Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT!
Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi!
"Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi" là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.” Đó là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước nhà bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã cảm nhận sâu sắc nỗi đau của một dân tộc mất độc lập, người dân mất tự do. Nỗi đau ấy, cùng với lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, đã trở thành nguồn lực vô tận, thôi thúc người thanh niên mới vừa tròn 21 tuổi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước.
Ngày 2/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra bến Nhà Rồng xin việc. Ngày 3/6/1911, anh được nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin.
Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh ba mươi năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Chính hành trình này đã giúp Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt.
Vì thế, Người đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Và trong ba mươi năm đó, có biết bao “phong ba, bão táp” nhưng không ngăn nổi, không làm chùn ý chí, mong muốn: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr. 112).
Ngày 5/11/1945, Ngày Kháng chiến được tổ chức trên toàn quốc nhằm biểu thị sự ủng hộ của toàn dân đối với cuộc chiến đấu oanh liệt của đồng bào Nam Bộ. Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và đọc diễn văn tại Nhà hát lớn, Hà Nội. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta.
Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc.
Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta.
Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.
Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta. Ðó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước do dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc.
Ðó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Ðiện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ðó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ðó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà nhân dân ta đang tiến hành.
Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng.
Có thể khẳng định, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị.
Bác để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương, vì nước, vì dân, vì Ðảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói và cách làm việc.
Trong những ngày tháng này, đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và bà con ta ở nước ngoài đang hướng về Bác với tất cả lòng thành kính và xiết bao thương nhớ, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác.
Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất cộng sản, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng trong sáng và là sự cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam./.
ST.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người suốt đời nêu gương phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Người đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá là tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Sinh thời, Người luôn luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên phẩm chất đạo đức quan trọng hàng đầu của người cách mạng là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Với phương châm hết sức sâu sắc: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, Người suốt đời nêu gương phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của dân tộc; là tấm gương mẫu mực của đạo đức suốt đời trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chứng kiến cuộc sống đau khổ, cùng cực của biết bao người dân dưới sự thống trị của chế độ thực dân tàn bạo, phản động. Được hun đúc, kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, truyền thống tốt đẹp của quê hương và gia đình, Người đã sớm hình thành khát vọng đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, cứu nước, cứu dân thoát khỏi vòng tăm tối của chế độ thuộc địa. Đó chính là động lực vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy Người quyết định từ bỏ con đường “vinh thân phì gia”, mưu cầu lợi ích cho cá nhân đang rộng mở, vượt qua bao khó khăn, hiểm nguy, đi tìm một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, để tìm lại hình của đất nước và làm hồi sinh dân tộc.
Khởi đầu của hành trình tìm đường cứu nước, Người chưa thể định hình rõ con đường đi của dân tộc, nhưng Người chắc chắn xác định được tiêu chí của con đường đó là phải giải phóng được dân tộc, phải mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả người dân. Chính với tiêu chí như vậy, Người không chọn cứu nước theo những con đường “cách mạng không đến nơi”, cách mạng giành được thắng lợi nhưng quyền hành và lợi ích lại chỉ nằm trong tay một thiểu số người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp giải phóng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng triệt để con người. Đó không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, mà còn phù hợp với xu thế phát triển ngày càng tiến bộ của nhân loại. Đó cũng chính là mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - người lãnh đạo con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp đó.
Những năm tháng hoạt động bí mật, từng bị bắt giam trong chốn lao tù của thực dân Anh và quân đội Tưởng Giới Thạch, bị hành hạ, đày ải tàn bạo và đối mặt với âm mưu lung lạc, mua chuộc của kẻ thù, thậm chí bị kết án tử hình vắng mặt, nhưng Người vẫn giữ vững tấm lòng kiên trung, vẫn vững vàng niềm tin tất thắng với sự nghiệp cách mạng của Tổ quốc, của Đảng và dân tộc. Vượt qua sự lùng bắt ráo riết của kẻ thù và bao khó khăn, gian khổ của hoàn cảnh hoạt động bí mật, Người trực tiếp tuyên truyền, giáo dục và tổ chức sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những bài báo, tác phẩm của Người và đặc biệt là các cán bộ cách mạng - những “hạt giống đỏ” từ những lớp huấn luyện do Người tổ chức và trực tiếp giảng dạy - đã học tập theo tấm gương của Người, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.
