Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

 

VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI  QUÁ TRÌNH NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một nguyên tắc hoạt động chính trị: “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”[1]. Trình độ văn hóa chính trị của nhân dân là một thước đo về hiệu quả hoạt động chính trị của những người lãnh đạo cộng sản hết lòng vì quyền lợi của quần chúng lao động. Mặt khác, chỉ trên một nền tảng được bảo đảm về văn hóa chính trị của nhân dân lao động thì việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo mới có cơ sở thực tế để tiến hành. Hơn nữa, khi trình độ văn hóa chính trị của nhân dân lao động được nâng cao sẽ tạo ra những thách thức cần thiết đòi hỏi người cán bộ  phải có bước trưởng thành cao hơn, vì tư cách của họ là chủ thể lãnh đạo mang tính tiên phong, dẫn đường. Một quốc gia dân tộc có một nền văn hóa chính trị cao biểu hiện trước hết là trình độ văn hóa chính trị phổ quát của nhân dân lao động và chiều cao văn hóa trí tuệ của những đại biểu ưu tú xuất hiện trên cái nền tảng phổ quát ấy.

 Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động là nhằm lôi cuốn mọi công dân vào hoạt động chính trị - xã hội, phát triển ở họ tính tích cực chính trị, sự phản xạ và sự hưởng ứng nhanh chóng với những hiện tượng chính trị, những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đề ra. Theo tinh thần của Lênin thì CNXH phải phát huy được tối đa tính tích cực chính trị công dân, lúc đó “những bà nội trợ cũng tham gia vào công việc nhà nước”, mọi người sẽ quen với việc chấp hành các quy tắc cơ bản, tự nguyện lao động và cống hiến theo khả năng của mình. Sự sáng tạo lịch sử của con người ngày càng mở rộng và sâu thì cái khối quần chúng dân cư vốn là người sáng tạo ra lịch sử một cách có ý thức cũng phải tăng lên.

Nâng cao văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân sẽ khơi dậy được sự sáng tạo của các nguồn lực xã hội trong công cuộc xây dựng đất nước. Trình độ văn hóa chính trị là điều kiện đảm bảo cho người dân nắm bắt và thực hành dân chủ. Và chỉ như thế, chế độ chính trị - xã hội mới đạt được sự ổn định và bền vững, tạo ra được lợi thế so sánh phát triển. Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”[2].

Điều quan trọng là khi trình độ văn hóa chính trị được nâng cao, quần chúng nhân dân sẽ có khả năng góp phần quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ. Đồng thời cùng với sự lớn mạnh của các thể chế, người dân có thể thường xuyên gây sức ép thay đổi những người nắm vị trí lãnh đạo một khi họ không còn tỏ ra xứng đáng. Khi trình độ văn hóa chính trị được nâng cao, người dân sẽ hoàn thiện khả năng hiểu biết và sử dụng tổng thể các quy phạm pháp luật mang giá trị dân chủ để tự bảo vệ các lợi ích hợp pháp của nhà nước và công dân. Biết dùng pháp luật như một công cụ hữu hiệu để đấu tranh không khoan nhượng chống mọi hành vi phạm pháp, trực tiếp là tham nhũng, quan liêu, lộng quyền và lạm quyền trong hoạt động thực thi quyền lực chính trị.

Càng có trình độ văn hóa chính trị cao, con người càng nhận thức sâu hơn về những giá trị xã hội, về quyền và nghĩa vụ của mình cũng như khả năng độc lập đánh giá và suy lý về những tiến trình chính trị đang xảy ra. Với một trình độ văn hóa chính trị cao, những công dân bình thường có thể thường xuyên ở trong sự diễn tiến của những sự kiện quan trọng, nhanh chóng nhận biết những hành vi và tư cách của các chủ thể lãnh đạo. Điều đó như nhà Chính trị học và Luật học Pháp B.Săngtơbu viết: Nó rút ngắn khoảng cách giữa một công dân bình thường với một vị đại diện chính quyền, làm giảm đi những sự nghiêng theo một cách huyễn hoặc trước những nhà lãnh đạo hay những nhà chuyên chế, và trong nhiều trường hợp làm tăng niềm tin của mọi người vào khả năng tác động lên tiến trình của những sự kiện chính trị[3].



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.298.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.592
[3] Nguyễn Xuân Tế: Nhập môn khoa học chính trị,Nxb TP Hồ Chí Minh, 2002, tr.147.
 

 

BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ"  CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TẠI VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 Trong những năm gần đây, “Bất tuân dân sự” đã hiện diện trên thực tế tại Việt Nam. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, cả chủ quan và khách quan, “Bất tuân dân sự” đã trở thành một trào lưu nguy hiểm trong xã hội khi nó đã và đang kháng cự lại sự quản lý củạ chính quyền các cấp. Đặc biệt nguy hiểm hơn, khi “Bất tuân dân sự” đã có dấu hiệu sự can dự, hướng lái của các thế lực thù địch, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đên sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hiểu rõ về vấn đề “Bất tuân dân sự” không chỉ giúp lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, các cơ quan chức năng, cán bộ, đảng viên, mọi quân nhân, công nhân viên chức, người lao động nhận diện, phân biệt rõ ràng về bản chất các hoạt động chống đối chính quyền của “Bất tuân dân sự”, mà còn giúp xây dựng các biện pháp phòng ngừa, đối phó hiệu quả, kịp thời là vấn đề cấp thiết hiện nay. Bởi vậy, nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có phương sách đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.

Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Về bản chất, “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là những hoạt động nhằm vô hiệu hóa một hoặc nhiều quyết sách của chính quyền bằng “sức mạnh hòa bình” của quần chúng; vô hiệu hoặc làm giảm khả năng sử dụng công cụ bạo lực của chính quyền; thường được bắt đầu một cách “tự phát”, “vô hại”, nhỏ lẻ, nhưng sau đó lây lan và được tổ chức khá chặt chẽ. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hệ quả của quá trình tác động, thẩm thấu, “chuyển hóa” lâu dài. Trong đó, các thế lực thù địch đã thẩm thấu các giá trị, tư tưởng trái ngược khiến cho quần chúng nhân dân “nhờn luật”, hình thành tư tưởng “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc xung đột về lợi ích và sự nhũng nhiễu của một bộ phận tha hóa trong bộ máy công quyền.

Thông qua việc từ chối tuân theo hay cản trở việc thực thi pháp luật, gây áp lực đối với nhà nước, các đối tượng thực hiện “Bất tuân dân sự” nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG: TUYỆT ĐỐI HÓA VAI TRÒ CỦA VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO, NGHI NGỜ ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA!

     Phê phán quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao, nghi ngờ đường lối quốc phòng toàn dân của Đảng, Nhà nước ta.
Gần đây, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, một số người đã nêu quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh và đồng thời coi nhẹ vai trò của con người.
Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng, chỉ có các lực lượng trang bị vũ khí công nghệ cao mới có thể chiến thắng trong chiến tranh hiện đại, dẫn tới sự phủ nhận các giá trị của quốc phòng và an ninh truyền thống, bao gồm cả nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Sự thật là, việc sử dụng vũ khí công nghệ cao để chống lại kẻ thù là điều cần thiết, nhưng bất kể công nghệ vũ khí tiên tiến đến đâu thì yếu tố con người vẫn là chìa khóa quyết định.

Hơn nữa, không phải lúc nào các quốc gia cũng có thể sở hữu vũ khí tương đương nhau; nhiều quốc gia vẫn phải chiến đấu với trang bị kém hơn, thậm chí là rất kém để đối mặt với đối thủ có trang bị công nghệ cao. Do đó, cần thiết phải xây dựng đường lối quốc phòng và an ninh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.

