Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Ngoại giao Việt Nam năm 2023: Điểm sáng nổi bật trong thành tựu của đất nước

 

Năm 2023 là năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục phục hồi tích cực, song còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Trong khi đó, thế giới tiếp tục trải qua những biến động lớn, đứng trước bước ngoặt chuyển dịch nhanh hơn sang cục diện mới, đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ hàng đầu của công tác đối ngoại và ngoại giao là tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Gặt hái những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử

Tiếp tục phát huy thế và lực mới của đất nước, bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, đúng đắn của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại trong năm 2023, nhất là đối ngoại cấp cao đã diễn ra sôi động, rộng khắp các châu lục và tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng.

Trong năm qua, chúng ta đã tổ chức thành công 22 chuyến thăm của lãnh đạo chủ chốt tới các nước láng giềng, các đối tác quan trọng, bạn bè truyền thống và 28 chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam cùng với hàng trăm cuộc gặp cấp cao tại các diễn đàn, hội nghị đa phương; trong đó, có những chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử như chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Joe Biden...

Thành công của các chuyến thăm, hoạt động đối ngoại này đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn. Ảnh: TRÀ NGUYỄN 

Cùng với đó, khuôn khổ quan hệ với nhiều đối tác quan trọng đã được nâng lên tầm cao mới, tin cậy chính trị với nhiều nước được củng cố vững chắc, hợp tác ngày càng mở rộng, thực chất và hiệu quả; vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam được khẳng định nổi bật tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc, tiểu vùng Mê Công, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Hội nghị lần thứ 28 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP28), Diễn đàn cấp cao hợp tác quốc tế Vành đai và Con đường...

Trước biến động phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta đã xử lý đúng đắn quan hệ với các đối tác trên cơ sở kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách lược và ứng xử; nhờ đó, vừa thúc đẩy hợp tác để cùng phát triển, vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Bên cạnh tiếp tục đảm nhận các trọng trách quốc tế, Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp thúc đẩy hợp tác, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của thế giới như phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình ở châu Phi, lần đầu tiên cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ... Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay.

Công tác nghiên cứu, tham mưu và dự báo về đối ngoại đạt nhiều kết quả quan trọng. Ngành ngoại giao cùng các ngành, các cấp đã tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ chỉ đạo xử lý nhiều vấn đề đối ngoại trước diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, đề ra phương hướng, giải pháp căn cơ về phát triển quan hệ với các đối tác quan trọng, hợp tác ASEAN, tiểu vùng Mê Công, ứng xử trước các sáng kiến liên kết quốc tế...

Ngoại giao kinh tế tiếp tục được đẩy mạnh trên cơ sở quán triệt Chỉ thị 15 của Ban Bí thư, lấy địa phương, doanh nghiệp và người dân là trung tâm phục vụ. Hợp tác kinh tế, mở rộng thị trường và thu hút các nguồn vốn đầu tư có chất lượng là nội dung trọng tâm trong các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao. Bên cạnh tranh thủ các hiệp định thương mại tự do đã ký, chúng ta đã chủ động, tích cực tham gia các liên kết kinh tế mới, thúc đẩy hợp tác với nhiều đối tác tiềm năng. Kết quả là, các hoạt động ngoại giao kinh tế đã đóng góp quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xuất, nhập khẩu năm 2023 đạt hơn 680 tỷ USD, thu hút FDI đạt 36,6 tỷ USD, tăng 32,1% so với năm 2022, nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam...

Thông tin đối ngoại, ngoại giao văn hóa, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân cũng đạt nhiều kết quả quan trọng. Năm 2023, vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, có thêm hai thành phố là Đà Lạt và Hội An được công nhận là Thành phố sáng tạo của UNESCO. Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của UNESCO như Phó chủ tịch Đại hội đồng UNESCO, Phó chủ tịch Ủy ban liên Chính phủ Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, thành viên Ủy ban Di sản thế giới nhiệm kỳ 2023-2027...

Chúng ta đã kịp thời bảo hộ hàng trăm ngư dân, đưa về nước an toàn hàng nghìn công dân, nhất là từ các địa bàn có xung đột, thiên tai như Myanmar, Israel... Đồng bào ta ở nước ngoài có địa vị pháp lý được bảo đảm, ngày càng ổn định, hội nhập và phát triển, đóng góp tích cực vào phát triển ở nước sở tại và có nhiều hoạt động phong phú, góp phần vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng và phát triển ngành ngoại giao theo hướng toàn diện, hiện đại đạt nhiều tiến bộ. Tổ chức bộ máy được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, hiệu quả hơn. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống được tăng cường; phong cách, lề lối làm việc từng bước được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp; phẩm chất, năng lực và trình độ cán bộ ngoại giao được rèn luyện ngày càng trưởng thành hơn.

Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19-12-2023, công tác đối ngoại và ngoại giao từ sau Đại hội XIII đến nay, trong đó nổi bật là năm 2023, đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”. Những thành tựu to lớn đó minh chứng sinh động cho đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, gắn liền với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và những quyết sách sáng suốt, kịp thời của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; là kết tinh nỗ lực, chung sức, đồng lòng của các ngành, các cấp và cả hệ thống chính trị, trong đó có đóng góp của ngành ngoại giao.

