Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TUYỆT ĐỐI, TRỰC TIẾP VỀ MỌI MẶT!

     Mới đây, trên “Baoquocdan” phần tử phản động Nguyễn Tâm Linh đã đăng bài nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, nói xấu Quân đội hòng gây chia rẽ sự lãnh đạo của Đảng với Quân đội với nhân dân. Chúng phủ nhận sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và rêu rao rằng: “...nguy cơ tự diễn biến trong quân đội ngày càng một lớn cùng với khả năng mất quyền kiểm soát quân đội dẫn đến sụp đổ chế độ như đã từng xảy ra tại các quốc gia cộng sản Đông Âu đã khiến thượng tầng chính trị Việt Nam có bước đi trước...hay khẳng định sở hữu quân đội: hệ lụy và mục đích....khẳng định tử huyệt: đảng ôm bom....”.

Chúng ta cần khẳng định rằng, những vấn đề và lập luận nêu trên của Nguyễn Tâm Linh là hoàn toàn bịa đặt, vô căn cứ, xuyên tạc,… chỉ để thõa mãn tham vọng cá nhân “trả thù chế độ”, chúng lợi dụng mạng xã hội để tung tin giả, xấu, độc nhằm xuyên tạc sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với Quân đội; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của người lính Cụ Hồ; đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội; làm cho Quân đội ta không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân.

Thực tế đã chỉ ra rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt nam, cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị trong quần chúng cách mạng, Đảng rất coi trọng xây dựng lực lượng quân sự và giữ quyền lãnh đạo chặt chẽ quân sự trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Quyền lãnh đạo quân đội thuộc về đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, không phân quyền lãnh đạo đó cho một giai cấp nào, một tổ chức, một đảng phái nào khác. Có như vậy thì sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội mới vững chắc và thích hợp với tính chất, đặc điểm của quân đội. Chính nhờ nắm chắc và lãnh đạo chặt chẽ quân đội mà Đảng đã phát huy được sức mạnh của quân đội, làm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch trong xây dựng và lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn và kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo quân đội của các Đảng cộng sản trên thế giới đã chứng minh: bất kỳ ở đâu, trong tình huống nào mà Đảng Cộng sản không nắm chắc và giữ vai trò lãnh đạo đối với quân đội thì quân đội ở đó không còn là lực lượng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nếu khi nào Đảng Cộng sản buông lỏng sự lãnh đạo của mình đối với quân đội, lập tức quân đội xa rời mục tiêu chiến đấu, bị mất phương hướng chiến đấu, dẫn đến biến chất và bị kẻ thù vô hiệu hoá, trở thành lực lượng đối trọng của giai cấp, của nhà nước đã tổ chức ra nó. Ngược lại, thực tiễn của cách mạng Việt Nam gần 80 năm qua đã khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm cho Quân đội ta luôn luôn là lực lượng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội không xa rời mục tiêu chiến đấu, không bị mất phương hướng chiến đấu.

Ngày nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, sâu sắc và mau lẹ, xung đột vũ trang, sắc tộc, tranh chấp chủ quyền an ninh, biên giới,… đang đặt ra yêu cầu cao cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, chúng ta không một phút lơ là đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt. Do đó, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. 

Trong nhiều năm qua, một trong những âm mưu thủ đoạn quen thuộc của các thể lực thù địch luôn hướng tới là đòi “phi chính trị hoá” quân đội, hòng tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, mất phương hướng chính trị, quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng cho rằng nếu không làm cho quân đội suy yếu, dao động về mặt tư tưởng, mất lòng tin vào Đảng, vào chế độ... thì không thể giành thắng lợi ở Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, vì vậy chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phản động như “quân đội là của chung dân tộc, làm nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm chứ không phải để bảo vệ chế độ”, “Quân đội mang bản chất nhân dân chứ không mang bản chất của giai cấp công nhân”... thực chất là muốn tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hoá quân đội, nhằm thực hiện âm mưu thâm độc của chúng như đã từng diễn ra ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây. 

Từ tình hình thực tiễn trên đây đòi hỏi chúng ta phải bình tĩnh, sáng suốt và nhạy bén xử trí có hiệu quả các tình huống xảy ra, phải kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc về chiến lược, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt về sách lược. Kiên quyết đấu tranh trên mặt trận lý luận, tư tưởng nhằm đập tan những luận điệu xuyên tạc và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù. Một trong những biện pháp quan trọng đó là đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu phát triển lý luận để bảo vệ và làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Mặt khác, truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của Quân đội ta là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Phải coi việc thường xuyên giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là một tất yếu khách quan trong tình hình hiện nay. Để thực hiện sự lãnh đạo đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ta đã định ra nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân.