Bác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sĩ một đơn vị Cảnh sát nhân dân khu Hoàn Kiếm (Hà Nội), ngày 1 Tết Quý Mão 1963. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát
Trước ảnh hưởng của tư tưởng còn có lúc “tả khuynh” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chưa sát hợp với thực tiễn các nước thuộc địa phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự vận dụng, bổ sung và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó vừa là sự thể hiện tư duy lỗi lạc, vượt trước thời gian của Người, vừa là kết quả của phương châm đặt lợi ích chân chính của Tổ quốc, của Đảng, của dân tộc lên trên hết và trước hết, nêu cao bản lĩnh cách mạng và tinh thần trách nhiệm trước sự phát triển chung của phong trào cách mạng.
Những ngày chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc, dù bị ốm nặng, Người vẫn suy nghĩ, trăn trở về tương lai cách mạng và khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trên cương vị người đứng đầu Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn dân bắt tay xây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh nêu rõ tiêu chí của nước độc lập là tự do, hạnh phúc của nhân dân, bởi “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Người chú trọng nhắc nhở những người cán bộ, đảng viên được giao nắm giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền phải ghi nhớ quyền hành và lực lượng là ở nơi nhân dân; Chính phủ là công bộc của nhân dân; phải trung thành, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết và trước hết; phải gắn bó mật thiết với nhân dân và chăm lo, phụng sự cho lợi ích của nhân dân, coi lợi ích chính đáng của nhân dân chính là tiêu chuẩn của chân lý; đồng thời phải hết sức phòng tránh bị suy thoái trong điều kiện Đảng cầm quyền, không bị trở thành những vị “quan cách mạng” đặc quyền, đặc lợi.
Được tôn vinh là người “công dân số một” của chính thể dân chủ mới, vị lãnh tụ của Đảng và dân tộc, nhưng trên cương vị đỉnh cao quyền lực như vậy, Người vẫn giữ nếp sống thanh bạch, giản dị, gần gũi với thiên nhiên, vẫn thể hiện nhất quán sự khiêm tốn trước nhân dân, tin yêu nhân dân, tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân. Người khẳng định tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào; cương vị Chủ tịch nước của Người là việc phải gánh, phải gắng sức làm, là tuân theo sự ủy thác của đồng bào, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra mặt trận. Người bộc bạch chân thành trước quốc dân đồng bào: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.
Để khắc phục ảnh hưởng nghiêm trọng của nạn đói năm Ất Dậu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương một trong những biện pháp cấp bách là vận động đồng bào sẻ cơm nhường áo, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái trong đồng bào toàn quốc thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng nhịn ăn 3 bữa để xây dựng những hũ gạo cứu đói, cứu trợ những đồng bào nghèo đang lúc giáp hạt. Là Chủ tịch nước, song Người vẫn thực hành nêu gương nhịn ăn. Có lần vào bữa nhịn ăn theo kế hoạch, Người lại được mời dự chiêu đãi ngoại giao. Hôm sau, Người nhịn ăn bù lại.
Thiếu nhi Thủ đô quây quần bên Bác Hồ trong Tết Thiếu nhi 1/6/1969. Ảnh: TTXVN
Hơn 20 năm trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước, lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, xây dựng đời sống mới, Hồ Chí Minh luôn thực hiện đặt việc công, việc chung lên trên hết (dĩ công vi thượng), lấy mong muốn, nguyện vọng của nhân dân làm mong muốn, nguyện vọng của mình (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm). Người luôn trăn trở làm sao để nước nhà được hoàn toàn độc lập, thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà; tất cả mọi người dân đều có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; làm sao để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, phòng chống hữu hiệu nguy cơ suy thoái của một đảng cầm quyền; Nhà nước thực sự là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân... Người không giành cho mình những đặc quyền, đặc lợi và từ chối nhận những danh hiệu cao quý khi công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà còn chưa hoàn thành. Chưa đầy hai tháng trước khi qua đời, trong buổi tiếp và trả lời phỏng vấn nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Granma (Cuba), Người nói: “Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”.
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “để lại mấy lời”, nhưng không phải để nói về cá nhân theo như lẽ thông thường của con người, mà trước hết chính là để “đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Đó là những trăn trở, lo nghĩ cho đất nước, Đảng, dân tộc, cho những người đang sống và các thế hệ tương lai. “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”, tất cả là vì dân tộc, vì nhân dân, vì Đảng, không có một chút gì của riêng Người. Người chính là hiện thân trọn vẹn nhất, mẫu mực nhất hình ảnh của một người cách mạng suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
ST.
Kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
(1) Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh sẽ góp phần củng cố và nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.
(2) Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị - xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.
(3) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.
(4) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.
(5) Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin.
(6) Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Cần phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách hợp lòng dân vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Tạo sự gắn kết từng con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xứng đáng vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đối với thế hệ thanh niên Việt Nam, đang học tập, công tác trên các lĩnh vực, nhất là khối các doanh nghiệp, ngân hàng cần phải thực hiện một số nội dung sau:
Một là, quán triệt đầy đủ mọi văn bản chỉ thị, hướng dẫn, quy định, nghị quyết... các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết Đảng bộ Khối lần thứ III và nghị quyết đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Hai là, phải nhất quán kiên định, trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại.
Ba là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng và chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên CNXH và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo.
Bốn là, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt.
VINH DỰ VÀ TỰ HÀO “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”
“Quân đội ta trung với Đảng,
hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ
nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù
nào cũng đánh thắng”.
Đây là lời khen tặng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm lần
thứ 20 ngày thành lập (22-12-1964) và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của
Quân đội ta, là chuẩn mực của “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục
và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn
đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với
vai trò là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà
nước và nhân dân.
Trung với Đảng, trung với
nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân
nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức
mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực
và trí tuệ, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trung với Đảng, trung với
nước của quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của
Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo
vệ đất nước. Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa
vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân
dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.
Trong suốt 79 năm xây dựng,
chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc trải qua các cuộc trường chinh
kháng chiến, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối
mặt với đế quốc, thực dân hung bạo. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của
Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc, quân đội
đã luôn giữ vững lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần bất khuất,
kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp
lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa và phát huy làm cho bản chất và truyền thống cách
mạng của quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày
càng tỏa sáng. Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ; là sức mạnh giúp quân
đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến lên chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại và tiến lên hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao,
góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa./.
Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NHỮNG TRẬN ĐÁNH HIỂN HÁCH...
Cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam thường
được nhớ tới bởi các cuộc giao tranh nhỏ, tầm chiến lược. Cùng điểm qua 5 trận
chiến tiêu biểu trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ do các hãng thông tấn đánh giá.
|
|
|
Chiến
dịch Hồ Chí Minh (30/4/1975) |
Cuộc
chiến chống Mỹ của Việt Nam thường được nhớ tới bởi các cuộc giao tranh nhỏ,
tầm chiến lược. Bên cạnh đó, một số cuộc tấn công và trận chiến lớn đã làm ảnh
hưởng nhiều đến kết quả của cuộc chiến. Đồng thời, làm nên tên tuổi của lực
lượng quân đội Việt Nam. Hãy cùng điểm qua 5 trận chiến tiêu biểu trong thời kỳ
Việt Nam chống Mỹ do các hãng thông tấn nước ngoài và trong nước đánh giá.
1.
Thung lũng Ia Đrăng (26/10 - 27/11/1965)
Vào
cuối năm 1965, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch,
trận đánh trực tiếp với quân Mỹ và giành thắng lợi vang dội. Trong đó, trận Ia
Đrăng là một trong những thắng lợi điển hình với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc.
Với
cách đánh “vây điểm, diệt viện”, cuối tháng 10/1965, trong khuôn khổ Chiến dịch
Plây-me, quân ta đã vây ép đồn Plây-me, tiêu diệt đồn Chư Ho, buộc địch phải
điều một chiến đoàn bộ binh cùng Chiến đoàn thiết giáp số 3 ngụy ứng cứu nhưng
cũng bị lực lượng của ta đánh bại.
Ngày
14/11/1965, Lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống thung
lũng Ia Đrăng (cách đồn Plây-me 25 km về phía Tây) nhằm đánh đòn bất ngờ vào
sau lưng đội hình các đơn vị chủ lực ta. Đây cũng là tình huống nằm trong phán
đoán của ta, nhằm đưa bộ đội chủ lực trực tiếp đương đầu với quân Mỹ. Nhờ đó,
tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng và xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội. Vì
thế, trận Ia Đrăng đã diễn ra liên tục nhiều giờ, cả ngày lẫn đêm, dưới các
loại hỏa lực bom và đạn pháo của Mỹ.
