Nhà nước là đủ, không nhất thiết phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội. Bên cạnh đó, để thể hiện rõ “trách nhiệm”, họ kiến nghị mô hình xây dựng Quân đội hiện đại theo hướng “chuyên nghiệp hóa” như quân đội nhà nghề ở một số nước tư bản, v.v.

Sự “hiến kế” trên đây nghe qua tưởng như rất “tâm huyết”, đầy “trách nhiệm” với Tổ quốc, song bằng nhãn quan chính trị tỉnh táo, chúng ta dễ dàng thấy rõ mưu đồ thâm hiểm mà chúng hướng đến là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về sâu xa chúng phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, từng bước xóa nhòa ý thức hệ vô sản, chuyển hóa dần bản chất chính trị của Quân đội; làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, bản chất của quân đội cách mạng. Đây cũng chính là đích đến mà các thế lực thù địch đã theo đuổi lâu nay, hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng - một trong những điều kiện tiên quyết phá hoại con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Vấn đề đặt ra là tại sao các đối tượng lại tập trung mũi nhọn, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tấn công quyết liệt, vừa trực diện, vừa lâu dài nhằm làm giảm vai trò, tiến tới vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội và coi đó là một mục tiêu hàng đầu trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”? Câu trả lời từ thực tiễn lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, đó là: sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định sự lớn mạnh, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội; đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng, đã đòi hỏi Đảng phải sớm tổ chức ra lực lượng vũ trang, nuôi dưỡng và lãnh đạo nó trở thành công cụ bạo lực cách mạng phục vụ mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Theo đó, ngay tại Đại hội Đại biểu lần thứ nhất (tháng 3/1935) Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về “Đội tự vệ”. Tiếp đến, ngày 22/12/1944, chấp hành Chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, gồm 34 cán bộ, chiến sĩ. Ngay từ đầu, về tổ chức Đội lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, bên cạnh Đội trưởng Hoàng Sâm (người chỉ huy), có Chính trị viên (đồng chí Xích Thắng). Đây là mốc son đánh dấu cho sự hình thành một quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Một quân đội mà mọi hoạt động (tổ chức biên chế, xây dựng lực lượng, trang bị vũ khí, mục tiêu chiến đấu, cách đánh, v.v.) đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Một quân đội mà Đảng luôn giữ quyền độc tôn lãnh đạo; không chia sẻ, nhường quyền lãnh đạo Quân đội cho bất kỳ đảng phái, tổ chức hoặc cá nhân nào.

Thực tiễn 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội đã minh chứng rằng, ở bất cứ giai đoạn, điều kiện, hoàn cảnh nào, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội luôn được giữ vững và không ngừng tăng cường. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, phát triển lớn mạnh. Đặc biệt, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt (ngày 25/12/1944), Nà Ngần (ngày 26/12/1944), mở ra truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh, biết thắng của Quân đội nhân dân. Sau gần một năm, Đội quân ấy là lực lượng vũ trang nòng cốt cùng toàn dân làm nên chiến thắng vĩ đại Cách mạng Tháng Tám (năm 1945), giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Bác Hồ kính yêu, Quân đội ta đã không ngừng phát triển lớn mạnh từ nhỏ đến lớn, trang bị từ thô sơ đến ngày càng hiện đại; từ những đơn vị cấp đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển lên quy mô đại đoàn, quân đoàn bộ đội chủ lực. Nghệ thuật tác chiến cũng được Đảng kế thừa phát triển ở tất cả các loại hình: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược; được Quân đội vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến đấu, trở thành những nét nghệ thuật quân sự đặc sắc đem lại những chiến thắng hiển hách trên chiến trường, được cả thế giới khâm phục. Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra chiến trường chỉ đạo trong Chiến dịch Biên Giới năm 1950; Thường vụ Trung ương Ðảng thông qua chủ trương tác chiến của Tổng Quân ủy trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954; Bộ Chính trị hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ (ngày 06/12/1953) và sự chủ động, sáng tạo, hành động kiên quyết của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ khi thay đổi phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, góp phần quyết định để Quân đội trực tiếp làm nên chiến thắng oanh liệt Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Hay, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, cùng với lãnh đạo cả nước thực hiện mục tiêu xuyên suốt tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,... Đảng ta đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường trọng điểm, tạo ra xung lực mạnh mẽ để Quân đội ta giành thắng lợi liên tiếp các chiến dịch lớn: Tây nguyên (04/3 đến 03/4/1975), Trị Thiên - Huế (05/3 đến 26/3/1975), Nam Ngãi (10/3 đến 26/3/1975), Đà Nẵng (26/3 đến 29/3/1975), v.v. Điều đó, đã trở thành nguồn cổ vũ lớn cho tinh thần chiến đấu “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; Táo bạo, táo bạo hơn nữa... Quyết chiến và toàn thắng”2 cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, cùng với nhân dân hình thành sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” đưa Chiến dịch Hồ Chí Minh đến toàn thắng, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đất nước thống nhất, cả nước bước vào thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, song do hậu quả chiến tranh và những yếu tố tác động khác nhau, đã làm đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài; đời sống cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước cũng làm cho Quân đội phải căng mình ra chống đỡ. Tuy thách thức đặt ra nặng nề, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội vẫn một lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, chiến đấu kiên cường bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, Quân đội không ngừng được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, cùng toàn dân, các cấp, ngành và cả hệ thống chính trị hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, đưa nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những thành tựu nêu trên của cả nước nói chung, Quân đội nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân; trong đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội luôn giữ vai trò quyết định. Điều đó càng được khẳng định khi Quân đội Liên Xô - một quân đội hùng hậu vào bậc nhất thế giới, nhưng do buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, nên mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và không thể bảo vệ được Đảng, Nhà nước và nhân dân trước biến động chính trị năm 1991. Bài học xương máu ấy càng cho thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội.