Đảng ta khẳng định, dứt khoát quyền lãnh đạo quân đội là thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Quyền lãnh đạo đó không chia sẻ cho bất cứ một đảng phái nào, một tổ chức nào, một cá nhân nào. Sự lãnh đạo đó là lãnh đạo trực tiếp không thông qua một khâu trung gian nào, một tổ chức trung gian nào. Đồng thời sự lãnh đạo đó trên tất cả các lĩnh vực hoạt động chính trị, tư tưởng, tổ chức; trên tất cả các mặt công tác: quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; trong tất cả các nhiệm vụ chiến đấu, huấn luyện, xây dựng, lao động sản xuất và làm nghĩa vụ quốc tế; lãnh đạo mọi tổ chức, mọi lực lượng của quân đội trong mọi điều kiện hoàn cảnh.

Trong tình hình mới, chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác, không dao động tư tưởng trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù hòng gây chia rẽ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, sẵn sàng đấu tranh đập tan mọi âm mưu thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch kích động tạo sự đối lập, phân hóa, tách rời sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước đối với Quân đội; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân.

Hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiểu rõ ai là bạn, ai là thù, ai đúng, ai sai; ai là đối tác, ai là đối tượng; âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân hôm nay tự tin kế thừa, nối nghiệp cha anh cầm chắc tay súng bảo vệ biển, trời thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân; có thêm động lực, niềm tin và sức mạnh để tiếp tục xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; viết tiếp bản anh hùng ca “tiến bước dưới quân kỳ”, “vì nhân dân quên mình”, tô thắm thêm màu cờ Tổ quốc, tỏa sáng danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./.
Yêu nước ST.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi!

 "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi" là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi! ảnh 1Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.” Đó là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước nhà bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã cảm nhận sâu sắc nỗi đau của một dân tộc mất độc lập, người dân mất tự do. Nỗi đau ấy, cùng với lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, đã trở thành nguồn lực vô tận, thôi thúc người thanh niên mới vừa tròn 21 tuổi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước.

Ngày 2/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra bến Nhà Rồng xin việc. Ngày 3/6/1911, anh được nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin.

Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh ba mươi năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Chính hành trình này đã giúp Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt.

Vì thế, Người đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Và trong ba mươi năm đó, có biết bao “phong ba, bão táp” nhưng không ngăn nổi, không làm chùn ý chí, mong muốn: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr. 112).

Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi! ảnh 2Ngày 5/11/1945, Ngày Kháng chiến được tổ chức trên toàn quốc nhằm biểu thị sự ủng hộ của toàn dân đối với cuộc chiến đấu oanh liệt của đồng bào Nam Bộ. Tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và đọc diễn văn tại Nhà hát lớn, Hà Nội. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta.

Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc.

Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta.

Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.

Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta. Ðó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước do dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

Ðó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Ðiện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

Ðó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Ðó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà nhân dân ta đang tiến hành.

Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng.

Có thể khẳng định, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị.

Bác để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương, vì nước, vì dân, vì Ðảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói và cách làm việc.

Trong những ngày tháng này, đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và bà con ta ở nước ngoài đang hướng về Bác với tất cả lòng thành kính và xiết bao thương nhớ, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác.

Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất cộng sản, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng trong sáng và là sự cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam./.

ST.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người suốt đời nêu gương phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

 Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Người đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá là tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Sinh thời, Người luôn luôn chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên phẩm chất đạo đức quan trọng hàng đầu của người cách mạng là trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Với phương châm hết sức sâu sắc: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, Người suốt đời nêu gương phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của dân tộc; là tấm gương mẫu mực của đạo đức suốt đời trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chứng kiến cuộc sống đau khổ, cùng cực của biết bao người dân dưới sự thống trị của chế độ thực dân tàn bạo, phản động. Được hun đúc, kế thừa chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, truyền thống tốt đẹp của quê hương và gia đình, Người đã sớm hình thành khát vọng đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, cứu nước, cứu dân thoát khỏi vòng tăm tối của chế độ thuộc địa. Đó chính là động lực vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy Người quyết định từ bỏ con đường “vinh thân phì gia”, mưu cầu lợi ích cho cá nhân đang rộng mở, vượt qua bao khó khăn, hiểm nguy, đi tìm một con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, để tìm lại hình của đất nước và làm hồi sinh dân tộc.

