Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2024

QUYẾT TÂM BẢO VỆ BIỂN, ĐẢO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC


Trên thực tế, nhiệm vụ bảo vệ biển đảo luôn Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo bằng đường lối, quan điểm nhất quán, đúng đắn, phù hợp với luật pháp quốc tế và tình hình thực tiễn…

Ngay sau khi đất nước thống nhất, ngày 12/5/1977, Việt Nam đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ đã ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia có liên quan trong giai đoạn sau này. Những hiệp định phân định ranh giới mà Việt Nam ký kết với các quốc gia trên thế giới mang ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, khai thác các vùng biển và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng. Đây là một minh chứng cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, chủ động, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trên thực tế, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, nước ta luôn thể hiện quan điểm kiên quyết đấu tranh phản đối. Đồng thời, thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao với các nước trên thế giới có tiếng nói kịp thời đối với những hành vi vi phạm. Việt Nam cũng luôn chủ động, tích cực và kiên trì giải quyết những bất đồng tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hòa bình, an ninh khu vực; tăng cường vị thế trên trường quốc tế; Việt Nam luôn phản đối chiến tranh, xung đột dưới bất cứ hình thức nào, đồng thời nhất quán với quan điểm mọi tranh chấp, bất đồng phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và pháp luật quốc tế có liên quan, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển … 

Đồng thời, sẵn sàng về lực lượng, phương tiện, phương án, kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đó là những biện pháp thể hiện sự khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, kiên quyết về mặt nguyên tắc để đạt được mục tiêu đề ra…

Việt Nam cũng luôn quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng nói chung, lực lượng bảo vệ biển đảo nói riêng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Không ngừng quan tâm bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại…

ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÁCH MẠNG

 

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đất nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội mới, với nhiều thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách. Bên cạnh những yếu tố tích cực trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện, vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém trong công tác quản lý và đào tạo nhân sự, nhất là với đội ngũ cán bộ quản lý.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao đạo đức của người cán bộ cách mạng. Người cho rằng, cán bộ nếu chỉ có giác ngộ chính trị thôi chưa đủ, mà còn phải thấm nhuần, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Bác từng căn dặn: Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì. 

Vấn đề về đạo đức nằm trong chiến lược nhân sự mà ngày nay, việc “xây” chiến lược quản trị nguồn nhân lực lại là yếu tố được ưu tiên. Đây là bộ phận rất quan trọng bởi việc tuyển dụng, tìm kiếm và phát triển nguồn nhân lực, nhất là đối với những nhân lực quản lý cấp cao có vai trò quyết định trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Đối với bất cứ doanh nghiệp nào thì vấn đề con người và nguồn lực con người luôn giữ vị trí quan trọng. Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến sự thành - bại của doanh nghiệp. Công tác quản lý nhân sự dù tồn tại dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp thì ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào cũng cần có bộ phận này. Khi quản lý nhân sự thực hiện hiệu quả sẽ cho người lao động niềm tin vào tổ chức, có động lực lao động và cống hiến, từ đó hình thành nguồn nhân lực mạnh toàn diện và nâng cao năng suất, hiệu quả lao động.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng của người cán bộ phải được thường xuyên rèn giũa, giống như ngọc càng mài càng sáng, thể hiện rõ trong công tác và trong sinh hoạt thường ngày. Học và làm theo Bác, ở các đơn vị cả nhà nước hay tư nhân đều đang hình thành văn hóa công sở. Những quy tắc ứng xử trong môi trường làm việc; cách tạo sự kết nối, đoàn kết đối với các cá nhân để trở thành một tập thể vững mạnh; các hoạt động thi đua - khen thưởng để tạo động lực cố gắng… đã và đang nhân rộng ở rất nhiều đơn vị, công ty, tập đoàn trong cả nước./.

 

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.

 mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người. Bảo đảm tính thực tiễn và tính ổn định, tính bền vững, phù hợp của chính sách xã hội, tạo địa bàn và nguồn lực thuận lợi cho kinh tế phát triển. 