Bằng
quyết tâm cao, thế trận vững chắc, hiểm hóc và cách đánh linh hoạt, quân ta tiêu
diệt gần hết một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác của Lữ
đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ. Đồng thời, khiến chúng phải tháo chạy khỏi thung
lũng Ia Đrăng. Đây là trận đầu tiên quân đội ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn
quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc: Khôn khéo
điều dụ quân Mỹ đến địa bàn có lựa chọn để hình thành trận then chốt, tiêu diệt
lớn quân địch; Tạo lập thế trận vững chắc, linh hoạt, có chiều sâu, sẵn sàng
đánh bại chiến thuật mới của quân Mỹ; Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến
thuật, thủ đoạn chiến đấu để tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn quân Mỹ.
Thung lũng Ia Đrăng
2.
Khe Sanh (21/1 - 9/4/1968)
Năm
1968, một trong những trận đánh được biết đến nhiều nhất trong Chiến tranh Việt
Nam đã nổ ra tại căn cứ Khe Sanh, nằm cách khu vực phi quân sự (DMZ) 14 dặm
(22km) và cách biên giới Lào 6 dặm (9,6km). Bị Thủy quân Lục chiến Mỹ chiếm
đóng từ một năm trước đó, căn cứ Khe Sanh, vốn là một tiền đồn cũ của thực dân
Pháp, đã được sử dụng làm nơi tiến hành các chuyến tuần tra tiền phương. Đồng
thời, đó cũng là điểm xuất phát tiềm năng cho các chiến dịch dự tính trong
tương lai nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào.
Trận
đánh bắt đầu bằng cuộc đối đầu vũ trang giữa Tiểu đoàn 3 thuộc Thủy quân Lục
chiến số 26 với một tiểu đoàn quân giải phóng, diễn ra giữa hai ngọn đồi nằm
phía Tây Bắc căn cứ. Ngày hôm sau, lực lượng quân giải phóng chiếm được làng
Khe Sanh và nã pháo vào căn cứ, đánh trúng kho đạn chính và làm nổ tung 1.500
tấn thuốc nổ./.
VẪN CÒN NGƯỜI “U MÊ” VỀ HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI
Sau một thời gian “nằm
yên” do bị sự chấn chỉnh của pháp luật, những hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa
trời mẹ” tiếp tục diễn ra ở Quảng Nam, gây bức xúc, phẫn nộ trong nhân dân,
hoang mang trong dư luận.
Trước thực tế này, như Báo CAND đã thông tin, ngày 4/11 vừa qua,
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh đã yêu cầu các đơn vị phát hiện kịp
thời và kiên quyết đấu tranh, xoá bỏ về phương diện tổ chức đối với “Hội thánh
Đức Chúa trời mẹ”.
U mê vì… “tà đạo”
Theo lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam, thời gian gần đây, hoạt động
của “Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ” với tên gọi đầy đủ là “Hội thánh của Đức Chúa
Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin Lành thế giới” (xuất phát từ Hàn Quốc, du nhập
vào Việt Nam từ năm 2001) tiếp tục diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước và
tỉnh Quảng Nam. Một số đối tượng “Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ” từ các tỉnh,
thành khác đến Quảng Nam chia thành nhiều nhóm nhỏ, thường xuyên thay đổi địa
điểm, phương thức hoạt động nhằm phát triển “tà đạo” với nhiều dấu hiệu tiêu
cực, có yếu tố mê tín, dị đoan, trục lợi cá nhân, gây bức xúc và phẫn nộ trong
quần chúng nhân dân, vi phạm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo, trái thuần phong mỹ tục.
Trước đó, nhiều nhóm người len lỏi đến các trường Đại học, vùng
nông thôn ở mọi miền như Thanh Hóa, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Cần
Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang… để tuyên truyền về “Hội thánh Đức Chúa trời
mẹ”, dụ dỗ và lôi kéo người dân theo đạo.
Phương thức của nhóm này là sử dụng sách thực hành giảng đạo,
các quyển tranh, ảnh minh họa thuyết trình giảng đạo không nguồn gốc xuất bản.
Nội dung tuyên truyền cực đoan, phản khoa học “chỉ sống cho riêng mình, từ bỏ
gia đình”; Nội dung không phù hợp với văn minh của nhân loại như “có một đấng tiên
tri ở nước ngoài về xem và nói về tương lai đúng 100%”, “không làm mà vẫn có
ăn”. Trong khi đó vẫn phải nhờ sự đóng góp 1/10 thu nhập của người khác để
sống. Mặt khác, các nhóm này yêu cầu thành viên đều phải có trách nhiệm đi
truyền giáo cho người khác (kết trái) thực chất là lôi kéo người khác để góp
tiền cho chúng.