Những kết quả to lớn đó cũng khẳng định nền đối ngoại và ngoại giao mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam", dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản sắc văn hóa và truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân văn nhưng quật cường của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa tư tưởng của thế giới, hoàn toàn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng

Trong thời gian tới, tính bất ổn và bất định của tình hình quốc tế sẽ còn tiếp diễn, có thể xuất hiện những nhân tố phức tạp hơn. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, thành tựu đối ngoại đạt được trong những năm qua, trong đó có năm 2023, cùng với bản sắc "ngoại giao cây tre Việt Nam" và truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam là những nền tảng vững chắc cho đối ngoại và ngoại giao Việt Nam vượt qua khó khăn, thử thách để đóng góp vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trên cơ sở quán triệt, tổ chức thực hiện tốt đường lối đối ngoại Đại hội XIII, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị về đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành từ đầu nhiệm kỳ đến nay và các chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32, ngành ngoại giao tiếp tục phát huy mạnh mẽ vai trò tiên phong của đối ngoại, cùng các ngành, các cấp triển khai đồng bộ, hiệu quả các hoạt động đối ngoại và ngoại giao nhằm củng cố vững chắc hơn môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, huy động tốt các nguồn lực mới từ bên ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội và tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của đất nước.

Trọng tâm là phát huy hiệu quả các khuôn khổ quan hệ vừa được nâng tầm trong năm vừa qua, triển khai tốt các thỏa thuận hợp tác đã đạt được, đồng thời tiếp tục làm sâu sắc hơn và nâng tầm quan hệ với các đối tác khác nhằm mở rộng không gian phát triển mới cho đất nước, địa phương, doanh nghiệp và người dân, cũng như khẳng định vai trò và vị thế mới của Việt Nam tại các diễn đàn, cơ chế đa phương có tầm quan trọng chiến lược.

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đối ngoại, một trong những điều cốt yếu là xây dựng nền ngoại giao Việt Nam vững mạnh, toàn diện, hiện đại. Cần tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nỗ lực xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao trung thành, tận tụy, tin cậy về phẩm chất, nhạy bén về thời thế, sâu sắc về chiến lược, sáng tạo về sách lược, tinh thông về nghiệp vụ, ngoại ngữ và chuyên nghiệp về phong cách; từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, hoàn thiện cơ chế, chính sách cho công tác đối ngoại và ngoại giao; đổi mới tư duy quản trị, phương thức, lề lối làm việc theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại...

BÙI THANH SƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

 

Đâu phải chọn bên!

Nghe tiếng chó sủa râm ran ngoài cửa, ông Đậu chân tập tễnh bước ra:- Ô, ông Nam đấy à! Mới sáng sớm, ông tìm tôi có chuyện gì thế?

Chưa kịp mở cửa, ông Nam đã nói vọng vào:

- Ông ơi, chúng ta đều biết chuyến thăm cấp Nhà nước đến Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kết thúc tốt đẹp. Bản tuyên bố chung của hai nước cũng ghi rõ như vậy. Ấy thế mà trên các trang mạng xã hội, không ít kẻ xấu, đối tượng cơ hội vẫn bình luận loạn cả lên...

 - Tôi xem thời sự và đọc báo suốt nên hiểu rõ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam rất thành công, mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho hai nước mà còn trong khu vực và thế giới. Thế nhưng, cũng chính vì thế mà các thế lực thù địch, phản động càng tức tối, cố tình xuyên tạc để chống phá. Mời ông vào làm miếng nước đã rồi ta nói chuyện, bà nhà tôi vừa pha bình nước vối ngon lắm!

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

 Cần bản lĩnh vững vàng trước thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội. Ảnh minh họa: Dangcongsan.vn

Đón chén nước từ ông bạn già, ông Nam thong thả nói:
- Tôi biết ông hay nghiên cứu, hiểu sâu hơn tôi nên mới sang hỏi ông đấy. Chẳng là, thằng út nhà tôi đọc trên mạng xã hội thấy thông tin “Việt Nam đang ngấm ngầm bắt tay với Trung Quốc, bị lệ thuộc vào Trung Quốc, rồi các nước khác sẽ quay lưng với Việt Nam", ông ạ! Đáng buồn là nó cũng có vẻ tin theo luận điệu suy diễn, xuyên tạc của bọn phản động mà tôi không biết cách để phân tích cho nó hiểu.

Nghe đến đây, ông Đậu hiểu phần nào những băn khoăn của ông Nam.