Tựu trung lại, nhận thức về công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay cần có quan điểm khách quan, cái nhìn lịch sử, cụ thể trong đánh giá, không mắc vào cái nhìn phiến diện, méo mó, lệch lạc và các mưu đồ chính trị của các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, những người "mượn" cớ đấu tranh cho công bằng, tiến bộ xã hội nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Chỉ có trên quan điểm như vậy mới có thể so sánh, đánh giá thành tựu, khẳng định tính ưu việt trong phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN HOẠT ĐỘNG "BẤT TUÂN DÂN SỰ" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Qua nghiên cứu các quan điểm, hoạt động và quá trình hình thành “Bất tuân dân sự”, có thể rút ra: “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam là hành động phản kháng của người dân khi quyền và lợi ích bị xâm hại, bị các thế lực thù địch lợi dụng kích động tạo thành mâu thuẫn đối kháng giữa người dân với chính quỵền, từ đó hình thành các phong trào phản kháng Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. “Bất tuân dân sự” tại Việt Nam hiện nay đã ở mức nguy hiểm, có xu hướng phát triển thành phong trào, trở thành nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ. Đối với Quân đội, thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, chống đối chính trị tìm cách móc nối, lôi kéo cán bộ Quân đội nghỉ hưu, cán bộ, chiến sĩ đang công tác để tạo dựng “ngọn cờ” cho các hoạt động “bất tuân dân sự” trong phản kháng ý thức hệ

Thứ hai, mạo danh, giả danh cán bộ cấp cao Quân đội nghi hưu và cán bộ, chiến sĩ ỉực lượng vũ trang để tuyên truyền kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động “bất tuân dân sự”.

Thứ ba, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm dễ gây bức xúc trong đời sổng xã hội liên quan đến Quân đội, các đối tượng tán phát tài liệu nói xấu nội bộ, lãnh đạo, chi huy Quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội ta, gây hoài nghi, bức xúc trong xã hội, tác động xẩu tới tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ./.

 

NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang tăng cường tán phát các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng xã hội vừa là vấn đề có tính cấp thiết, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài của cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ
áp  bức,  bóc  lột,  tiến  tới  thực  hiện  sự  nghiệp  giải  phóng  con người;   học thuyết này được  sáng  lập  bởi C. Mác, Ph. Ăngghen và được  V.I. Lênin vận  dụng  và phát triển trong thực tiễn. Chủ nghĩa Mác – Lênin được cấu thành từ ba bộ phận lý luận cơ bản, đó là: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị học Mác– Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ  nghĩa Mac –  Lenin  không  chỉ  giải  thích  mà  còn  vạch  ra  những  con đường, phương tiện cải tạo thế giới, đó là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách mạng Tư tưởng Hồ Chí Minh Là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta;
kế  thừa  và  phát  triển  các  giá  trị  truyền  thống  tốt đẹp  của  dân  tộc,  tiếp thu văn hóa nhân loại

           Những năm qua, căn cứ vào yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam, vào Cương lĩnh của Đảng, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh) được chú trọng và đẩy mạnh theo tinh thầnNghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII ngày 22/10/2018 về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" (Nghị quyết 35- NQ/TW). Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài; không chỉ là công việc của các cơ quan Đảng, Nhà nước mà là của cả hệ thống chính trị, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Có thể nói rằng, từ sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch, phản động ngày càng gia tăng các hoạt động chống phá nhằm phủ định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; nhất là xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin,tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để thông qua đó đòi xóa bỏ vai trò cầm quyền/độc quền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Vì thế, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn. Và cũng vì thế, việc quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, bảo vệ và đấu tranh nói chung; việc tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu mà Nghị quyết số 35-NQ/TW đề ra nói riêng càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn.

Không gian mạng đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, do có tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, bình đẳng, nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, do vậy không gian mạng mang đến không ít thách thức đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không gian mạng đã và đang trở thành công cụ lợi hại hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, chuyển hóa chính trị, khủng bố.

Đây thực sự là một mặt trận quạn trọng, không thể xem nhẹ, buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, cấp thiết, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực hiện nhiệm vụ này phải luôn nhận thức đầy đủ những thuận lợi, khó khăn, thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh chính trị, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình đấu tranh tư tưởng, lý luận phức tạp hiện nay.

          Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, các thể lực phản động, thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc và nguy hiểm hơn, có tác động đến mọi tầng lớp xã hội. Nội dung, bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch là tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giả danh mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội để quy kết cho rằng: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng xã hội mới. Bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lý lịch, thân thế, sự nghiệp các lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước để đi đến phủ nhận con người, phủ nhận hệ tư tưởng mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thể lực thù địch viết bài phát tán trên không gian mạng xã hội nhằm thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để thông qua các đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào mục tiêu, con đường tiến liên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

          Về hình thức tuyên truyền chống phá, các thế lực thù địch, phản động sử dụng các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, sự dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn Website, blog,… để phát tán những thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, một số nhân vật được xã hội chú ý hoặc nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “bảo vệ môi trường”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”,… để bình luận, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Các thế lực thù địch, phản động đưa lên mạng xã hội và Internet những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, sai trái để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó, chuyển dần sang tư tưởng sai trái, thù địch, phản động. Chúng xuất bản các ấn phẩm có nội dụng xấu độc; biên soạn nhiều tài liệu, video lồng ghép nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật. Các thế lực thù địch tổ chức viết nhiều tài liệu, “tác phẩm” dưới dạng văn học nhằm vu cáo, bôi nhọ, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, từ đó nhằm xóa bỏ học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa.

          Nội dụng thông tin tuyên truyền xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng,… trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các thế lực thù địch đòi hỏi Đảng ta từ bỏ chú nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài xích, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tấn công vào những vấn đề nguyên tắc, then chốt, những luận điểm cơ bản nhất, như phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận về hình thái kinh tế – xã hội; phủ nhận lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để gián tiếp phủ nhận tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuyên tạc, phủ nhận quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Các thế lực thù địch đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu những tiêu cực, khuyết tật, khiếm khuyết tạo cái nhìn bi quan, đen tối về tình hình đất nước. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, phủ nhận và xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, đòi lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân với công an nhân dân, chia rẽ quân đội và công an với nhân dân. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự trá hình”, từ đó cho ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… để chống phá cách mạng Việt Nam.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây:

          Một là, bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương thức đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

          Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, không gian mạng phát triển như vũ bão, thông qua “thế giới ảo”, các thế lực thù địch không đơn thuần sử dụng các phương pháp truyền thống, chúng triệt để lợi dụng không gian mạng xã hội để chống phá với các hình thức, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Do vậy, đòi hỏi nội dung, phương thức đấu tranh của chúng ta cũng phải đổi mới, bổ sung, từng bước hoàn thiện cho phù hợp. Nội dung, phương thức đóng vai trò rất quan trọng trong đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Nội dung đấu tranh phong phú, phương thức đa dạng, biện pháp phù hợp, cụ thể, sáng tạo thì công tác đấu tranh mới có hiệu quả cao.

          Hai là, thực hiện có hiệu quả các giải pháp công nghệ, xử lý nghiêm các vi phạm trên không gian mạng.

          Cùng với các giải pháp tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp công nghệ như: Bảo vệ tốt thông tin cá nhân, kỹ thuật phát tán thông tin trên không gian mạng, kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ khóa tài khoản của đối phương,… có vị trí rất quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng hiện nay.

          Ba là, cần xác định công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, buông lỏng, mất cảnh giác.

          Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần xác định là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, lâu dài, khó khăn và quyết liệt, do vậy cần tuyệt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng làm phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng để chống phá ta của các thể lực thù địch theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng những ưu thế của phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch.

          Bốn là, giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận.

          Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, lý luận, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng; mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng. Có cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng, tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội, tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn.

          Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, phục vụ trực tiếp cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng, trúng, có tầm nhìn chiến lược, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài, gỡ bỏ thông tin xấu độc, răn đe, xử lý hình sự để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

          Năm là, xây dựng hệ thống bài viết chuyên luận chuyên sâu phản bác những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có sức thuyết phục.

          Chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu phê phán, phản bác, bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, những quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận và thực tiễn khoa học với hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, có tính thuyết phục cao giúp độc giả hiểu sâu sắc, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Sáu là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội.

          Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội theo định hướng, chỉ đạo thống nhất; đồng thời, giao mỗi ban ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị phải xây dựng lực lượng, hệ thống, kế hoạch tuyên truyền. Thường xuyên nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, trong các tổ chức đoàn thể, khắc phục tình trạng mơ hồ về chính trị trong cán bộ, đảng viên và trong quần chúng nhân dân.