Thế nhưng, trái ngược với những lời tuyên truyền vàng ngọc đó,
những người mê muội gia nhập “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đã bỏ bê công việc,
vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn, sinh viên bỏ học, để lại cho người thân những nỗi
đau, vừa tự tay khép chặt cánh cửa tương lai của chính mình.
Rồi, có nhiều người u mê đến nỗi về nhà vứt hết bát hương thờ
cúng tổ tiên, không ăn đồ thờ cúng, tin vào “ngày tận thế”. Nguy hại hơn nữa,
họ còn đòi bán cả vườn đất chỉ để “phụng Chúa”, vì sau này có nhà trên thiên
đường, sống sung sướng… Thậm chí, có người phụ nữ còn bỏ nhà và con nhỏ mới
sinh mấy tháng tuổi để đi theo.
Những hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đã vi phạm
nghiêm trọng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, xâm phạm các quyền tự do cơ bản của
công dân, có dấu hiệu lợi dụng giáo lý của tôn giáo để trục lợi cá nhân… cần xử
lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Vì thế, Bộ Nội vụ đã đề nghị các địa
phương kiên quyết xoá bỏ Hội thánh Đức Chúa trời mẹ như: Giải tán, thu hồi giấy
phép đối với các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, không để tổ chức này tái
nhóm, hình thành các tụ điểm hoạt động mới; đồng thời không chấp thuận đăng ký
hoạt động dưới mọi hình thức bao gồm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hình
thành tổ chức phi chính phủ, công ty, văn phòng đại diện, cửa hàng, câu lạc bộ,
chương trình ngoại khóa…
“Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đang lợi dụng
“đức tin” của một bộ phận nhân dân. Ảnh minh hoạ.
Khi “đức tin” bị lừa gạt?
Nếu như vài thập kỷ trước, khi mà cuộc sống của không ít người
còn quá khó khăn, khi mà người ta phải tin vào những điều không tưởng để có chỗ
dựa về tinh thần nhằm xoa dịu nỗi đau thực tế thì việc tin tưởng mù quáng không
quá khó hiểu.
Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn,
xã hội ngày càng phát triển thì thực trạng trên đúng là quá khó chấp nhận.
Những người đi theo “tà đạo” không chỉ là bà con có dân trí thấp, không chỉ là
những người ở vùng sâu, vùng xa mà có rất nhiều người ở các thành phố lớn, được
ăn học đàng hoàng. Nó thể hiện sự hời hợt trong nhận thức, sự lệch lạc trong tư
tưởng, sự thiếu hiểu biết của một nhóm người.
Nó cũng cho thấy, “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đang lợi dụng
“đức tin” của một bộ phận nhân dân. Và khi con người ta “lếch thếch” đi theo
cái gọi là “đức tin” đó của hội này thì nó cũng đồng nghĩa với việc con
người ta đang bị đầu độc và giết chết từ bên trong. Đồng thời, sự “lây lan” của
hội này tại nhiều địa phương, tồn tại kéo dài mà chưa kịp thời giải quyết cũng
cho thấy công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng cũng đang
có những bất cập nhất định.
Việc “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” bị cho là tà giáo là có cơ sở
ngay từ chính nơi khởi nguyên của nó, chứ đừng nói đến những hoạt động không
đúng với giáo lý kinh thánh, kích động, không hợp với truyền thống văn hóa,
thuần phong mỹ tục của người Việt trong thời gian qua.
Đúng là, niềm tin của mỗi người rất đáng được trân trọng. Vấn đề
ở chỗ, tin tưởng vào những điều không tưởng, tin tưởng vào những thứ vô văn
hóa, vô giá trị như lời tuyên truyền của “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” thì khó
lòng có thể chấp nhận được. Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến riêng
những người tham gia vào tà đạo và gia đình của họ mà còn tác động xấu đến tình
hình an ninh trật tự của địa phương./.
Một ngày bắn rơi 10 máy bay
Năm 1967, đơn vị tôi di chuyển vào Thừa Thiên Huế để bảo vệ tuyến đường Trường Sơn mới mở trên địa phận thuộc huyện A Lưới. Lúc đó, tôi được biên chế về Đại đội 4 súng máy 12,7mm thuộc Bộ tư lệnh 559.
Phấn khởi và tự hào kỷ niệm 79 năm ngày truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944-22/12/2023)