- Ông Nam này, ông cũng biết thông tin trên mạng xã hội giờ tràn lan, nhiều nội dung bị các thế lực xấu đưa lên hòng bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Mục đích của chúng là cố tình thổi phồng theo hướng kích động, chia rẽ kiểu “bắt tay bên này để chống bên kia”, từ đó lấy cớ xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Nhấp thêm ngụm nước vối, ông Đậu nói tiếp:

- Hôm trước dự ngày truyền thống hội cựu chiến binh, anh Sơn là Phó chủ tịch hội giải thích rất rõ về chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải chọn bên này, bên kia, mà là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với các nước. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả quốc gia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên định thực hiện nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chăm chú nghe ông bạn già phân tích, ông Nam gật gù:

- Ông phân tích tôi thấy đúng quá, chứ cứ đọc thông tin trên mạng rồi nghe người nọ, người kia tuyên truyền thì vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, ông ạ.

Ông Đậu vỗ vai người bạn già rồi nói tiếp:

- Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc đổi mới cũng là nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, nhiều nước mong muốn hợp tác với Việt Nam cũng chính vì vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố đấy ông ạ.

Ông Nam uống nốt chén nước rồi đứng dậy nói:

- Cảm ơn ông, tôi về nhà xem thằng út nhà tôi nó đọc thông tin ở đâu, rồi nói cho nó hiểu, không là rất nguy hiểm ông ạ.

Ông Đậu đứng dậy đưa ông Nam ra cửa và dặn:

- Ông nói và phân tích nhẹ nhàng thôi thì con nó mới hiểu nhé! 

dgcd

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân

 

Với âm mưu, thủ đoạn thâm độc hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên thế giới, từ giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc đã tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực thù địch tiến hành trên nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa; tấn công vào nhiều lực lượng, tổ chức chính trị-xã hội của các nước XHCN, trong đó, chúng xác định lực lượng vũ trang (LLVT) là một trọng điểm tấn công nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng quan trọng này.

1. LLVT có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị của mọi nhà nước, nó có tổ chức chặt chẽ, được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật và được huấn luyện, đào tạo bài bản. Nhiệm vụ của LLVT do bản chất giai cấp, đường lối, chính sách của nhà nước, của tập đoàn xã hội tổ chức ra nó quyết định. Ở Việt Nam, các văn kiện của Đảng, các đạo luật của Nhà nước (Hiến pháp, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân, Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam…) đều xác định LLVT nhân dân bao gồm Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND). LLVT nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, có tính chất cách mạng và tính nhân dân sâu sắc (từ nhân dân mà ra, do nhân dân nuôi dưỡng, vì nhân dân mà chiến đấu); là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh, trật tự, vì mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền CNXH”, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

“Phi chính trị hóa” LLVT là một loại quan điểm, học thuyết, ban đầu do các học giả tư sản nêu ra; sau đó, các thế lực thù địch và số phần tử cơ hội lợi dụng, sử dụng khai thác nó như một thứ “vũ khí” lợi hại và hiệu quả bậc nhất. Họ lập luận rằng, việc tổ chức ra LLVT là để “bảo vệ lợi ích toàn dân tộc”, “lợi ích quốc gia”, đó là lợi ích tối cao, hơn tất cả (và chi phối) lợi ích của các giai cấp, đảng phái. Do đó, các LLVT phải có nghĩa vụ bảo vệ “lợi ích tối cao”, chỉ “trung thành” với Hiến pháp, đạo luật cao nhất của đất nước, phải đứng ngoài chính trị và các cuộc xung đột chính trị (tức là đứng ngoài các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp”... Từ đó, họ phủ nhận bản chất giai cấp, chức năng chính trị-xã hội của LLVT trong xã hội. Đó là luận điệu phản khoa học, phi thực tiễn.

Phụ họa với quan điểm trên, các phần tử cơ hội chính trị lại cho rằng, QĐND và CAND cần phải thực hiện “trung lập về chính trị”, “phi đảng hóa”, tức là “đứng ngoài chính trị”, “không can dự” vào các cuộc đấu tranh của các lực lượng chính trị; là con em của nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng, “các lực lượng vũ trang mang tên Nhân dân phải luôn luôn vì Nhân dân...; Quân đội có nhiệm vụ hiến định là quốc phòng, tức là bảo vệ Tổ quốc trước ngoại xâm...” (TN 20 - TG).

Tuy không sử dụng thuật ngữ “phi chính trị hóa” các LLVT vì thuật ngữ này đã bị vạch trần bản chất phản khoa học, phi thực tiễn, nhưng việc nêu ra luận điểm “trung lập về chính trị”, “phi đảng hóa” lực lượng QĐND và CAND, họ đã bộc lộ rõ mục đích và bản chất.

Trước hết, họ lừa bịp được một số ít người mơ hồ, mất cảnh giác về chính trị, cho rằng “trung lập về chính trị”, “phi đảng hóa” là đứng ngoài các lực lượng, đảng phái chính trị, các hoạt động chính trị, không tham gia vào các cuộc đấu tranh chính trị..., như đã và đang diễn ra ở một số nước. Luận điệu này có thể đã dẫn đến một bộ phận quần chúng, đảng viên hay cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước XHCN đối với LLVT, vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của LLVT nhân dân.