Vũ khí công nghệ cao - bước nhảy vọt của trí tuệ con người

Đối với Việt Nam, có thể khẳng định rằng, hiện tại và trong tương lai, nếu tình huống buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta vẫn sẽ phải chiến đấu với vũ khí và trang bị có trình độ thấp hơn đối thủ rất nhiều. Vì vậy, việc xây dựng đường lối quốc phòng và an ninh một cách hợp lý ngay từ thời bình là cần thiết để có thể khai thác triệt để những điểm yếu và giới hạn những điểm mạnh của kẻ địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Chúng ta cần kế thừa và phát huy các giá trị của quốc phòng và an ninh truyền thống, tận dụng những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế để chiến thắng kẻ địch trang bị công nghệ cao. Chỉ có đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, lấy đó làm cơ sở để tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi trong điều kiện chiến tranh sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao mới là phương hướng phù hợp. Đây cần là một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được đổi mới và phát triển phù hợp với các điều kiện tác chiến mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Do đó, nếu có ý kiến cho rằng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong điều kiện tác chiến hiện đại là sai lầm, thì thực sự những người nêu ra quan điểm này mới là những người mắc sai lầm. Bởi lẽ, việc xây dựng một nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh vẫn là đường lối quân sự phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay.

Vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo dựa trên những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Những loại vũ khí này, bao gồm vũ khí hủy diệt lớn, vũ khí năng lượng định hướng, vũ khí chùm tia, laze, chùm hạt, điện từ và vũ khí mềm, đều có nguồn gốc từ vũ khí thông thường nhưng đã được tích hợp các thành tựu mới nhất trong các lĩnh vực như vi điện tử, vi xử lý, tin học, vật liệu mới, laze, hồng ngoại, năng lượng mới, sinh học và tự động hóa.

Các vũ khí này nổi bật với độ chính xác cao, uy lực lớn, khả năng hoạt động ở tầm xa và có thể thích nghi với các điều kiện phức tạp, đạt hiệu quả cao gấp nhiều lần so với vũ khí thông thường. Đặc biệt, một số loại vũ khí công nghệ cao còn được gọi là vũ khí thông minh, có khả năng nhận biết địa hình, ghi nhớ tọa độ và tự động tìm kiếm, lựa chọn và tiêu diệt mục tiêu. Xuất hiện từ Chiến tranh thế giới thứ hai và phát triển mạnh trong những thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các loại vũ khí này đã được sử dụng trong nhiều cuộc chiến tranh như ở Việt Nam, vùng Vịnh, Nam Tư và Afghanistan. Giới chuyên gia quân sự đánh giá vũ khí công nghệ cao sẽ là loại vũ khí chủ yếu trong các cuộc chiến tương lai.

Sự ra đời và phát triển của vũ khí công nghệ cao đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong tiến bộ của ngành vũ khí, làm thay đổi căn bản nhiều quan điểm về chiến tranh, tác động sâu rộng đến nghệ thuật quân sự và bản chất của chiến tranh hiện đại. Sự xuất hiện của vũ khí này đã dẫn đến nhiều vấn đề lý luận mới trong chiến tranh như chiến lược tác chiến chiều sâu, chiến tranh bằng tiến công hỏa lực, chiến tranh phi trực tiếp tiếp xúc và phi đối xứng, làm mờ đi ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương, và không gian chiến tranh không còn nơi nào là hoàn toàn an toàn.

Tuy nhiên, vũ khí công nghệ cao không phải không có điểm yếu. Chúng vẫn hoạt động theo quy luật nhất định, chịu ảnh hưởng bởi địa hình và thời tiết và một số loại còn có tốc độ bay thấp.

Với các giải pháp hợp lý, kể cả những giải pháp thô sơ, truyền thống, vẫn có thể hạn chế hiệu quả của chúng. Trên chiến trường rộng lớn, không thể dùng vũ khí công nghệ cao để tấn công mọi mục tiêu, mọi địa điểm. Đối với Việt Nam, việc chỉ phá hoại một số điểm trọng yếu chưa đủ để đánh mất đất nước, và nếu kẻ địch chỉ sử dụng vũ khí công nghệ cao thì chưa đủ sức khuất phục Việt Nam. Nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đó lại là cơ hội để chúng ta tiêu diệt họ. Để làm được điều này, không có con đường nào khác ngoài việc tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, dựa trên nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc từ thời bình.

Vì sao phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở nước ta

Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, với sức mạnh tổng hợp cao và khả năng đề kháng mạnh mẽ, được xem là phương án hiệu quả nhất để ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ xung đột và chiến tranh, kể cả trong bối cảnh chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao. Chiến tranh, dù là sử dụng vũ khí thông thường hay công nghệ cao, đều gây ra thiệt hại nặng nề về kinh tế, chính trị và nhân mạng, ảnh hưởng đến ổn định và hòa bình thế giới. Do đó, mục tiêu ưu tiên là duy trì ổn định và hòa bình cho đất nước mà không cần tiến hành chiến tranh, hay nói cách khác là "đánh thắng chiến tranh ngay khi nó chưa xảy ra". Theo Tôn Tử, hành động không đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục là cách sáng suốt nhất.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng cơ bản, bao trùm nhất của tổ tiên ta là "Giữ nước từ khi nước chưa nguy". Trong thời đại Hồ Chí Minh, qua gần 40 năm đổi mới, Đảng ta đã phát triển tư duy từ quân sự sang quốc phòng, từ chiến tranh sang giữ nước mà không cần chiến tranh, và đã chỉ rõ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa.

Để hiện thực hóa tư tưởng và quan điểm này, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc, phát triển cao trong các điều kiện mới. Đây là nền quốc phòng của dân, do dân và vì dân, mang tính chất hòa bình, tự vệ, được xây dựng toàn diện cả về tiềm lực và lực lượng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Nhà nước và sự làm chủ của nhân dân.

Nền quốc phòng này không chỉ hiện đại hóa mà còn phát huy tối đa các giá trị truyền thống và cốt cách văn hóa Việt Nam, kết hợp sức mạnh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nền an ninh nhân dân giúp giữ cho đất nước ổn định và phát triển, kịp thời phát hiện và triệt tiêu các nguy cơ từ bên trong có thể gây đột biến. Nền quốc phòng này cũng đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hành động phá hoại của thế lực thù địch nước ngoài, giải quyết các tranh chấp và bất đồng bằng các giải pháp hòa bình dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế.

Như vậy, có thể khẳng định: Chỉ có xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình mới tạo điều kiện để ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ chiến tranh, kể cả chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao. Đây là lựa chọn tối ưu nhất đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân chính là cơ sở chủ yếu để tiến hành và chiến thắng trong chiến tranh nhân dân, ngay cả khi đối mặt với chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Có thể khẳng định, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, Việt Nam sẽ theo đường lối chiến tranh nhân dân - một cuộc chiến toàn diện, dựa trên sức mạnh của toàn bộ đất nước. Mọi người dân đều là chiến sĩ, sử dụng mọi loại vũ khí từ đơn giản, thô sơ đến hiện đại. Các hình thức tác chiến linh hoạt như du kích, chính quy, đánh bên sườn, phía sau, đánh sâu, đánh hiểm... đều phát huy tối đa hiệu quả, có thể chế ngự được ưu thế của vũ khí công nghệ cao. Điều này chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được xây dựng vững chắc và không ngừng hiện đại hóa từ thời bình.

Vũ khí công nghệ cao tuy có tính chính xác cao, nhưng chúng hoạt động theo những quy luật nhất định, dựa trên nhận dạng địa hình và mục tiêu. Nhờ chiến tranh nhân dân, chúng ta có thể làm thay đổi quy luật, biến dạng địa hình, dịch chuyển mục tiêu, và thậm chí tạo ra mục tiêu giả. Hệ thống phòng không nhân dân rộng khắp sẽ hạn chế được hiệu quả của vũ khí công nghệ cao, tiêu diệt được các loại máy bay và tên lửa hành trình của địch. Trong trường hợp địch sử dụng tác chiến điện tử mạnh, ta vẫn có khả năng chế áp được hiệu quả trinh sát của chúng; và nếu chỉ huy, hiệp đồng của chúng bị gián đoạn, ta vẫn có thể tiếp tục chiến đấu hiệu quả.