Khởi đầu của hành trình tìm đường cứu nước, Người chưa thể định hình rõ con đường đi của dân tộc, nhưng Người chắc chắn xác định được tiêu chí của con đường đó là phải giải phóng được dân tộc, phải mang lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho tất cả người dân. Chính với tiêu chí như vậy, Người không chọn cứu nước theo những con đường “cách mạng không đến nơi”, cách mạng giành được thắng lợi nhưng quyền hành và lợi ích lại chỉ nằm trong tay một thiểu số người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp giải phóng dân tộc gắn liền với sự nghiệp giải phóng triệt để con người. Đó không chỉ là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, mà còn phù hợp với xu thế phát triển ngày càng tiến bộ của nhân loại. Đó cũng chính là mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - người lãnh đạo con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp đó.

Những năm tháng hoạt động bí mật, từng bị bắt giam trong chốn lao tù của thực dân Anh và quân đội Tưởng Giới Thạch, bị hành hạ, đày ải tàn bạo và đối mặt với âm mưu lung lạc, mua chuộc của kẻ thù, thậm chí bị kết án tử hình vắng mặt, nhưng Người vẫn giữ vững tấm lòng kiên trung, vẫn vững vàng niềm tin tất thắng với sự nghiệp cách mạng của Tổ quốc, của Đảng và dân tộc. Vượt qua sự lùng bắt ráo riết của kẻ thù và bao khó khăn, gian khổ của hoàn cảnh hoạt động bí mật, Người trực tiếp tuyên truyền, giáo dục và tổ chức sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Những bài báo, tác phẩm của Người và đặc biệt là các cán bộ cách mạng - những “hạt giống đỏ” từ những lớp huấn luyện do Người tổ chức và trực tiếp giảng dạy - đã học tập theo tấm gương của Người, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.

Bác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sĩ một đơn vị Cảnh sát nhân dân khu Hoàn Kiếm (Hà Nội), ngày 1 Tết Quý Mão 1963. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát

Trước ảnh hưởng của tư tưởng còn có lúc “tả khuynh” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chưa sát hợp với thực tiễn các nước thuộc địa phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự vận dụng, bổ sung và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đó vừa là sự thể hiện tư duy lỗi lạc, vượt trước thời gian của Người, vừa là kết quả của phương châm đặt lợi ích chân chính của Tổ quốc, của Đảng, của dân tộc lên trên hết và trước hết, nêu cao bản lĩnh cách mạng và tinh thần trách nhiệm trước sự phát triển chung của phong trào cách mạng.

Những ngày chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền của dân tộc, dù bị ốm nặng, Người vẫn suy nghĩ, trăn trở về tương lai cách mạng và khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trên cương vị người đứng đầu Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo toàn dân bắt tay xây dựng xã hội mới, Hồ Chí Minh nêu rõ tiêu chí của nước độc lập là tự do, hạnh phúc của nhân dân, bởi “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” và “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Người chú trọng nhắc nhở những người cán bộ, đảng viên được giao nắm giữ các chức vụ trong bộ máy chính quyền phải ghi nhớ quyền hành và lực lượng là ở nơi nhân dân; Chính phủ là công bộc của nhân dân; phải trung thành, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết và trước hết; phải gắn bó mật thiết với nhân dân và chăm lo, phụng sự cho lợi ích của nhân dân, coi lợi ích chính đáng của nhân dân chính là tiêu chuẩn của chân lý; đồng thời phải hết sức phòng tránh bị suy thoái trong điều kiện Đảng cầm quyền, không bị trở thành những vị “quan cách mạng” đặc quyền, đặc lợi.

Được tôn vinh là người “công dân số một” của chính thể dân chủ mới, vị lãnh tụ của Đảng và dân tộc, nhưng trên cương vị đỉnh cao quyền lực như vậy, Người vẫn giữ nếp sống thanh bạch, giản dị, gần gũi với thiên nhiên, vẫn thể hiện nhất quán sự khiêm tốn trước nhân dân, tin yêu nhân dân, tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân. Người khẳng định tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào; cương vị Chủ tịch nước của Người là việc phải gánh, phải gắng sức làm, là tuân theo sự ủy thác của đồng bào, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra mặt trận. Người bộc bạch chân thành trước quốc dân đồng bào: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”.

Để khắc phục ảnh hưởng nghiêm trọng của nạn đói năm Ất Dậu 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương một trong những biện pháp cấp bách là vận động đồng bào sẻ cơm nhường áo, khơi dậy tinh thần tương thân tương ái trong đồng bào toàn quốc thực hiện 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng nhịn ăn 3 bữa để xây dựng những hũ gạo cứu đói, cứu trợ những đồng bào nghèo đang lúc giáp hạt. Là Chủ tịch nước, song Người vẫn thực hành nêu gương nhịn ăn. Có lần vào bữa nhịn ăn theo kế hoạch, Người lại được mời dự chiêu đãi ngoại giao. Hôm sau, Người nhịn ăn bù lại.