Mặt khác, với sự hậu thuẫn, giúp đỡ của các thế lực thù địch bên ngoài, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (như các đài VOA, BBC, RFI...), các trang mạng xã hội, cùng với sự tung hô của những kẻ vốn có nhiều thâm thù với cách mạng, họ khuếch trương, làm rùm beng, xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước ta “huy động quân đội vào các sự vụ mang tính chất đối kháng với nhân dân”, “lạm dụng Công an nhân dân vào việc đàn áp nhân dân”, họ kêu lên rằng đã là QĐND, CAND thì phải bảo vệ nhân dân, không “chống lại nhân dân”...

Họ cố tình đánh tráo khái niệm nhân dân, đồng nhất nhân dân, những người đang ngày đêm miệt mài lao động, cống hiến cho cộng đồng và sự tiến bộ xã hội với những nhóm người có các hành vi đi ngược lại lợi ích chung, chống lại cộng đồng, coi thường pháp luật, bất chấp đạo lý, truyền thống dân tộc. Các LLVT nhân dân có nhiệm vụ đấu tranh, thậm chí phải hy sinh cả xương máu, để chống lại những hành vi sai trái đó, để pháp luật được thượng tôn, để quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân được bảo đảm; không một ai được quyền đứng ngoài, đứng trên pháp luật, xâm phạm lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Vậy, có hay không cái gọi là “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” lực lượng vũ trang? Mục đích thực sự của những người luôn hô hào, cổ vũ, yêu sách đòi “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT là gì? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, là không bao giờ có cái gọi là “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Vì rằng, khi giai cấp và nhà nước xuất hiện, thì đồng thời, chính giai cấp và nhà nước đó cũng tạo ra, nuôi dưỡng những công cụ bạo lực (LLVT nói chung) để bảo vệ lợi ích giai cấp và sự tồn tại của nhà nước. Trong cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đối kháng trong xã hội để giải quyết vấn đề quyền lực thống trị và lợi ích giai cấp, sự tồn tại của nhà nước, của các công cụ bạo lực (LLVT) là cần thiết và tất yếu. Nếu như nhà nước là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp đại diện cho nó; thì LLVT - một bộ phận gắn liền với nhà nước - cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đó. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành quả của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam; là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của giai cấp công nhân, nhân dân Việt Nam. Đó là một thực tế hiển nhiên, không thể phủ nhận. Các LLVT nhân dân có nhiệm vụ “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch…”(1). Nhiệm vụ chính trị trọng yếu đó được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao cho các lực lượng vũ trang nhân dân. Từ khi ra đời cho đến nay, các lực lượng vũ trang nhân dân luôn luôn “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(2). Vì vậy, cũng như Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các LLVT nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân.

Thực chất, hay mục đích của luận điệu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nêu ra là đòi tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT, đặt QĐND, CAND “đứng ngoài chính trị”, mất phương hướng chính trị và mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước, của chế độ XHCN, dẫn đến suy yếu về chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và bị “vô hiệu hóa”. Bởi vì họ cho rằng, nếu không làm cho LLVT suy yếu, dao động về mặt tư tưởng, mất lòng tin vào Đảng, vào chế độ... thì không thể giành thắng lợi ở Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Phía sau những từ ngữ hoa mỹ của chúng là một âm mưu chính trị: Hướng lái bản chất chính trị của các LLVT nhân dân ta sang bản chất, lập trường chính trị khác; làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đúng đắn của QĐND và CAND. Dù bề mặt ngôn từ thuật ngữ đưa ra có thay đổi như “trung lập hóa về chính trị”, “phi đảng hóa”... nhưng đó vẫn chỉ là cách diễn đạt khác đi của cái gọi là “phi chính trị hóa” LLVT. Bản chất, mục đích thật sự của họ không bao giờ thay đổi, vẫn là nhằm tước bỏ công cụ chuyên chính trọng yếu, tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Nhà nước XHCN và của nhân dân.

Để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, các thế lực thù địch, số cơ hội chính trị đã và đang sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt như: đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành của nước ta (quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội); đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta; triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng, thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những khó khăn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta để kích động, gây chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ trong QĐND, CAND vào Đảng và chế độ XHCN.

Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, kẻ thù trực diện đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng trong QĐND và CAND; chúng đã xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; kích động gây mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân với QĐND, CAND, giữa QĐND với CAND… nhằm làm phai nhạt bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của LLVT nhân dân.

Trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, truyền bá lối sống thực dụng, hưởng thụ, buông thả, thờ ơ lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị-xã hội…, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng “pha loãng”, làm nhạt dần bản chất cách mạng, tạo điều kiện cho hệ tư tưởng tư sản thẩm thấu vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong QĐND và CAND; tạo ra sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho LLVT suy yếu về chính trị từ bên trong.