Vũ khí công nghệ cao có uy lực mạnh, nhưng kẻ địch không thể có đủ số lượng để tấn công và phá hủy tất cả mục tiêu trên khắp đất nước Việt Nam. Với nền quốc phòng hiện đại, chúng ta có thể tiêu diệt được bộ phận lực lượng, phương tiện công nghệ cao của địch, như đã từng bắn rơi máy bay B.52 của Mỹ vào năm 1972. Nhưng quan trọng hơn, nhờ vào thế trận chiến tranh nhân dân, chúng ta có điều kiện để bảo toàn lực lượng, tồn tại sau các đòn tiến công hỏa lực mạnh bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Trong chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tồn tại sau các đòn tiến công cũng là thắng lợi, bởi nếu Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội vẫn còn, Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu để giành chiến thắng. Và nếu kẻ địch chỉ tiến công bằng vũ khí công nghệ cao mà không có hành động trên bộ, thì cũng chưa thể khuất phục được Việt Nam; trong khi đó, nếu kẻ địch tiến công trên bộ, đây chính là lúc chiến tranh nhân dân phát huy hiệu quả cao nhất.

Với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam, nếu buộc phải tiến hành chiến tranh, đường lối duy nhất đúng đắn chính là tiến hành chiến tranh nhân dân. Một cuộc chiến tranh nhân dân đúng nghĩa không thể bị đánh bại, kể cả khi đối phương sử dụng vũ khí công nghệ cao. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc chiến đó, cần có sự xây dựng một nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc ngay từ thời bình. Vì thế, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vẫn là đường lối xây dựng quốc phòng, an ninh đúng đắn trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Giải pháp công tác tư tưởng hiện nay

Để giải quyết các vấn đề hiện tại liên quan đến nhận thức về vũ khí công nghệ cao và xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, có một số biện pháp cần được thực hiện một cách hệ thống và quyết liệt. Đầu tiên, việc tuyên truyền và giải thích rõ về vũ khí công nghệ cao cùng với cách phòng chống chúng cho lực lượng vũ trang và nhân dân là hết sức cần thiết. Các chương trình đào tạo, hội thảo nên được tổ chức thường xuyên để trang bị kiến thức cập nhật và chính xác, giúp mọi người hiểu rõ hơn về những mối đe dọa và cách đối phó hiệu quả. Ngoài ra, cần sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để truyền đạt các thông điệp này một cách rộng rãi, đồng bộ và thuyết phục.

Tiếp theo, việc giáo dục nhận thức đúng về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là không kém phần quan trọng. Cần phổ biến rộng rãi về các thành tựu và hiệu quả của nền quốc phòng toàn dân trong việc hạn chế hiệu quả của vũ khí công nghệ cao. Bằng cách xây dựng niềm tin vào khả năng này, chúng ta có thể củng cố ý chí và quyết tâm chiến đấu của lực lượng vũ trang cũng như toàn thể nhân dân. Việc tích hợp các chương trình giáo dục quốc phòng vào hệ thống giáo dục quốc gia cũng sẽ góp phần nâng cao nhận thức từ sớm cho các thế hệ tương lai.

Cuối cùng, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các lý luận mới về quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong bối cảnh hiện nay là điều cấp bách. Cần khuyến khích và hỗ trợ các nhà nghiên cứu phát triển các giải pháp mới để đối phó với vũ khí công nghệ cao, đồng thời nghiên cứu các phương pháp tác chiến mới phù hợp với điều kiện chiến đấu hiện đại. Việc đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu khoa học quân sự không chỉ giúp phát triển các biện pháp phòng thủ hiệu quả mà còn góp phần vào việc hiện đại hóa nền quốc phòng, bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi trong mọi tình huống chiến đấu có thể xảy ra. Đầu tư, cải tiến, hiện đại hóa, sản xuất và mua sẵn một số vũ khí hiện đại, nhất là vũ khí chiến lược có tầm bắn xa, uy lực lớn, có khả năng răn đe có hiệu quả ngay từ thời bình, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Trong bối cảnh hiện nay, đầu tư vào việc cải tiến, hiện đại hóa, sản xuất và mua sẵn các loại vũ khí hiện đại, đặc biệt là vũ khí chiến lược có tầm bắn xa và uy lực lớn, là hết sức cần thiết. Đây là bước đi quan trọng không chỉ để tăng cường khả năng răn đe hiệu quả trong thời bình mà còn phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Việc này không chỉ là sự cần thiết mà còn thể hiện sự linh hoạt trong chính sách quốc phòng, phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới mà không bị bảo thủ hay lạc hậu.

Tuy nhiên, sự thật về đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân vẫn chưa hề lạc hậu. Đây vẫn là đường lối duy nhất đúng cho tình hình, điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, kể cả khi xảy ra chiến tranh sử dụng phổ biến vũ khí công nghệ cao. Nếu từ bỏ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, chúng ta sẽ buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào vũ khí công nghệ cao, điều này trái với truyền thống, không phát huy được sức mạnh tổng hợp, đặc biệt là sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, Việt Nam không thể trang bị hệ thống vũ khí công nghệ cao như của các cường quốc khác, đặc biệt là trong bối cảnh có thể phải tiến hành chiến tranh. Vì vậy, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khẳng định rằng chúng ta cần có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn để bác bỏ quan điểm cho rằng đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong điều kiện tác chiến bằng vũ khí công nghệ cao là sai lầm. Chính sách này không chỉ phản ánh khả năng tự lực và khôn khéo trong chiến lược quốc phòng mà còn là biểu hiện của ý chí và quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia./.


Yêu nước ST.

BỘ ĐỘI CỤ HỒ, CƠ ĐỒ TƯƠI ĐẸP, CHẤT THÉP KIÊN TRUNG!