Thiếu nhi Thủ đô quây quần bên Bác Hồ trong Tết Thiếu nhi 1/6/1969. Ảnh: TTXVN

Hơn 20 năm trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước, lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, xây dựng đời sống mới, Hồ Chí Minh luôn thực hiện đặt việc công, việc chung lên trên hết (dĩ công vi thượng), lấy mong muốn, nguyện vọng của nhân dân làm mong muốn, nguyện vọng của mình (Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm). Người luôn trăn trở làm sao để nước nhà được hoàn toàn độc lập, thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà; tất cả mọi người dân đều có cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; làm sao để Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, phòng chống hữu hiệu nguy cơ suy thoái của một đảng cầm quyền; Nhà nước thực sự là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân... Người không giành cho mình những đặc quyền, đặc lợi và từ chối nhận những danh hiệu cao quý khi công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà còn chưa hoàn thành. Chưa đầy hai tháng trước khi qua đời, trong buổi tiếp và trả lời phỏng vấn nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Granma (Cuba), Người nói: “Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như yêu đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”.

Trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “để lại mấy lời”, nhưng không phải để nói về cá nhân theo như lẽ thông thường của con người, mà trước hết chính là để “đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột”. Đó là những trăn trở, lo nghĩ cho đất nước, Đảng, dân tộc, cho những người đang sống và các thế hệ tương lai. “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”, tất cả là vì dân tộc, vì nhân dân, vì Đảng, không có một chút gì của riêng Người. Người chính là hiện thân trọn vẹn nhất, mẫu mực nhất hình ảnh của một người cách mạng suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

ST.

Kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam.

(1) Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh sẽ góp phần củng cố và nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

(2) Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị - xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.

(3) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

(4) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

(5) Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin.

(6) Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Cần phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách hợp lòng dân vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Tạo sự gắn kết từng con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xứng đáng vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối với thế hệ thanh niên Việt Nam, đang học tập, công tác trên các lĩnh vực, nhất là khối các doanh nghiệp, ngân hàng cần phải thực hiện một số nội dung sau:

Một là, quán triệt đầy đủ mọi văn bản chỉ thị, hướng dẫn, quy định, nghị quyết... các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết Đảng bộ Khối lần thứ III và nghị quyết đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. 

Hai là, phải nhất quán kiên định, trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại.

Ba là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng và chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên CNXH và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo.

Bốn là, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt. 

VINH DỰ VÀ TỰ HÀO “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 


“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Đây là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập (22-12-1964) và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, là chuẩn mực của “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trung với Đảng, trung với nước của quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước. Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.

Trong suốt 79 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc trải qua các cuộc trường chinh kháng chiến, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc, quân đội đã luôn giữ vững lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa và phát huy làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng. Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ; là sức mạnh giúp quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến lên chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và tiến lên hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.


Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NHỮNG TRẬN ĐÁNH HIỂN HÁCH...

 

 

Cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam thường được nhớ tới bởi các cuộc giao tranh nhỏ, tầm chiến lược. Cùng điểm qua 5 trận chiến tiêu biểu trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ do các hãng thông tấn đánh giá.

Description: Chiến dịch Hồ Chí Minh (30/4/1975)

Chiến dịch Hồ Chí Minh (30/4/1975)

Cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam thường được nhớ tới bởi các cuộc giao tranh nhỏ, tầm chiến lược. Bên cạnh đó, một số cuộc tấn công và trận chiến lớn đã làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả của cuộc chiến. Đồng thời, làm nên tên tuổi của lực lượng quân đội Việt Nam. Hãy cùng điểm qua 5 trận chiến tiêu biểu trong thời kỳ Việt Nam chống Mỹ do các hãng thông tấn nước ngoài và trong nước đánh giá.

1. Thung lũng Ia Đrăng (26/10 - 27/11/1965)

Vào cuối năm 1965, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta mở nhiều chiến dịch, trận đánh trực tiếp với quân Mỹ và giành thắng lợi vang dội. Trong đó, trận Ia Đrăng là một trong những thắng lợi điển hình với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc.

Với cách đánh “vây điểm, diệt viện”, cuối tháng 10/1965, trong khuôn khổ Chiến dịch Plây-me, quân ta đã vây ép đồn Plây-me, tiêu diệt đồn Chư Ho, buộc địch phải điều một chiến đoàn bộ binh cùng Chiến đoàn thiết giáp số 3 ngụy ứng cứu nhưng cũng bị lực lượng của ta đánh bại.