Như vậy, xét cả lý luận và thực tiễn đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội luôn là vấn đề sống còn của Quân đội, vấn đề then chốt trong phòng chống, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, trước hết cần tăng cường giáo dục giác ngộ sâu sắc về bản chất giai cấp công nhân, nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Điều đó sẽ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan, tiến tới “vô hiệu hóa” luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội, “Quân đội trung lập” của các thế lực thù địch. Thực hiện vấn đề này, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức sâu sắc rằng, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; là quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Đồng thời, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải làm cho bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ngày càng thấm sâu, trường tồn và phát triển mạnh mẽ trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Bên cạnh đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chú trọng xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, năng lực, tác phong công tác tốt, lối sống trung thực giản dị; luôn kiên định con đường cách mạng của Đảng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.

Hai là, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Đây là nội dung rất quan trọng, làm cơ sở để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đốỉ, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; gắn việc triển khai thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) với thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Ba là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị Quân đội. Hiện nay trước sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và tác động ảnh hưởng lớn của văn hóa xấu độc, các tệ nạn xã hội,… đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng “môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng “Đơn vị văn hoá” với đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng. Trong đó, chú trọng xây dựng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt; giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; kết hợp giữa bồi dưỡng nâng cao lập trường chính trị, tư tưởng với xây dựng đời sống văn hoá; xây dựng cảnh quan môi trường với củng cố nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, tạo ra những chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa - tinh thần của bộ đội, góp phần xây dựng ý chí quyết tâm vượt khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởnglý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Đấu tranh trực diện với địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội có tầm quan trọng đặc biệt và trở thành mặt trận nóng bỏng, gay go, quyết liệt hiện nay. Nhiệm vụ cơ bản trong đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của kẻ thù là bảo vệ và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới; đấu tranh làm rõ luận điệu cho rằng “quân đội trung lập về chính trị”, “quân đội phi giai cấp” là vô căn cứ, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tiếp tục khẳng định Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, thực hiện mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để tiến hành đấu tranh có hiệu quả trên lĩnh vực này, cần chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận và lực lượng nòng cốt (lực lượng 47) toàn quân có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh với địch.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”3 đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bởi vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội sẽ luôn là “tấm lá chắn bất khả chiến bại” bảo đảm cho Quân đội có “sức đề kháng mạnh mẽ”, “miễn dịch” hoàn toàn với mọi thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, đó cũng là vũ khí sắc bén để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái xuyên tạc, phủ nhận tính khoa học và thời đại của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Làm cho Quân đội ta luôn trung thành với Đảng, chiến đấu vì lý tưởng, mục tiêu của Đảng, mãi xứng đáng truyền thống quyết chiến, quyết thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng./.

XUÂN NGUYÊN