         Vào dịp Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta chào mừng kỷ niệm 49 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30-4 và 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024), các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị càng điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta!
Cũng như trước đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và tiếp tục sử dụng “trăm mưu, ngàn kế” kể cả những biện pháp hèn hèn nhất, “phi nhân tính” nhất để chống phá Quân đội ta, đòi hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là một trong những chiêu trò hèn mọn, dọn đường cho việc thực hiện “cách mạng màu” và “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta. Vì sao các thế lực thù địch lại tăng cường các hoạt động chống Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân ta vào dịp chiến thắng 30-4 và chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7-5 hằng năm?  
Bởi vì, chiến thắng của quân và dân ta là nỗi đau và sự ô nhục của kẻ thù, làm cho chúng càng thêm run sợ phẩm chất, uy tín, vị thế của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hơn ai hết, các thế lực thù địch hiểu rõ sức mạnh bách chiến, bách thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam; giá trị, ý nghĩa và sự lan tỏa của danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”. Hơn thế, “Bộ đội Cụ Hồ” là tên gọi bình dị, gần gũi, thân thương nhưng vô cùng cao quý, được nhân dân ta khen tặng cán bộ, chiến sĩ, phản ánh đầy đủ, sâu sắc và tập trung nhất những phẩm chất tốt đẹp của Quân đội ta. Danh xưng ấy đã trở thành sức mạnh và biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân luôn trân trọng, giữ gìn danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” như giữ gìn điều thiêng liêng nhất với danh dự, trách nhiệm, tình yêu và lương tâm của mình - sự tôn kính đối với Bác Hồ kính yêu. Nhờ đó, đã làm nên những chiến công hiển hách, những chiến thắng vẻ vang. Chính những điều đó làm cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sôi lên “như đỉa phải vôi”, không thể chấp nhận sự thật ấy; cho nên đã cố tình tìm mọi biện pháp chống phá Quân đội ta.
Rõ ràng là, xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trước đây cũng như hiện nay. Lúc này, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa hết sức quan trọng, là nhiệm vụ cấp bách trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; góp phần gìn giữ anh hiệu cao quý, thiêng liêng, một báu vật vô cùng quý giá mà Nhân dân dành riêng khen tặng Quân đội ta - Đây là những giá trị “có một không hai” vì trên thế giới không quân đội nào có được niềm vinh dự, tự hào như Quân đội ta.
Phủ nhận tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - một cấu phần đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, các thế lực thù địch đang thực hiện chiêu trò: Hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh, bôi đen hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, làm cho hình tượng về Người mất đi tính chất thiêng liêng, sự trân trọng, giá trị kiểu mẫu. Từ đó, làm mất đi tình cảm, niềm tin; sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân ta đối với Bác Hồ. Qua đó, làm mất vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội ta.  
Đó là cái đích cuối cùng các thế lực thù địch hướng đến để thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội, gạt bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ra khỏi Quân đội; biến Quân đội ta thành những người lính nhà nghề, “đánh thuê”, không còn những nhiệm vụ từ mệnh lệnh trái tim; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cần nhận diện đầy đủ, sâu sắc sự phản động ấy để có biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả.
Chúng ta cần ý thức sâu sắc rằng, phẩm chất, hình ảnh, hình tượng “Bộ đội Cụ Hồ” có vị trí đặc biệt quan trọng trong lòng nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Bác Hồ là niềm tin, biểu tượng của lẽ phải, của chân lý, dẫn dắt dân tộc Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Bác Hồ là người sáng lập Đảng ta và Quân đội ta, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Tư tưởng của Người là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong tâm thức và trái tim của mỗi người Việt Nam yêu nước và bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình, Bác Hồ là người Việt Nam đẹp nhất, là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ cộng sản; còn văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, còn mãi phẩm chất nhân cách người quân nhân cách mạng vì nước, vì dân.
Xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” là âm mưu, thủ đoạn không mới nhưng tính chất lại rất nguy hiểm. Đây là sự “biến dạng” của âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, một chiêu trò thực hiện “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội được che đậy kín đáo và hết sức tinh vi. Vì vậy, nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vừa là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách hiện nay, vừa là tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống.
Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi đen phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, chúng ta cần thực hiện tốt những nội dung sau đây: 1) Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; 2) Tiếp tục giữ gìn, vun đắp, xây dựng và lan tỏa hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; 3) Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện tốt Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; 4). Tuyệt đối không cho phép, không chấp nhận bất kỳ một cá nhân, tổ chức và thế lực nào cố tình vu khống, bôi nhọ giá trị phẩm chất, nhân cách “Bộ đội Cụ Hồ”; 5). Thường xuyên nêu cao cảnh giác, phát huy vai trò mọi tổ chức, cá nhân trong đấu tranh, ngăn chặn những hành vi bôi nhọ, vu khống làm tổn hại đến giá trị thiêng liêng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” cao quý.
Khẳng định “Bộ đội Cụ Hồ”, một cơ đồ tươi đẹp, một chất thép kiên trung đã, đang và mãi mãi là một giá trị tốt đẹp của văn hóa quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, chúng ta cần gìn giữ và lan tỏa những giá trị cao quý ấy./.
Yêu nước ST.

GHI NHẬN HAY KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ?

         Đối tượng Phạm Đoan Trang đang thụ án 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ấy vậy mà mới đây, tổ chức Văn Bút Mỹ (PEN America) đã công bố “sẽ trao giải thưởng Tự do Sáng tác Barbey năm nay cho tác giả - blogger - nhà báo tự do Phạm Đoan Trang, ghi nhận những đóng góp quý báu của bà trong lĩnh vực sáng tác và tự do biểu đạt”!
Trao giải thưởng cho đối tượng đang thụ án, thật nực cười. Đằng sau “trò hề trên sân khấu chính trị hải ngoại” này là gì? Để hiểu rõ chúng ta cùng điểm qua “bản thành tích” bất hảo của Phạm Đoan Trang thì sẽ rõ.
Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16-11-2017 đến ngày 5-12-2018, bị cáo Phạm Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân.
Cụ thể, bị cáo Phạm Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam"…
Viện Kiểm sát nhân dân xác định các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền "luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".
Hội đồng xét xử xác định, hành vi của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân Phạm Đoan Trang là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Với những hành vi phạm tội như đã nêu, bản án 9 năm tù giam dành cho Phạm Đoan Trang là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, hành vi phạm tội của Phạm Đoan Trang là rất rõ ràng. Việc các cơ quan chức năng của Việt Nam khởi tố, bắt giữ, xét xử Phạm Đoan Trang là thể hiện sự tôn nghiêm, công bằng của pháp luật Việt Nam. Việc tổ chức PEN America trao giải thưởng “Tự do Sáng tác Barbey” cho Phạm Đoan Trang - đối tượng có hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam là một hành động bất chấp tất cả những tiêu chuẩn và quy định của pháp luật quốc tế. Đã có thời gian là nhà báo, lẽ ra Phạm Đoan Trang phải hoạt động, tác nghiệp theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí. Nhưng không, Phạm Đoan Trang đã lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Nhà nước. Điều đó cho thấy, Phạm Đoan Trang không xứng đáng với tư cách, phẩm chất của một nhà báo. Việc tổ chức PEN America trao giải thưởng cho Phạm Đoan Trang nhằm “ghi nhận những đóng góp quý báu của bà trong lĩnh vực sáng tác và tự do biểu đạt” là sự lố bịch, là một ý đồ chính trị nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việc tổ chức PEN America lên tiếng bênh vực, tung hô, tô vẽ, trao thưởng cho Phạm Đoan Trang thực chất vẫn là hành vi cơ hội, đánh tráo khái niệm tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam bằng khái niệm “tù nhân lương tâm” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động các đối tượng gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam như một số cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước đã sử dụng thời gian qua. Hành động của PEN America là không thể chấp nhận được./.
Yêu nước ST.

KHÔNG MẮC MƯU CỦA ĐỊCH, KHÍ PHÁCH CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG!

1. Trong bối cảnh quốc tế đặc biệt phức tạp hiện nay, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhân dân ta vẫn nhất quán khẳng định lập trường, quan điểm, mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, của đồng chí Tổng Bí thư; phản ánh tính đúng đắn, sáng tạo và sự nhất quán về đường lối đổi mới, đi lên CNXH mà Đảng ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII. Đồng thời, khẳng định rõ tình đoàn kết, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đảng ta đã xác định để xây dựng quốc gia Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thế nhưng, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tổ chức một số hội nghị bất thường để giải quyết các công việc phát sinh nhằm sớm ổn định tình hình, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới; ban hành các quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội; một số người lại nghĩ sai trái về điều ấy, cố tình đồn thổi, đẩy tình hình đi sang hướng khác, gây bất lợi cho Đảng. Họ xuyên tạc rằng, “Việt Nam đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng”, “chính trị rối ren”, “con đường đi lên CNXH chỉ còn lại lời nói”, “Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu”, “không thể thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vì nội bộ Đảng đang đấu đá nhau”... Hơn thế, một số người còn cho rằng, “Việt Nam đã “quay xe”, quyết định đi theo Mỹ và phương Tây”, “đã lựa chọn con đường TBCN”, “sắp gia nhập EU và khối NATO để khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế” và các nguy cơ khác.

Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không”, bởi “Việt Nam đã chọn phe”, “đi theo Mỹ và phương Tây”. Nhiều người còn cho rằng, quyết sách của Việt Nam là hợp lý vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đích thân mời Tổng Mỹ J. Biden đến thăm Việt Nam vào nửa đầu tháng 9 năm 2023. Do đó, “Việt Nam đã quên quá khứ”; “chỉ hướng đến tương lai”, không còn coi Mỹ là “kẻ thù truyền kiếp”.