Ngày 14/11/1965, Lữ đoàn 3 kỵ binh Mỹ dùng máy bay lên thẳng đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng (cách đồn Plây-me 25 km về phía Tây) nhằm đánh đòn bất ngờ vào sau lưng đội hình các đơn vị chủ lực ta. Đây cũng là tình huống nằm trong phán đoán của ta, nhằm đưa bộ đội chủ lực trực tiếp đương đầu với quân Mỹ. Nhờ đó, tìm hiểu khả năng tác chiến của chúng và xây dựng cách đánh Mỹ cho bộ đội. Vì thế, trận Ia Đrăng đã diễn ra liên tục nhiều giờ, cả ngày lẫn đêm, dưới các loại hỏa lực bom và đạn pháo của Mỹ.

Bằng quyết tâm cao, thế trận vững chắc, hiểm hóc và cách đánh linh hoạt, quân ta tiêu diệt gần hết một tiểu đoàn và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác của Lữ đoàn 3 kỵ binh không vận Mỹ. Đồng thời, khiến chúng phải tháo chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng. Đây là trận đầu tiên quân đội ta tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân Mỹ trên chiến trường miền Nam, với nhiều nét nghệ thuật đặc sắc: Khôn khéo điều dụ quân Mỹ đến địa bàn có lựa chọn để hình thành trận then chốt, tiêu diệt lớn quân địch; Tạo lập thế trận vững chắc, linh hoạt, có chiều sâu, sẵn sàng đánh bại chiến thuật mới của quân Mỹ; Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu để tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn quân Mỹ.

Description: Thung lũng Ia ĐrăngThung lũng Ia Đrăng

2. Khe Sanh (21/1 - 9/4/1968)

Năm 1968, một trong những trận đánh được biết đến nhiều nhất trong Chiến tranh Việt Nam đã nổ ra tại căn cứ Khe Sanh, nằm cách khu vực phi quân sự (DMZ) 14 dặm (22km) và cách biên giới Lào 6 dặm (9,6km). Bị Thủy quân Lục chiến Mỹ chiếm đóng từ một năm trước đó, căn cứ Khe Sanh, vốn là một tiền đồn cũ của thực dân Pháp, đã được sử dụng làm nơi tiến hành các chuyến tuần tra tiền phương. Đồng thời, đó cũng là điểm xuất phát tiềm năng cho các chiến dịch dự tính trong tương lai nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào.

Trận đánh bắt đầu bằng cuộc đối đầu vũ trang giữa Tiểu đoàn 3 thuộc Thủy quân Lục chiến số 26 với một tiểu đoàn quân giải phóng, diễn ra giữa hai ngọn đồi nằm phía Tây Bắc căn cứ. Ngày hôm sau, lực lượng quân giải phóng chiếm được làng Khe Sanh và nã pháo vào căn cứ, đánh trúng kho đạn chính và làm nổ tung 1.500 tấn thuốc nổ./.

VẪN CÒN NGƯỜI “U MÊ” VỀ HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI

 


Sau một thời gian “nằm yên” do bị sự chấn chỉnh của pháp luật, những hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” tiếp tục diễn ra ở Quảng Nam, gây bức xúc, phẫn nộ trong nhân dân, hoang mang trong dư luận.

Trước thực tế này, như Báo CAND đã thông tin, ngày 4/11 vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh đã yêu cầu các đơn vị phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh, xoá bỏ về phương diện tổ chức đối với “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ”.

U mê vì… “tà đạo”

Theo lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam, thời gian gần đây, hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ” với tên gọi đầy đủ là “Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin Lành thế giới” (xuất phát từ Hàn Quốc, du nhập vào Việt Nam từ năm 2001) tiếp tục diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước và tỉnh Quảng Nam. Một số đối tượng “Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ” từ các tỉnh, thành khác đến Quảng Nam chia thành nhiều nhóm nhỏ, thường xuyên thay đổi địa điểm, phương thức hoạt động nhằm phát triển “tà đạo” với nhiều dấu hiệu tiêu cực, có yếu tố mê tín, dị đoan, trục lợi cá nhân, gây bức xúc và phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, vi phạm các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trái thuần phong mỹ tục.

Trước đó, nhiều nhóm người len lỏi đến các trường Đại học, vùng nông thôn ở mọi miền như Thanh Hóa, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang… để tuyên truyền về “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ”, dụ dỗ và lôi kéo người dân theo đạo.

Phương thức của nhóm này là sử dụng sách thực hành giảng đạo, các quyển tranh, ảnh minh họa thuyết trình giảng đạo không nguồn gốc xuất bản. Nội dung tuyên truyền cực đoan, phản khoa học “chỉ sống cho riêng mình, từ bỏ gia đình”; Nội dung không phù hợp với văn minh của nhân loại như “có một đấng tiên tri ở nước ngoài về xem và nói về tương lai đúng 100%”, “không làm mà vẫn có ăn”. Trong khi đó vẫn phải nhờ sự đóng góp 1/10 thu nhập của người khác để sống. Mặt khác, các nhóm này yêu cầu thành viên đều phải có trách nhiệm đi truyền giáo cho người khác (kết trái) thực chất là lôi kéo người khác để góp tiền cho chúng.