Các thế lực thù địch không ngừng tiến hành các hoạt động tác động, kích động, lôi kéo số phản động trong nước, cơ hội chính trị, kêu gọi một số trí thức gây sức ép phê phán Đảng, khoét sâu những sai sót trong thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là những vụ việc có sự tham gia giải quyết của lực lượng Công an, Quân đội… nhằm hạ uy tín của Đảng ta, phủ nhận khả năng lãnh đạo của Đảng đối với QĐND, CAND. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đang chú ‎ý tìm chọn, tiến hành, tác động, hỗ trợ, cổ xúy cho một số người có vị trí, uy tín trong xã hội để xây dựng làm “ngọn cờ”, từ đó tập hợp lực lượng, tiến hành các hoạt động tác động vào quá trình hoạch định, xây dựng đường lối, chính sách, xây dựng pháp luật, nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” LLVT.

Điều này càng trở nên cực kỳ nguy hiểm trong điều kiện hiện nay, bởi vì, các thế lực thù địch đang có những “điều kiện thuận lợi” để tiến hành “diễn biến hòa bình”, thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” đối với các lực lượng vũ trang khi các yếu tố bên trong “có vấn đề”, như Đảng ta đã chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng”(3); “nhiều tổ chức đảng, đảng viên... lơ là mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”(4)“Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm, khôn lường...”(5).

2. Để đảm bảo và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với QĐND và CAND, yếu tố có tính quyết định trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch và bọn cơ hội đòi “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, thời gian tới, theo chúng tôi cần chú ý một số vấn đề sau:

Một là, đẩy mạnh nghiên cứu l‎ý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng rõ cơ sở khoa học khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT nhân dân.

Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo LLVT nhân dân. Đảng lãnh đạo QĐND và CAND tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, bắt nguồn từ những cơ sở khoa học sau:

- Thứ nhất, lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định sự ra đời, tồn tại của LLVT gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Với tư cách là một tổ chức của nhà nước, do nhà nước xây dựng, LLVT bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước; là công cụ bạo lực chủ yếu để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và của nhà nước; “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì LLVT - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”(6).

V.I.Lênin khẳng định bản chất chính trị của LLVT: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”(7). V.I.Lênin phê phán quan điểm của các chính trị gia tư sản về “phi chính trị hóa” LLVT, cho rằng đó là điều bịa đặt, hèn hạ và dối trá. V.I.Lênin đã đề ra những nguyên tắc căn bản về xây dựng LLVT kiểu mới, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định sức mạnh, sự tồn tại và phát triển của LLVT kiểu mới - LLVT của giai cấp vô sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo, bồi dưỡng ý thức chính trị và xây dựng bản chất cách mạng cho các LLVT nhân dân. Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(8); Quân đội ta là QĐND, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; quân đội ta trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân; mục tiêu chiến đấu của quân đội là “vì độc lập dân tộc, vì CNXH”; Công an “là một bộ phận của cả bộ máy Nhà nước nhân dân dân chủ chuyên chính tiến lên CNXH, Công an phải bảo vệ dân chủ nhân dân và thực hiện chuyên chính với những kẻ chống lại dân chủ nhân dân”(9)Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng LLVT về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho LLVT ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân.

- Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu, đặc điểm cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hiện nay và từ nhiệm vụ xây dựng LLVT trong thời kỳ mới.

Nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền ANND, xây dựng LLVT nhân dân trong giai đoạn hiện nay có bước phát triển mới. Tư duy về quốc phòng, an ninh đã phát triển thành tư duy mới một cách toàn diện hơn, như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(10). Đồng thời, chúng ta phải tiếp tục “xây dựng QĐND và CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại..., vững mạnh về chính trị..., tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”(11). Đó là những nhiệm vụ to lớn, quan trọng và rất nặng nề. Chỉ có giữ vững và tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVT thì mới xây dựng, giữ vững được bản chất giai cấp công nhân cho QĐND, CAND, mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kinh nghiệm cách mạng thế giới đã chỉ rõ, từ xưa đến nay, bất kỳ một giai cấp nào tổ chức, lãnh đạo nhà nước thông qua chính đảng của mình cũng tổ chức và nắm quyền lãnh đạo LLVT. Nếu đảng đó thường xuyên tăng cường lãnh đạo đối với LLVT thì các LLVT trung thành, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy của đảng cầm quyền và nhà nước. Nếu đảng nào buông lỏng sự lãnh đạo LLVT thì các LLVT biến chất và mất phương hướng chính trị, lập trường giai cấp.

Thực tiễn quân đội ở Liên Xô những năm 80 của thế kỷ XX là ví dụ điển hình. Vào thời điểm đó, quân đội Liên Xô được đánh giá là một trong những đội quân mạnh nhất thế giới, với quân số đông, trang bị, vũ khí hiện đại. Nhưng với âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” lực lượng quân đội và lực lượng an ninh, các thế lực thù địch đã làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô buông lỏng và dần mất quyền lãnh đạo các lực lượng vũ trang, làm cho các lực lượng này mất phương hướng chính trị, “cầm súng nhưng không biết bắn vào ai”. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hậu quả chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ nhanh chóng - điều mà 14 nước đế quốc can thiệp (1918-1921) và chủ nghĩa phát xít (1941-1945) không thể làm được.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua khẳng định: Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, LLVT nhân dân luôn vững vàng về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự của đất nước. Các LLVT nhân dân ta đã vượt qua những chặng đường đầy gian lao, thử thách và chiến thắng vẻ vang. Kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy, do Đảng ta luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo LLVT, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc cho các LLVT, nên LLVT của ta thực sự là của dân, do dân, vì dân, chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, của dân tộc.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng kết hợp chặt chẽ với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với LLVT nhân dân.