2. Những câu chuyện nêu trên thật khôi hài và nực cười, là sự bịa đặt xảo trá, mang tính chủ quan, chỉ là ý kiến của một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Nó chỉ dựa vào một vài sự kiện cụ thể có thật để đồn thổi, khuếch đại, biến “con muỗi thành con voi”, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán ngán về CNXH do Đảng ta lãnh đạo. 
Điều nguy hiểm nhất là nó xuất hiện trước ngày Đảng ta tổ chức Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để bàn nhiều vấn đề quan trọng về bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, chuẩn bị các Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây là những quan điểm sai trái nhằm chỉ trích, xuyên tạc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta một cách cực đoan về CNXH, phủ nhận hệ giá trị tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 
Qua đó, tạo ra dư luận xấu về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, làm nhụt ý chí phấn đấu của quân và dân ta. Sự thâm thù, nguy hiểm của các luận điểm sai trái nêu trên là nó được tán phát vào trước và sau lúc Đảng, Nhà nước ta tổ chức các hội nghị thường niên để bàn luận và ban hành quyết sách mới nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm 2024 - năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

3. Lấy cớ và thổi phồng một số hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang chĩa “nòng súng” vào việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của của Đảng và nhân dân ta. Cùng với đó, họ lợi dụng sự kiện có thật là Tổng thống J. Biden đến thăm Việt Nam cũng như nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước để đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta.

Phải nói cho rõ rằng, ở Việt Nam không bao giờ có chuyện “quay xe”, “đổi hướng”, “đổi màu”; các thế lực thù địch đừng hòng lợi dụng sự kiện nêu trên để phá hoại niềm tin của nhân dân ta vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Rõ ràng, việc phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sự thất bại cay đắng của các thế lực thù địch và bọn theo đuôi kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã nhận diện rõ bộ mặt thật của các thế lực phản động. Đằng sau chiêu trò “ném đá giấu tay” là mưu đồ đen tối: chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, bóp méo tính ưu việt của CNXH ở Việt Nam; cản trở nhân dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; lái nước ta đi theo con đường TBCN có lợi cho kẻ xấu.

Cần nói cho rõ rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ có tính lịch sử và nguyên tắc của nó; có lợi cho hai nước, hai dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta đã đổ máu, hy sinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược để bảo vệ vững chăc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nên mới có được thành quả cách mạng ngày nay. Những việc làm của Đảng ta đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân.

4. Ai đó cho rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ… là Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu, đi theo con đường TBCN là vô căn cứ, hoàn toàn không đúng. Đó là mưu toan bóp méo sự thật đầy tính vu khống, cáo buộc cần phải loại bỏ.
Những người tuyên bố “giã từ CNXH” để đi theo CNTB, đi theo con đường của “các nước lớn”, “các nước phát triển” ở phương Tây đã trải qua với hy vọng Việt Nam mau chóng trở thành “con hổ, con rồng châu Á” chỉ là ý muốn chủ quan của họ; nó hoàn toàn sai lầm, xa lạ với Việt Nam. Đối với nhân dân ta, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Ai đó cố tình kiếm cớ, viện dẫn chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ cùng với việc hai nước nâng cấp từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện để xuyên tạc bản chất của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đương nhiên, họ đã đi ngược lại lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Nhận thức rõ bối cảnh hiện thời là rất phức tạp, nhưng trước sau như một, Đảng, Nhà nước ta, Quân đội ta đã và đang làm mọi cách với nhiều biện pháp khả thi, tốt nhất, chắc chắn nhất để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiến lên. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân Việt Nam không bao tin vào sự đồn nhảm, sự xuyên tạc, bôi đen sự thật của các thế lực thù địch và đương nhiên không giờ tha thứ cho “những kẻ chọc gậy bánh xe”, chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH, phát triển đất nước vì hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta.

Tán phát quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật là vi phạm Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam, kẻ xấu nhất định sẽ bị trừng trị đích đáng. Vượt lên trên hết thảy mọi khó khăn, phức tạp, quyền tối cao quyết định vận mệnh quốc gia, sự thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước ta./.
Yêu nước ST.

BÀ PATRICIA GOSSMAN ĐỪNG PHÁT BIỂU HỒ ĐỒ, VÔ CĂN CỨ!

     Tòa án Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Dương Tuấn Ngọc (sinh 1985, thường trú huyện Đức Hòa (Long An), tạm trú tại xã Nam Hà, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng) 7 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”!
Sẽ chẳng có gì phải bàn thêm nếu như không có chuyện trên VOA Tiếng Việt và một vài trang mạng ở hải ngoại, bà Patricia Gossman, Phó Giám đốc và Biên tập viên cao cấp, Ban Á châu của cái gọi là tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) phát biểu rằng: “Đây lại là một trường hợp nữa về việc chính phủ Việt Nam trừng phạt một người chỉ trích chính phủ mà ông ấy không hề làm gì hơn ngoài việc thực thi quyền tự do ngôn luận cơ bản của mình”. Giọng điệu trên là hết sức sai trái, xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do biểu đạt là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó, quyền tự do ngôn luận trên báo chí được Luật Báo chí năm 2016 quy định, công dân có quyền: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác... Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền…
Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam không phải là vô hạn độ mà phải trong khuôn khổ của pháp luật. Điều 9 Luật Báo chí quy định các nhóm hành vi bị Luật Báo chí nghiêm cấm gồm: 
- Đăng, phát thông tin chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nội dung: Xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; gây chiến tranh tâm lý. 
- Đăng, phát thông tin có nội dung: Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; xúc phạm niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
- Đăng, phát thông tin có nội dung kích động chiến tranh nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc. 
- Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật. 
- Thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng. 
- Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. 
- Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án. 
- Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em. 
- In, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính. 
- Cản trở việc in, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí hợp pháp tới công chúng. 
- Đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo, phóng viên hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật…
Đối chiếu với các quy định hiện hành của pháp luật thì Dương Tuấn Ngọc đã vi phạm rất nghiêm trọng. Cụ thể theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, từ năm 2012 đến tháng 7-2023, Dương Tuấn Ngọc đã tạo ra 106 bài viết, 37 video clip, biên soạn lời cho 14 bài hát dựa trên nền nhạc các ca khúc nổi tiếng, làm 49 tờ tài liệu, tải về, cất giữ 2 tập tài liệu khác có nội dung sai sự thật, bóp méo tình hình thực tế, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nội dung các tài liệu do Dương Tuấn Ngọc làm ra còn đả kích các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội; xuyên tạc lịch sử; nói xấu, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh hoặc bôi nhọ lãnh đạo cấp cao của Đảng; tung tin không đúng sự thật. Những tài liệu này thường xuyên được Dương Tuấn Ngọc đăng tải, phát tán trên 3 tài khoản Facebook và 3 kênh Youtube do đối tượng quản lý, sử dụng để chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hành vi của Dương Tuấn Ngọc có tính chất, mức độ rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh quốc gia, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trước Hội đồng xét xử Dương Tuấn Ngọc đã thừa nhận mọi hành vi vi phạm pháp luật của mình, đồng thời bày tỏ sự ăn năn, hối cải và mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Sự thật về những sai phạm của Dương Tuấn Ngọc rất rõ ràng. Ấy vậy mà bà Patricia Gossman lại cho rằng đó chỉ là “thực thi quyền tự do ngôn luận cơ bản”. Phát biểu của bà Patricia Gossman là hồ đồ, vô căn cứ, bóp méo, xuyên tạc sự thật về quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam. Thực chất giọng điệu của bà Patricia Gossman không gì khác là xuyên tạc sự thật, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, đi kèm với đó là bênh vực Dương Tuấn Ngọc nhằm kích động các đối tượng trong và ngoài nước tiếp tục lợi dụng quyền tự do ngôn luận tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam. Thế nhưng dù bằng giọng điệu, chiêu trò gì đi chăng nữa bà Patricia Gossman và một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam cũng không thể làm gì được. Hình ảnh một đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, dân chủ, phát triển và là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã bác bỏ hoàn toàn mọi luận điệu, chiêu trò sai trái đó./.
Yêu nước ST.