Thế nhưng, trái ngược với những lời tuyên truyền vàng ngọc đó, những người mê muội gia nhập “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đã bỏ bê công việc, vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn, sinh viên bỏ học, để lại cho người thân những nỗi đau, vừa tự tay khép chặt cánh cửa tương lai của chính mình.

Rồi, có nhiều người u mê đến nỗi về nhà vứt hết bát hương thờ cúng tổ tiên, không ăn đồ thờ cúng, tin vào “ngày tận thế”. Nguy hại hơn nữa, họ còn đòi bán cả vườn đất chỉ để “phụng Chúa”, vì sau này có nhà trên thiên đường, sống sung sướng… Thậm chí, có người phụ nữ còn bỏ nhà và con nhỏ mới sinh mấy tháng tuổi để đi theo.

Những hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đã vi phạm nghiêm trọng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, xâm phạm các quyền tự do cơ bản của công dân, có dấu hiệu lợi dụng giáo lý của tôn giáo để trục lợi cá nhân… cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Vì thế, Bộ Nội vụ đã đề nghị các địa phương kiên quyết xoá bỏ Hội thánh Đức Chúa trời mẹ như: Giải tán, thu hồi giấy phép đối với các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, không để tổ chức này tái nhóm, hình thành các tụ điểm hoạt động mới; đồng thời không chấp thuận đăng ký hoạt động dưới mọi hình thức bao gồm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hình thành tổ chức phi chính phủ, công ty, văn phòng đại diện, cửa hàng, câu lạc bộ, chương trình ngoại khóa…

Description: 2.jpg -0               

     “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đang lợi dụng “đức tin” của một bộ phận nhân dân. Ảnh minh hoạ.

Khi “đức tin” bị lừa gạt?

Nếu như vài thập kỷ trước, khi mà cuộc sống của không ít người còn quá khó khăn, khi mà người ta phải tin vào những điều không tưởng để có chỗ dựa về tinh thần nhằm xoa dịu nỗi đau thực tế thì việc tin tưởng mù quáng không quá khó hiểu.

Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống của con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng phát triển thì thực trạng trên đúng là quá khó chấp nhận. Những người đi theo “tà đạo” không chỉ là bà con có dân trí thấp, không chỉ là những người ở vùng sâu, vùng xa mà có rất nhiều người ở các thành phố lớn, được ăn học đàng hoàng. Nó thể hiện sự hời hợt trong nhận thức, sự lệch lạc trong tư tưởng, sự thiếu hiểu biết của một nhóm người.

Nó cũng cho thấy, “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” đang lợi dụng “đức tin” của một bộ phận nhân dân. Và khi con người ta “lếch thếch” đi theo cái gọi là “đức tin” đó của hội  này thì nó cũng đồng nghĩa với việc con người ta đang bị đầu độc và giết chết từ bên trong. Đồng thời, sự “lây lan” của hội này tại nhiều địa phương, tồn tại kéo dài mà chưa kịp thời giải quyết cũng cho thấy công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng cũng đang có những bất cập nhất định.

Việc “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” bị cho là tà giáo là có cơ sở ngay từ chính nơi khởi nguyên của nó, chứ đừng nói đến những hoạt động không đúng với giáo lý kinh thánh, kích động, không hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của người Việt trong thời gian qua.

Đúng là, niềm tin của mỗi người rất đáng được trân trọng. Vấn đề ở chỗ, tin tưởng vào những điều không tưởng, tin tưởng vào những thứ vô văn hóa, vô giá trị như lời tuyên truyền của “Hội thánh Đức Chúa trời mẹ” thì khó lòng có thể chấp nhận được. Điều này không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến riêng những người tham gia vào tà đạo và gia đình của họ mà còn tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương./.

Một ngày bắn rơi 10 máy bay

 Năm 1967, đơn vị tôi di chuyển vào Thừa Thiên Huế để bảo vệ tuyến đường Trường Sơn mới mở trên địa phận thuộc huyện A Lưới. Lúc đó, tôi được biên chế về Đại đội 4 súng máy 12,7mm thuộc Bộ tư lệnh 559.