          Thường xuyên gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng, tuyên truyền giáo dục chính trị với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

          Lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tinh thần chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ “tính hai mặt” của mạng xã hội, hiểu biết đầy đủ những thủ đoạn hoạt động và nội dung chống phá của các thế lực thù địch, mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh là vấn đề hết sức quan trọng. Thường xuyên nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội trong quần chúng nhân dân, định hướng thông tin chính xác, kịp thời nhằm tạo khả năng “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch để chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, phản bác, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, kích động, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

          Bảy là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng hình thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng xã hội.

          Đổi mới nội dung, phương thức đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh,… trên mạng xã hội; trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục truyền thống, định hướng giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ một cách khoa học, thiết thực, sâu rộng, có tính thuyết phục cao, qua đó nâng cao khả năng đề kháng và phản bác của cán bộ, đảng viên và người dân trước những luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch.

          Đẩy mạnh và đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, lựa chọn đúng nội dung và luôn có những thông tin mới trong tuyên truyền, tăng cường thông tin đối ngoại. Tiến hành điều tra dư luận xã hội để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cơ sở để xây dựng nội dung tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trước các vấn đề xã hội, tạo thế chủ động trên mặt trận đấu tranh trên mạng xã hội.

          Tám là, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chỉ thị của Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

          Tiếp tục triển khai thực thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI “về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng”, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, Thông báo số 17/TB-VPTW, ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và tuyên truyền, phổ biến, giáo dục thực hiện Luật An ninh mạng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-6-2018. Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật an ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống phá Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại hội XIII của Đảng đã đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do vậy, công tác đầu tranh phản bác, ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần bảo vệ, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết./.

 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẬP TRUNG XÂY DỰNG ĐỀ ÁN TỔ CHỨC DIỄU BINH, DIỄU HÀNH TRONG LỄ KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM THỐNG NHẤT TỔ QUỐC!

         Chiều 19-4, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì Hội nghị nghe các cơ quan báo cáo xây dựng đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2025)!
Dự hội nghị có các đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng; Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa; Trung tướng Nguyễn Trọng Bình và Trung tướng Phạm Trường Sơn. Dự hội nghị có Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; đại biểu cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng...

Báo cáo tại hội nghị, đại diện Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu) cho biết, sau khi khảo sát thực địa, Cục Quân huấn đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng dự thảo Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/30-4-2025) của Bộ Quốc phòng, Kế hoạch thực hiện Đề án của Bộ Tổng Tham mưu và gửi xin ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan. Theo đó, các cơ quan, đơn vị đã cơ bản nhất trí với nội dung dự thảo, một số ý kiến tham gia đề nghị chỉnh lý về câu từ, bổ sung nhiệm vụ đã được tiếp thu, bổ sung hoàn chỉnh đề án.

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Tân Cương nhấn mạnh, Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là dịp quan trọng khẳng định ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử vĩ đại của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và ý chí thống nhất đất nước; sự phát triển lớn mạnh không ngừng của Quân đội nhân dân Việt Nam, Dân quân tự vệ và Công an nhân dân trong 50 năm dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây chính là dịp biểu dương sức mạnh của LLVT nhân dân, tinh thần đoàn kết dân tộc, khẳng định ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng yêu cầu Cục Quân huấn rà soát kỹ, chuẩn bị tốt các nội dung báo cáo thông qua Thường vụ Quân ủy Trung ương về Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm. Sau khi Thường vụ Quân ủy Trung ương nhất trí thông qua sẽ gửi xin ý kiến các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương, hoàn chỉnh đề án trình thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn kiện diễu binh, diễu hành; kế hoạch tổ chức lực lượng thực hiện đề án; kế hoạch tập huấn, huấn luyện, luyện tập; kế hoạch sơ duyệt, tổng duyệt để các cơ quan, đơn vị có cơ sở pháp lý xây dựng kế hoạch cụ thể theo chuyên ngành, yêu cầu nhiệm vụ.