HỌC TẬP “CÁCH VIẾT” CỦA BÁC HỒ!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Người sáng lập, lãnh đạo Đảng ta, để lại di sản to lớn về tư tưởng, lý luận, mà Người còn có những bài nói, bài viết, bài giảng răn dạy, chỉ bảo cụ thể cho mỗi cán bộ, đảng viên học tập và làm theo. Kỷ niệm 70 năm (17/8/1953 - 17/8/2023) Bác Hồ nói về “Cách viết” tại Lớp Chỉnh Đảng Trung ương, mỗi chúng ta đã, đang và đều sẽ học tập, rèn luyện cách viết để hoàn thiện nhân cách của chính mình, bởi lẽ văn là người!

Trong bài Cách viết, Bác nêu rõ người viết phải đặt mục đích rõ ràng là viết để làm gì ? Bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang ở giai đoạn cuối, thời gian đọc rất ít, giấy mực phải tiết kiệm, mục đích viết là cho đại đa số công, nông, binh để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Do đó, Người chỉ rõ: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ viết phải khách quan, trung thực, tránh bịa đặt, viết “để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu…Nêu cái hay, cái tốt phải có chừng mực, chớ phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy".

Về cách viết thế nào, Người cho rằng cần phải tránh “lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”.

Khi viết phải “gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi, mà phải có đầu, có đuôi”; phải học cách nói, tiếng nói của quần chúng, phải thiết thực, nói có sách, mách có chứng. Viết xong rồi “phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại”.

Khi sinh thời, nói đến cách viết của Bác, thông thường chúng ta hay đề cập đến cách viết các bài báo, thực tế trong quá trình hoạt động cách mạng, Người có một phong cách viết ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, dễ hiểu và thực hành được ngay. Năm 1927, Bác viết cuốn Đường cách mệnh để huấn luyện cho lớp chiến sĩ cách mạng đầu tiên của nước ta, Bác đã nói rõ: "Sách này muốn nói cho vắn tắt, dễ hiểu, dễ nhớ... Vâng! Đây nói việc gì thì nói rất giản tiện, mau mắn, chắc chắn như 2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả".

Năm 1947, Bác viết cuốn Đời sống mới và cuốn Sửa đổi lối làm việc một cách vắn tắt, rõ ràng, dễ hiểu để đồng bào, cán bộ, đảng viên đọc, để thực hành đời sống mới và sửa đổi tư tưởng, tác phong, lề lối làm việc và công tác. Các tác phẩm của Bác viết với khối lượng thật đồ sộ với nhiều thể loại: chính luận, xã luận, bút chiến, truyện, ký, thơ cùng nhiều thể loại khác không chỉ bằng tiếng Việt mà cả bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung, v.v.. Đến Bản Di chúc, trước tác cuối cùng của Người để lại cho Đảng, cho nhân dân Việt Nam cũng chỉ ngắn gọn có 3 trang mà bao hàm ý nghĩa sâu xa, gửi gắm nhiều điều vĩ đại cho dân, cho nước. Các tác phẩm của Bác được viết một cách giản dị, rõ ràng, súc tích, dễ hiểu đi thẳng vào vấn đề. Cách viết của Bác thường hay ví von nên dễ đi vào lòng người và đến với đông đảo bạn đọc như: "Thế địch như lửa. Thế ta như nước. Nước nhất định thắng lửa"; "Ruộng rẫy là chiến trường. Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ"; "Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như làm ruộng. Trước phải khó nhọc cầy bừa, chân bùn tay lấm, làm cho lúa tốt, thì mới có gạo ăn", v.v..Về cách viết, Bác dặn mọi người, khi viết lời lẽ phải phổ thông, dễ hiểu, đường hoàng, vui vẻ, làm cho người xem có thú vị mà lại bổ ích. Khi viết và khi làm việc trên văn bản, Bác yêu cầu phải chú ý từng câu, từng chữ, trình bày rõ ràng để không thừa, không thiếu, không dài dòng và phải nhạy cảm chính trị. Bác cho rằng, cần phải viết ngắn gọn, còn viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay; phải chống tất cả thói viết rỗng, viết dài. Bác cũng lưu ý, viết ngắn gọn, nhưng lại không được thiếu, không được qua loa, đại khái, dùng từ phải chính xác, dễ hiểu. Viết dài nhưng mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích thì không phải là rỗng, không phải nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt. Bác căn dặn: Khi viết cố gắng phải ngắn gọn, song phải có nội dung; tránh lối viết khô khan, kém hoạt bát, không phổ thông, tránh dùng chữ nước ngoài không đúng nghĩa, hay nói chính trị suông, v.v... Bác phê bình cách viết dài dòng, rỗng tuếch: "Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác, nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy mực, mất công người xem". Theo quan điểm của Bác, một tác phẩm văn chương không cứ dài mới hay và “Viết dài mà rỗng thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay”. Khi nào tác phẩm ấy chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói, khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được, khi đọc xong độc giả phải suy ngẫm, thì tác phẩm ấy mới xem như là một tác phẩm hay và biên soạn tốt.

Học tập cách viết của Bác, hơn 90 năm Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trải qua 13 kỳ đại hội, mỗi nhiệm kỳ đều có những nhiệm vụ khác nhau, nhưng, Đảng đều ra những nghị quyết ngắn gọn, khoa học, cô đọng, súc tích, phù hợp với nhận thức của đại đa số quần chúng nhân dân. Khi Đảng thành lập, ban hành Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ có 28 dòng, dòng dài nhất có 13 chữ, dòng ngắn nhất chỉ có 4 chữ; Sách lược vắn tắt của Đảng có 21 dòng; Chương trình vắn tắt của Đảng chỉ có 16 dòng. Những văn kiện này thể hiện sự ngắn gọn, đủ ý, dễ hiểu và cũng là những văn kiện ngắn nhất của Đảng. Trong bối cảnh mới hiện nay, nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hết sức nặng nề, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng ngày càng to lớn, các văn kiện của Đảng có tầm mức khác nhau, đều tập trung thể hiện những mong muốn của Đảng trong xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng và phát triển./.
Yêu nước ST.

Tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh

 Ngày 05-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với ý chí mãnh liệt, lòng yêu thương con người sâu sắc đã ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng nước nhà khỏi ách nô lệ của thực dân, đế quốc. Sau 30 năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, giải phóng dân tộc Việt Nam (năm 1945), thống nhất đất nước (năm 1975), góp phần vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Qua đó thể hiện tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh.

  Tư duy chiến lược và tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Nam Bộ ra thăm miền Bắc năm 1949 - Ảnh tư liệu TTXVN

Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tư duy mẫn tiệp với trái tim yêu nước nồng cháy, được phát triển gắn với tư duy biện chứng duy vật, hòa với sự phát triển trong dòng chảy của tư duy, trí tuệ nhân loại. Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được thể hiện trong những nhận định, tiên đoán về nhiều lĩnh vực, nhất là sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Thứ nhất, quyết định ra đi tìm đường cứu nước, khác với các chí sĩ yêu nước, thể hiện tầm nhìn sâu, rộng của Hồ Chí Minh

Sự thất bại của phong trào yêu nước Việt Nam trong cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thể hiện cách mạng Việt Nam khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy các con đường do những người đi trước lựa chọn đã không giải phóng được dân tộc. Việc không lặp lại thất bại của những người đi trước là một điều khó khăn nhưng tìm ra một con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành được độc lập, tự do là điều còn khó khăn hơn nhiều lần. Với sự nhạy cảm đặc biệt, Người sang nước Pháp để đến tận nơi nước đang cai trị dân tộc mình, đến châu Âu, nơi có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, văn hóa, chính trị để tìm hiểu xem người ta làm như thế nào rồi trở về cứu giúp đồng bào.