Bản chất đích thực của cái gọi là “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nêu ra là đòi tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng ta đối với LLVT. Do đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVT có ý nghĩa quyết định làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị.

Để thực hiện sự lãnh đạo đối với QĐND và CAND, Đảng ta đã xác định nguyên tắc “Đảng lãnh đạo QĐND, CAND tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, quyết định đến phương hướng chính trị, bản chất giai cấp công nhân, nội dung, phương thức hoạt động, mục tiêu chiến đấu của QĐND và CAND. Nguyên tắc này bảo đảm cho Đảng luôn nắm chắc lực lượng QĐND, CAND, lãnh đạo chặt chẽ trong mọi tình huống, làm cho QĐND, CAND luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, có đủ sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù. Chính vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với QĐND và CAND; kết hợp với việc đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với LLVT; kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước với tăng cường sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ đối với LLVT.

Bên cạnh đó, vấn đề cơ bản, cấp bách hiện nay là phải xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong LLVT thật sự trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu cao. Phải thường xuyên chăm lo xây dựng các tổ chức đảng trong LLVT vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Kiên quyết đấu tranh với mọi hiện tượng buông lỏng xây dựng tổ chức đảng, hoặc không gắn việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị LLVT trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đồng thời, chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ cấp ủy, chỉ huy các cấp; đấu tranh chống mọi biểu hiện hạ thấp vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, đảng bộ đối với đơn vị. Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng gắn với kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong LLVT nhân dân.

Ba là, xây dựng LLVT vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó, xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

Việc xác định xây dựng LLVT vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng, tạo nên sức mạnh chiến đấu tổng hợp cho LLVT. Trong đó, trước hết phải xây dựng LLVT vững mạnh về chính trị, làm cho LLVT luôn giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

LLVT chỉ thực sự vững mạnh về chính trị khi hệ tư tưởng của Đảng, Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng trở thành nền tảng, định hướng chính trị nhất quán trong hoạt động của mọi tổ chức, đơn vị LLVT nhân dân. Vì vậy, cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ hiểu và nhận thức đúng đắn về Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhiệm vụ của LLVT trong bối cảnh và tình hình mới… Từ đó, củng cố niềm tin vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ LLVT vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; từ đó cán bộ, đảng viên, chiến sĩ tích cực học tập, rèn luyện và phấn đấu để nâng cao trình độ về mọi mặt, xây dựng lập trường chính trị tư tưởng vững vàng, tạo khả năng “tự đề kháng”, không dao động trước những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù; chủ động đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ cuộc sống hòa bình, ổn định của nhân dân.

Bốn là, tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của âm mưu và hoạt động đòi “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT.

Hiện nay, đấu tranh trực diện với các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng - lý luận chống âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hóa” LLVT đã trở thành mặt trận nóng bỏng, gay go, quyết liệt. Nhiệm vụ cơ bản của cuộc đấu tranh này là ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT kiểu mới; vạch trần bản chất phản động của âm mưu “phi chính trị hóa”, “phi đảng hóa” LLVT, qua đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVT, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của LLVT. Như Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4, khóa XII đã xác định: “Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị...”(12).

Để tiến hành đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-lý luận, chống âm mưu "phi chính trị hóa” LLVT có hiệu quả, cần tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chú trọng và thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ chính trị trong QĐND, CAND có đủ phẩm chất và năng lực, nhạy bén, sắc sảo trong đấu tranh; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng này tích cực tham gia đấu tranh với các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng - lý luận. Công tác tư tưởng phải góp phần đắc lực trong việc xây dựng, nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ ở mọi lúc, mọi nơi, làm cho mọi người “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, sớm kết luận những vấn đề mới từ thực tiễn đấu tranh với âm mưu, hoạt động đòi “phi chính trị hóa” LLVT; đề cao sự thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, sự đồng thuận trong toàn quân và toàn dân.

Đại tá, PGS, TS ĐINH NGỌC HOA, Phó giám đốc Học viện Chính trị CAND 

 

TẠI SAO C. MÁC CHO RẰNG, CHIẾN TRANH
LÀ SỰ KẾ TỤC CHÍNH TRỊ CỦA MỘT GIAI CẤP, MỘT NHÀ NƯỚC
NHẤT ĐỊNH BẰNG THỦ ĐOẠN BẠO LỰC.

Trên cơ sở dẫn luận các luận cứ khoa học và thực thực tiễn các cuộc chiến tranh đã xảy ra của xã hội con người. Với thế giới quan duy vật và cách đánh giá biện chứng. C.Mác đã đưa ra cách nhìn của mình và khẳng định: Chiến tranh là sự kế tục chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định bằng thủ đoạn bạo lực.