Đúng 6 giờ 30 phút ngày 27-4-1967, máy bay địch quần thảo xung quanh trận địa của chúng tôi ở xã Hồng Vân, huyện A Lưới. Trước đó, cán bộ, chiến sĩ phụ trách 3 khẩu súng máy 12,7mm đã lấy tầm ngắm và sẵn sàng chiến đấu. Phương án chiến đấu đã xác định, các khẩu đội chờ lệnh. Lúc đó qua kính ngắm, tôi cũng xác định được máy bay địch cách trận địa khoảng 2 cây số. Hơn 8 giờ, được lệnh của cấp trên, các khẩu đội nhanh chóng lấy hướng, tầm và nhả đạn vào một chiếc trực thăng với cự ly hơn 1 cây số.
Chúng tôi nhìn thấy chiếc máy bay địch có một luồng khói phụt ra, bị trọng thương rơi vào hướng số 4. Chỉ 5 phút sau, mấy chiếc UH-1A lại lao đến, hàng loạt đạn phòng không của ta như những vòng lửa trùm lấy và 1 chiếc máy bay bị bắn rơi tại chỗ. Một lúc sau, qua ống kính ngắm, tôi phát hiện có 1 chiếc A-4D đang lao xuống. Lập tức, Đại đội trưởng Nguyễn Phú Thọ lệnh cho 3 khẩu súng liên tiếp nhả đạn, chiếc máy bay A-4D đã bốc cháy tại chỗ.
Bị đòn đau, địch huy động nhiều loại máy bay tập trung quần thảo và thả bom vào trận địa. Đại đội trưởng điều động thêm 2 khẩu súng chi viện kịp thời. Khi 2 chiếc F-100 lao xuống, chưa kịp thả bom thì 1 chiếc bị trúng đạn rơi tại chỗ, 1 chiếc bỏ chạy ra hướng biển. Bọn địch thấy tình hình thất thế nên điều động thêm 2 chiếc F-4H đến, chưa kịp bay một vòng đã bị bắn trọng thương, phải tìm đường tháo chạy.
Trong lúc địch hoảng hốt, chưa xác định vị trí của trận địa, chúng cho 1 chiếc L-19 bay lượn, tìm trận địa của ta. Trận địa trên cao điểm của ta đồng thời nổ súng liên tiếp 4 loạt, chiếc L-19 bị thương hoảng hồn bỏ chạy. Đại đội trưởng Nguyễn Phú Thọ tới động viên, khen ngợi các khẩu đội đã anh dũng, mưu trí, quyết tâm đánh thắng địch.
Chúng tôi chưa kịp nghỉ ngơi, lấy lại sức thì lập tức có 2 chiếc F-4H lượn một vòng xung quanh trận địa. Bọn chúng phát hiện trận địa đặt 2 khẩu súng mới bổ sung nên bổ nhào xuống ném bom rồi ngay sau đó vội vàng tháo chạy. Đáp trả hành động của địch, 3 khẩu súng ở trận địa khác đã nổ súng và bắn trúng 1 chiếc F-4H...
Sau một ngày chiến đấu căng thẳng, quyết liệt, trên khuôn mặt các chiến sĩ ám đầy bụi khói, mùi thuốc súng nồng nặc trên quần áo, nhưng nụ cười chiến thắng đầy rạng rỡ. Chúng tôi vui mừng được cấp trên thông báo, ngày 27-4-1967, Đại đội 4 súng máy 12,7mm của chúng tôi bắn rơi 10 máy bay và khiến một số chiếc bị thương phải tháo chạy...
56 năm đã trôi qua nhưng ký ức về trận đánh địch đổ bộ đường không của Đại đội 4 súng máy 12,7mm anh hùng chúng tôi nhớ mãi không quên./.
St

Phấn khởi và tự hào kỷ niệm 79 năm ngày truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944-22/12/2023)

Danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”- Danh hiệu cao quý được Nhân dân suy tôn và yêu mến trao tặng cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, gắn bó máu thịt với Nhân dân; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, phản ánh bản chất quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng lãnh đạo.
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là hệ thống các chuẩn mực, giá trị đạo đức, văn hóa, trí tuệ, vật chất, tinh thần của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân nhân cách mạng, được hun đúc, sáng tạo ra trong lịch sử và ngày càng được tô thắm thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của Quân đội ta. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành nhân vật trung tâm của văn hóa, văn nghệ cách mạng và là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào và là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
79 năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ kính yêu, sự đùm bọc, yêu thương, che chở, nuôi dưỡng của Nhân dân, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn tỏa sáng, trở thành biểu tưởng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà đỉnh cao là văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” với 3 giá trị cốt lõi: Văn hóa đạo đức, Văn hóa trí tuệ và Văn hóa vất chất.
Thứ nhất: Văn hóa đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ” được khái quát bởi 5 giá trị, chuẩn mực đạo đức sáng ngời:
Một là, trung thành tuyệt đối, vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân trong bất luận điều kiện khó khăn, gian khổ, hy sinh ác liệt nhất. Điều này được minh chứng bằng những con số biết nói về sự hy sinh cao cả của Người lính Cụ Hồ trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc!
Hai là, hội tụ đầy đủ nhất những phẩm chất đạo đức sáng ngời của người cán bộ cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Đây thực sự là biểu tượng cao đẹp, một giá trị văn hóa, đạo đức của con người Việt Nam, là hình tượng tiêu biểu và rất đỗi tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, được Nhân dân ca tụng là "con người đẹp nhất", được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ thời đại Hồ Chí Minh.
Ba là, có khát vọng cống hiến mãnh liệt, tinh thần xung kích, đi đầu, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, trọng tâm là chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội và những luận điệu xuyên tạc, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với tư tưởng kiên trì, kiên định, kiên quyết nhất.
Bốn là, có tình yêu thương đồng chí, đồng đội rất đỗi bình dị mà thiêng liêng cao quý nhất; tình quân dân “cá - nước”, “quân với dân một ý chí”, tạo nên sự gắn bó máu thịt với Nhân dân, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, đúng như Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - phẩm chất của một quân đội vừa đánh giặc giỏi, vừa phải ra sức giúp đỡ Nhân dân và tuyên truyền vận động Nhân dân. Khi cần thiết phải tích cực tham gia xây dựng kinh tế và giúp dân sản xuất”.
Ngày nay, phẩm chất, nhân cách đó càng được khẳng định trong thực tiễn thông qua những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ trong giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường và dịch bệnh, với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ. Trong dịch bệnh hiểm nguy hay bão lũ thiên tai, bộ đội luôn sát cánh, có mặt kịp thời để bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân. Mưa lũ chia cắt bản làng nhưng càng làm bền chặt hơn tình quân dân máu thịt. Đó là những hình ảnh giản dị nhưng ngời sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời bình.
Năm là, có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, cao cả nhất trong cả thời chiến và thời bình. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Lào và Cam pu chia, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã mãi mãi nằm xuống trên đất bạn, nhiều người phải chịu di chứng và thương tật suốt đời, để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế, gọi Bộ đội Việt Nam - “Bộ đội Cụ Hồ” là “Bộ đội nhà Phật”. Trong thời bình, Vượt lên những khó khăn, bất đồng ngôn ngữ, bất ổn về tình hình an ninh, điều kiện sinh hoạt hạn chế, khí hậu khắc nghiệt, những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam đã và đang tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, làm cho phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” vượt khỏi những giới hạn về thời gian và không gian, tiếp tục lan tỏa đến bạn bè quốc tế.
Thứ hai: Văn hóa trí tuệ “Bộ đội Cụ Hồ” được kết tinh thông qua kết quả của quá trình trao đổi, sáng tạo tri thức, sự hiểu biết, tư duy và kinh nghiệm của mỗi cán bộ, chiến sỹ trên nền tảng lí trí với 3 giá trị độc đáo:
Một là, có đường lối, nghệ thuật quân sự độc đáo với thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều", “lấy đoản binh chế trường trận”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, nghệ thuật “thế, lực, thời, mưu”, “mưu phạt công tâm”.
Hai là, có khả năng tiếp cận và thích ứng nhanh với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiên phong, chủ lực trong chiến lược chuyển đổi số, luôn chủ động và khẳng định mình trong hoạt động khoa học, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ba là, Trên mặt trận kinh tế, Người lính Cụ Hồ tại các Doanh nghiệp Quốc phòng đã tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành và các vùng kinh tế quan trọng của đất nước, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực Quốc phòng.
Thứ ba: Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” còn được bộc lộ rõ nét từ cuộc sống giản dị, đơn sơ, không màng đến giá trị vật chất tầm thường, kết tinh thành văn hóa vật chất với tinh thần hưởng thụ sau nhất và thấp nhất
Hành trang của người lính Cụ Hồ thật giản đơn, chiếc ba lô con cóc, cây gậy trường sơn, đôi dép cao su, tấm áo trấn thủ… đã làm nên vẻ đẹp lý tưởng của người lính Cụ Hồ là cội nguồn sức mạnh hơn cả những khí tài sắt thép, góp phần làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước.
Giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là vấn đề có tính thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và mỗi quân nhân. Do đó, mỗi “Người lính Cụ Hồ”, bằng tình cảm, trách nhiệm và việc làm thiết thực của mình, luôn nỗ lực để tô thắm thêm bảng vàng truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, văn minh. Thường xuyên tổ chức tốt hoạt động thực tiễn, các phong trào hành động cách mạng gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ Đội Cụ Hồ”, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã khẳng định: “Hình ảnh và tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”./. 
CĐ,VS (st)