Thứ hai, Hồ Chí Minh thấy được tầm quan trọng chiến lược của đoàn kết quốc tế để giải phóng nhân loại

Trên hành trình tìm đường cứu nước, chứng kiến sự áp bức, nô dịch, đau khổ của nhân dân lao động, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kết luận: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(1). “Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới một trình độ hoàn bị gần như là khoa học. Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”(2). “Những hành động đế quốc chủ nghĩa ấy không những chỉ nguy cho riêng vận mệnh của giai cấp vô sản Đông Dương và Thái Bình Dương, nó còn nguy cho cả vận mệnh của giai cấp vô sản quốc tế nữa”(3).

Mặt khác, Người cho rằng, “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(4). Do vậy, phải gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với CNXH.

Vì vậy, Hồ Chí Minh đã nhận rõ một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông, Quốc tế Cộng sản, Người viết: “nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là SỰ BIỆT LẬP. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ THIẾU SỰ TIN CẬY LẪN NHAU, SỰ PHỐI HỢP HÀNH ĐỘNG VÀ SỰ CỔ VŨ LẪN NHAU”(5). Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”(6).

Tư tưởng của Người thể hiện hai nội dung quan trọng: Một là, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; Hai là, tinh thần đoàn kết không bị giới hạn bởi châu Á hay châu Âu, bởi da vàng hay da trắng như luận điệu tuyên truyền của thuyết Đại Đông Á thời đó. “Khi người An Nam hiểu ra rằng có mối quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ thực dân và sự đoàn kết giữa người bản xứ ở các thuộc địa với người vô sản ở chính quốc mà thắng lợi nhất định sẽ sớm diễn ra, biểu hiện là sự thành lập các xôviết, khi họ cảm thấy triển vọng đó tăng cường niềm hy vọng của họ và sự đoàn kết đó củng cố những yêu sách của họ”(7).

Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương có cơ thắng lợi: 1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây. 2. Cuộc khởi nghĩa phải được nước Nga ủng hộ… 3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp. 4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam”(8).

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều đó chứng minh rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi(9) Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tư duy mẫn tiệp với trái tim yêu nước nồng cháy, được phát triển gắn với tư duy biện chứng duy vật, hòa với sự phát triển trong dòng chảy của tư duy, trí tuệ nhân loại. Tầm nhìn của Hồ Chí Minh được thể hiện trong những nhận định, tiên đoán về nhiều lĩnh vực, nhất là sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Với tinh thần đoàn kết quốc tế sâu rộng, Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo quốc tế và trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng quốc tế. Điều đó không chỉ bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam mà còn góp phần vào thực hiện những nhiệm vụ cách mạng quốc tế.

Thứ ba, Hồ Chí Minh nhận định sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam và các nước thuộc địa

Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng có thể diễn ra và giành thắng lợi; CNXH cũng có thể thắng lợi ở các nước nghèo, thuộc địa. Trong bài Đông Dương, Người viết: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(10). Rằng, “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến. Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(11).

Tiếp thu tinh thần của V.I.Lênin trong Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa về việc sau khi hoàn thành nhiệm vụ dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, Hồ Chí Minh khẳng định, ở mỗi nước, sự nghiệp cách mạng có thể không giống nhau. Người chỉ rõ: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy. Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau. Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta, v.v.. (12).

Người nêu khái quát những đặc điểm của dân chủ mới, đó là:

- Dưới sự lãnh đạo của Đảng và giai cấp công nhân, nhân dân đánh đổ đế quốc và phong kiến. Trên nền tảng công nông liên minh, nhân dân lao động làm chủ nước nhà, xây dựng nhân dân dân chủ chuyên chính, nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính (trừng trị) bọn phản động.

- Về kinh tế, có năm loại: kinh tế quốc doanh, các hợp tác xã, kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ, tư bản của tư nhân, tư bản của Nhà nước. Trong năm loại ấy, kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản.

- Tư tưởng của giai cấp công nhân (tư tưởng Mác - Lênin) là tư tưởng lãnh đạo.

- Đảng kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện dân chủ mới và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản).

- Trong nước thì nhân dân hăng hái kháng chiến, thi đua sản xuất; quyết tâm phấn đấu, quyết tâm tiến lên…

Sau ngày miền Bắc được giải phóng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(13). “Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”(14).

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sự thật là cuộc cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lúc đầu và trước hết là một cuộc cách mạng nông dân. Cuộc cách mạng ấy không tách rời cuộc cách mạng chống phong kiến. Sự liên minh giữa quần chúng đông đảo nông dân và giai cấp công nhân làm cái nền tảng trên đó có thể thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi và vững chắc. Cho nên cải cách ruộng đất là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ”(15).

Từ thực tiễn Việt Nam, Người đã nhấn mạnh sự vận dụng quan điểm cách mạng không ngừng của Lênin và sự đóng góp của cách mạng Việt Nam đối với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cách mạng thế giới: “Những kinh nghiệm của chúng tôi chứng tỏ rằng muốn đưa cuộc cách mạng dân chủ đến thắng lợi và mở ra những giai đoạn nối tiếp nhau cho sự phát triển của một nhà nước dân tộc dân chủ, giai cấp công nhân và đảng của nó phải lãnh đạo cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc bị áp bức và cuộc cách  mạng của giai cấp vô sản các nước đi áp bức phải ủng hộ lẫn nhau. Như Lênin đã dự kiến, ngày nay đã đến lúc mà các dân tộc ngửng cao đầu bước lên vũ đài quốc tế. Nhân dân Việt Nam, về phần mình, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ quang vinh của chủ nghĩa Mác - Lênin”(16).

Đó là những nhận định mang tính sáng tạo của Hồ Chí Minh. Những nhận định đó đã trở thành một trong những hạt nhân cốt lõi trong tư tưởng của Người, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh.

Thứ tư, Hồ Chí Minh có nhiều dự báo chính xác về cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới

Tháng 8-1914, khi đang ở nước Anh, trong Thư gửi cụ Phan Châu Trinh, Người đã dự báo về tình hình thế giới do tác động của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918): “Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đã vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng, cháu đã nói với Bác về cơn giông sấm động. Số mệnh sẽ còn dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước được ai sẽ thắng. Các nước trung lập còn đang lưỡng lự và các nước tham chiến không thể đoán biết được ý đồ của họ. Tình hình diễn ra là ai thò mũi vào thì chỉ có thể đứng về phe của địch thủ bên này hoặc địch thủ bên kia. Người Nhật Bản hình như có ý định nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong ba hoặc bốn tháng tình hình châu Á sẽ có chuyển biến và sẽ có nhiều chuyển biến”(17).

Năm 1924, trong bài Đông Dương và Thái Bình Dương, Người dự báo về nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới sẽ bùng nổ: “Hiện nay, tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt cho đạo quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó. Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản đó”(18). “Vì đã trở thành một trung tâm mà bọn đế quốc tham lam đều hướng cả vào nhòm ngó, nên Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”(19).

Thứ năm, Hồ Chí Minh dự báo về thời cơ để tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Việt Nam, giành độc lập và thống nhất đất nước

Trong bài viết Năm mới, công việc mới, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 114, ngày 01-01-1942, trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Người đã đưa ra dự báo về thời cơ để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do”(20).

Cuối năm 1941, trong bài Lịch sử nước ta, do Việt Minh Tuyên truyền Bộ, xuất bản tháng 02-1942, Người đã dự đoán chính xác năm 1945 Việt Nam độc lập(21). Dự báo này dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc của Hồ Chí Minh về xu hướng vận động của cách mạng thế giới. Đây là tư duy chiến lược của nhà cách mạng thực tiễn lỗi lạc.