C. Mác đã chứng minh, trong chế độ công xã nguyên thủy, nơi không có chế độ tư hữu, thì cũng không có giai cấp, không có người bóc lột và người bị bóc lột, không có chiến tranh. Nếu những vấn đề tranh chấp giữa các bộ lạc và chủng tộc vì nguồn nước, vì nơi săn bắn,... xuất hiện và thỉnh thoảng biến thành những sự đụng độ vũ trang, thì những sự đụng độ đó mang tính chất tạm thời, ngẫu nhiên. Sự đụng độ vũ trang giữa các bộ tộc và bộ lạc riêng lẻ xảy ra trong chế độ công xã nguyên thủy không thể gọi là chiến tranh, vì nó không bắt nguồn từ bản thân tính chất của các quan hệ xã hội và do đó không có mục đích chính trị rõ ràng.

Theo C. Mác, chiến tranh với tư cách là một hiện tượng chính trị - xã hội xuất hiện khi mà lực lượng sản xuất phát triển đến mức có khả năng tạo ra sản phẩm thặng dư. Cùng với sự phát triển của năng suất lao động, đã diễn ra sự phân công lao động xã hội. Sản xuất phát triển, làm cho sức lao động của con người có khả năng sản xuất ra số lượng sản phẩm nhiều hơn số lượng sản phẩm cần thiết cho sự duy trì sức lao động. Khả năng chiếm đoạt thành quả lao động của người khác xuất hiện và cũng xuất hiện sự bất bình đẳng về kinh tế, tạo ra khả năng người bóc lột người. Do kết quả của việc phân chia xã hội thành giai cấp mà xuất hiện nhà nước, quân đội, cảnh sát, v.v. Cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, giai cấp và nhà nước, đã xuất hiện những cuộc chiến tranh nhằm chiếm đoạt lãnh thổ, tài sản và nô dịch các dân tộc nhỏ yếu. Từ đó, C. Mác cho rằng, chiến tranh là sự kế tục chính trị của một giai cấp, một nhà nước nhất định bằng thủ đoạn bạo lực. Ông đã chỉ ra chiến tranh và chính trị có liên quan với nhau, cơ sở của mọi nền chính trị và mọi cuộc chiến tranh nằm ngay trong bản thân tính chất của chế độ chính trị - xã hội, trong hệ thống các quan hệ sản xuất và quan hệ kinh tế của con người. Đồng thời nhấn mạnh: chính trị bao giờ cũng biểu thị những quyền lợi của một giai cấp nhất định, không có và không thể có chính trị siêu giai cấp, do dó sẽ không có và không thể có các cuộc chiến tranh không mang mục đích chính trị và giai cấp. Tổng kết cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871), C. Mác kết luận: chính trị sau khi dẫn đến chiến tranh thì nó vẫn tiếp tục cả trong thời kỳ chiến tranh./.

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, lực lượng CAND "Chỉ biết còn Đảng thì còn mình"

 

ăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, lực lượng CAND "Chỉ biết còn Đảng thì còn mình"

Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đã chỉ rõ “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”.

img_9731_7ac01.jpg -0
Lực lượng An ninh chính trị nội bộ triển khai nhiệm vụ trong đợt bầu cử Đại biểu Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Thực tiễn cũng cho thấy, tăng cường công tác tư tưởng, lý luận, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định sự thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, lực lượng CAND đã gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Nghị quyết số 35 của Bộ Chính trị, triển khai quyết liệt, trên nhiều hướng các giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần quan trọng bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong đó, đã triển khai đồng bộ, toàn diện, bài bản, vừa trên diện rộng, vừa theo chiều sâu, huy động toàn lực lượng tích cực lan tỏa, phủ xanh thông tin tích cực, tạo sức mạnh to lớn lấn át thông tin xấu độc, sai sự thật, tuyên truyền xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước. Trong 5 năm qua, lực lượng Công an đăng tải, chia sẻ gần 1,6 triệu lượt tin, bài, video; trên 35.500 ấn phẩm banner, poster phản ánh khách quan, cảnh báo, phản bác tin giả, tin sai sự thật. Các cơ quan báo chí, truyền hình Công an đã đăng tải, phát sóng 110.000 tin, bài, phóng sự, phối hợp các cơ quan báo chí, truyền thông xây dựng trên 5.000 tin, bài, phóng sự phục vụ tuyên truyền, đấu tranh phản bác tin giả, tin sai sự thật, tin xấu, độc, chống Đảng, Nhà nước.

Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn chặt với công tác đấu tranh phòng chống phản động, chống phá hoại tư tưởng, bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; tập trung phát hiện, đấu tranh với những đối tượng trong nội bộ suy thoái về đạo đức lối sống, tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm kỷ luật phát ngôn, tung tin thất thiệt, lan truyền tài liệu trái phép, gây rối nội bộ, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Từ cuối năm 2018 đến nay, lực lượng Công an đã xử lý hàng nghìn trường hợp/đối tượng hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước, đưa tin giả, tin sai sự thật, nhiều đối tượng là “ngọn cờ”, giữ vai trò thủ lĩnh, nhận được sự hậu thuẫn, bảo trợ từ bên ngoài, có quá trình chống phá cực đoan, thách thức pháp luật. Yêu cầu nhà mạng gỡ bỏ hàng nghìn trang mạng có nội dung sai sự thật, xấu độc; vô hiệu hóa hàng chục nghìn tài khoản, bài viết, hàng trăm triệu lượt tán phát thông tin xấu, độc, tin giả, sai sự thật và trên 300 cổng thông tin điện tử, trang, tài khoản facebook giả mạo, lấy tên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Công an, Quốc phòng, Ngoại giao, Ban Tuyên giáo Trung ương.

Tích cực hoàn thiện pháp luật làm cơ sở bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng (tham mưu ban hành Luật An ninh mạng, Nghị định hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng, Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân). Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong đó tổ chức gần 400 hội nghị, hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, hội ý nghiệp vụ chuyên sâu; nghiên cứu trên 130 đề tài khoa học, sách chuyên khảo, giáo trình, góp phần bổ sung lý luận, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và đưa ra các chủ trương, giải pháp công tác công an bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phù hợp với bối cảnh tình hình mới. Xây dựng, phát động, tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua “Mỗi cán bộ, chiến sỹ Công an là một cây bút sắc bén bảo vệ Đảng”.

Trong cuốn sách: “1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”, Nich-xơn viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”. Trong bối cảnh các thế lực thù địch ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng ở nước ta để tiến hành các hoạt động chống phá thâm độc, xảo quyệt; lấy phá hoại tư tưởng, tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng, phản kích, phủ định nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là “khâu đột phá”, “mặt trận quyết định”…, yêu cầu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra ngày càng cấp bách.

Để tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, lực lượng CAND tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Công an nhân dân, nhất là người đứng đầu trong công tác này. Đẩy mạnh công tác phòng ngừa, xóa bỏ từ sớm mọi nguyên nhân, điều kiện mà các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động chống phá Đảng, Nhà nước. Tập trung nắm chắc tình hình, tăng cường bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, kịp thời kiến nghị cấp ủy, tổ chức đảng có biện pháp ngăn chặn, xử lý đối với những cán bộ, đảng viên không chấp hành kỷ luật phát ngôn, lan truyền thông tin sai lệch. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp hành bảo vệ bí mật Nhà nước của các cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật các vụ lộ, mất bí mật Nhà nước. Tham mưu cấp ủy, chính quyền giải quyết từ sớm, từ cơ sở những vấn đề mâu thuẫn, bức xúc trong nội bộ nhân dân, tranh chấp, khiếu kiện.

Chủ động nắm, phân tích, đánh giá tình hình; nhạy bén phát hiện từ sớm những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng dấy lên các “chiến dịch” tuyên truyền phá hoại tư tưởng để chủ động tham mưu định hướng thông tin tuyên truyền; có kế hoạch, lựa chọn vấn đề trọng tâm, trọng điểm, đấu tranh phản bác có hiệu quả luận điệu sai trái, thù địch của các hệ loại đối tượng. Đồng thời tập trung tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp có giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về các vụ việc phức tạp, góp phần định hướng dư luận, giảm thiểu hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống Đảng, Nhà nước.

Siết chặt quản lý Nhà nước về an ninh mạng, đẩy mạnh đấu tranh, phản bác trên không gian mạng, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hoạt động đưa tin giả, tin sai sự thật, tán phát thông tin xấu, độc chống Đảng, Nhà nước. Tăng cường tham mưu, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông kịp thời cung cấp thông tin, định hướng các cơ quan báo chí trong nước về các sự kiện chính trị, đối ngoại, các vụ việc nhạy cảm, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí, xuất bản, truyền hình trong lực lượng CAND, nhất là cơ quan truyền thông tại cơ sở, đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cơ quan báo chí, cơ quan quản lý báo chí CAND tham gia đấu tranh với các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch.

Tăng cường các giải pháp xây dựng lực lượng Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ. Củng cố quan hệ phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị trong CAND với các cơ quan chức năng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Mở rộng, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phản bác tại địa bàn nước ngoài và thông qua kênh đối ngoại, hợp tác quốc tế. Phát huy vai trò Người phát ngôn các cấp trong CAND định hướng thông tin đối với những vụ việc phức tạp, nhạy cảm về an ninh, trật tự dư luận xã hội quan tâm theo đúng quy định.

Tăng cường cung cấp thông tin chính thống để phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” thông qua hoạt động đối ngoại, tiếp xúc với các cơ quan đại diện ngoại giao các nước tại Việt Nam; triển khai các kế hoạch đấu tranh, vạch trần bản chất phản động, vô hiệu hóa hoạt động chống Đảng, Nhà nước của các tổ chức phản động lưu vong ngay từ bên ngoài; huy động sự tham gia của trí thức, doanh nhân, chính giới gốc Việt phản bác thông tin, quan điểm sai lệch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam.

Thượng tướng Lương Tam Quang - Ủy viên Trung ương Đảng - Thứ trưởng Bộ Công an