Trong Thư chúc mừng năm mới, đăng trên Báo Nhân dân, số 5376, ngày 01-01-1969, Hồ Chí Minh viết: “Chắc chắn giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại. Quân và dân ta trong cả nước, thừa thắng xông lên, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn”(22). “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”(23). Đúng như niềm tin sắt đá của Người, Hiệp định Paris về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ký ngày 27-01-1973 buộc đế quốc Mỹ phải đơn phương rút quân khỏi nước ta. Nhưng với bản chất xâm lược, chúng tiếp tục tăng cường viện trợ cho ngụy quyền nhằm kéo dài chiến tranh theo kiểu “Việt Nam hóa”. Với ý đồ thâm độc, đế quốc Mỹ đã ráo riết thực hiện chủ trương “hiện đại và tinh nhuệ hóa” ngụy quân, tăng cường chi viện quân sự khối lượng lớn và xúi giục quân ngụy vi phạm Hiệp định Paris một cách trắng trợn, gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn trong thực thi Hiệp định và bảo toàn vùng giải phóng. Phải đến năm 1975, bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta mới đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Thứ sáu, Hồ Chí Minh tin vào tương lai tất thắng của cách mạng Việt Nam trên cơ sở tư duy chiến lược sâu sắc

Hồ Chí Minh đã 126 lần nhắc đến cụm từ “ta nhất định thắng” trong các bài nói, bài viết, thư gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước. Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt ở thắng lợi của cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Với sức mạnh đại đoàn kết vô địch, chúng ta nhất định thắng lợi!”(24). Với niềm tin vào sức mạnh của nhân dân đối với sự thành công của cách mạng, Người cổ vũ, động viên ý chí quyết tâm của nhân dân, để biến ý chí quyết tâm, lòng yêu nước thành hành động cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng”(25). “Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi”(26).

Niềm tin của Hồ Chí Minh vào tương lai tất thắng của cách mạng Việt Nam dựa trên cơ sở của tư duy biện chứng duy vật. Tư duy biện chứng duy vật chỉ ra quy luật tất yếu của tự nhiên, xã hội, tư duy; khẳng định sự ra đời tất yếu của cái mới trên cơ sở phủ định biện chứng, kế thừa cái cũ; khẳng định vai trò của con người trong hoạt động thực tiễn cách mạng.

Thứ bảy, Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn thời đại khi nói về xu thế chung của cách mạng thế giới

Nguyễn Ái Quốc viết: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(27). Trên tinh thần ấy, trong Đường kách mệnh (xuất bản năm 1927) cũng như các văn kiện do Người khởi thảo và thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(28). Những tư tưởng thể hiện tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tiễn mới đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và khẳng định. Tư tưởng của Người trực tiếp đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam đến thắng lợi và góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của cách mạng thế giới. 

NHỚ VỀ BÁC ĐỂ LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN

Tháng Năm về, tháng Năm của mùa hoa sen nở cũng là dịp đồng bào, chiến sĩ, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, đồng bào ta ở hải ngoại, một lòng tưởng nhớ đến Bác Hồ bằng tất cả tấm lòng thành kính, niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn trước công lao trời biển của Người đối với dân tộc, non sông Việt Nam.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng vĩ đại, đầy gian khổ hy sinh, cao thượng và trong sáng và đẹp đẽ. Người là vĩ nhân của thế kỷ XX, mặc dù vậy, ở Người có phong cách sống rất thanh bạch, bình dị và gần gũi; gần gũi một cách tự nhiên vốn có của bậc vĩ nhân, hiền triết, không hình thức, màu mè. Suốt đời cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Trong giai đoạn giữ cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng không bao giờ Người hành xử như một người có quyền. Người không tham quyền cố vị, chỉ có một ham muốn tột bậc, đó là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Nhân dân ta gọi Người là Bác Hồ bởi Hồ Chí Minh là lãnh tụ được sinh ra từ nhân dân, sống trong lòng dân và cuối đời lại muốn về với dân “làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

 

Còn nhớ câu chuyện của đồng chí Trần Viết Hoàn, người có gần 5 năm làm cận vệ bảo vệ trực tiếp Bác Hồ ở khu nhà sàn thuộc Phủ Chủ tịch, kể về Bác: “Vào dịp sinh nhật Bác 70 tuổi, để thiết thực đáp đền công lao của Bác, ngành văn hóa đến xin phép dựng nhà lưu niệm Bác ở hai nơi, Nghệ An và Pác Pó (Cao Bằng), nhưng Bác nói: “Các chú thương Bác thì nên lo cái ăn, cái ở, cái mặc của bà con ở đây. Dựng nhà lưu niệm làm gì nếu bà con ăn chưa no, mặc chưa ấm, ở chưa sạch. Phải tổ chức nhà giữ trẻ cho tốt, phải xây dựng bệnh xá, trường học cho tốt; phải chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bà con, đó là cách lưu niệm tốt nhất". Ngoài ra, đồng chí Hoàn chia sẻ thêm, trong 15 năm sống tại Phủ Chủ tịch, hầu như năm nào cũng vậy, vào dịp sinh nhật, Bác thường “lánh nhà” để tránh nghi lễ phiền phức, tốn kém, tốn thì giờ, tiền của”.
 

Bác Hồ là thế, luôn lo cho dân, cho nước, bỏ qua lợi ích của bản thân, luôn đặt mình trong lòng nhân dân để thấu cảm với nỗi khổ của người dân, trăn trở với vận mệnh nước nhà, đau đáu trong tim khát vọng giành tự do, độc lập, hạnh phúc cho đồng bào, Tổ quốc. Người nâng niu tất cả, chỉ quên mình.
Mặc dù Bác đã đi xa, nhưng di sản của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đó là tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho sự nghiệp đấu tranh và kiến thiết nước nhà, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có lẽ, trong những ngày tháng năm này chúng ta nhớ Bác nhiều hơn, bởi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cùng chung tay, đồng lòng thực hiện thành công lệnh giãn cách xã hội, nhằm phòng, chống đại dịch Covid-19 lây lan. Cho đến nay, kết quả bước đầu ta đã cơ bản ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng, thành quả này có thể được nhìn thấy từ trước, bởi như Người đã dạy, khi ý Đảng đi vào lòng dân sẽ tạo nên sức mạnh vô địch, vượt qua chông gai, thử thách, nhất định sẽ chiến thắng mọi kẻ thù.
Trong những năm qua, thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn hệ thống chính trị đã tích cực hăng hái thi đua lập thành tích, báo công lên Người; việc học tập và làm theo Bác đã trở thành việc làm thường xuyên, tự giác ở mỗi tổ chức, đơn vị, cá nhân. Trong thời gian qua, có nhiều gương điển hình xuất sắc về học tập và làm theo Bác, qua đó giới thiệu nhiều mô hình hay, cách làm mới thiết thực, góp phần cải thiện năng suất lao động, mang lại giá trị kinh tế cao, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, ổn định hoạt động xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân.

 

Mặc dù thế, ở một số nơi, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn còn mang nặng tính hình thức, thời vụ, chưa trở thành hoạt động thường xuyên, tự giác, tự nguyện. Nguyên nhân có thể là trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực cũng đang nảy sinh nhiều vấn đề nhức nhối, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, tránh xa mọi cám dỗ, tiền tài, danh vọng, đề cao lợi ích cá nhân gây tổn hại đến lợi ích tập thể, làm giảm uy tín của Đảng, làm lung lay đến đoàn kết nội bộ, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Do đó, ở mỗi cán bộ đảng viên cần thường xuyên, không ngừng tu dưỡng, học tập và rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...”
Nhớ về Bác để lòng ta trong sáng hơn, và để… lớn hơn mình một chút.