Thượng tướng Nguyễn Tân Cương lưu ý, các cơ quan, đơn vị căn cứ vào dự thảo đề án, kế hoạch tổ chức lực lượng thực hiện Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/ 30-4-2025) của Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện; tổ chức kiểm tra, lựa chọn các đồng chí cán bộ, chiến sĩ; dân quân tự vệ có đủ tiêu chuẩn về chính trị, ngoại hình tham gia các khối diễu binh... Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ cho các lực lượng xác định ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG ĐỀ ÁN TỔ CHỨC DIỄU BINH, DIỄU HÀNH TRONG LỄ KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC!

         Sáng 25-3, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chủ trì Hội nghị làm việc với các cơ quan, đơn vị về xây dựng Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/ 30-4-2025)!
Báo cáo tại hội nghị, Trung tướng Thái Văn Minh, Cục trưởng Cục Quân huấn (Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam) cho biết, sau khi khảo sát thực địa, Cục Quân huấn đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng dự thảo Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025) và kế hoạch tổ chức lực lượng thực hiện đề án gửi xin ý kiến các cơ quan, đơn vị có liên quan. Theo đó, các cơ quan, đơn vị đã cơ bản nhất trí với nội dung dự thảo, một số ý kiến tham gia đề nghị chỉnh lý về câu từ, bổ sung nhiệm vụ đã được tiếp thu, bổ sung vào đề án.

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa yêu cầu Cục Quân huấn chuẩn bị tốt các nội dung báo cáo thông qua Thường vụ Quân ủy Trung ương về Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm. Sau khi Thường vụ Quân ủy Trung ương nhất trí thông qua sẽ gửi xin ý kiến các bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương, hoàn chỉnh đề án trình Thủ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn kiện diễu binh, diễu hành; kế hoạch tổ chức lực lượng thực hiện đề án; kế hoạch tập huấn, huấn luyện, luyện tập; kế hoạch sơ duyệt, tổng duyệt để các cơ quan, đơn vị có cơ sở pháp lý xây dựng kế hoạch cụ thể theo chuyên ngành, triển khai tổ chức thực hiện.

Các cơ quan, đơn vị căn cứ vào dự thảo đề án, kế hoạch tổ chức lực lượng thực hiện Đề án tổ chức diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30-4-1975/ 30-4-2025) của Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, tích cực chủ động làm tốt công tác chuẩn bị, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện theo nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đó, Cục Quân huấn chủ động phối hợp với Quân khu 7 và UBND TP Hồ Chí Minh và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức khảo sát các vị trí ăn, ở, hợp luyện cho các lực lượng; vị trí bố trí trận địa pháo lễ, phương án không quân bay chào mừng tại TP Hồ Chí Minh; đội hình xe pháo khi diễu binh qua lễ đài; đồng thời triển khai các mặt bảo đảm cho công tác luyện tập, hợp luyện và làm nhiệm vụ chính thức khi kế hoạch được phê duyệt...

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa cũng lưu ý các đơn vị được giao nhiệm vụ tham gia diễu binh, diễu hành, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện; tổ chức kiểm tra, lựa chọn các đồng chí cán bộ, chiến sĩ; dân quân tự vệ có đủ tiêu chuẩn về chính trị, ngoại hình tham gia các khối diễu binh... Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ cho các lực lượng xác định ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ...


Yêu nước ST.

SAO CÒN VẤN VƯƠNG TẤM ÁO LỖI THỜI?

     Ngót nửa thế kỷ từ Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, song những luồng tư tưởng gợi lại tàn tích chiến tranh, kích động hận thù vẫn ẩn hiện đâu đó trong đời sống của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Điều đó đòi hỏi thế hệ ngày nay càng phải thể hiện trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc phản đối những gì đi ngược lại với chính sách hòa hợp dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện!

Không chỉ là những hành vi phản cảm
Lâu nay, một số cá nhân bất mãn và tổ chức, trong đó có các tổ phản động lưu vong ở nước ngoài, cùng các thế lực thù địch vẫn rắp tâm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, mà một trong số đó là tổ chức mua bán, sưu tầm và mang mặc các trang phục từ thời ngụy quân, ngụy quyền.

Sẽ chẳng ai ý kiến gì nếu như trang phục mà một số cá nhân cổ xúy lại là bộ quần áo rằn ri mà lính Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trước năm 1975. Những trang phục ấy thường được ăn vận trong các buổi tụ tập, lễ tưởng niệm hay diễu hành với các mác “phục quốc” hay “làm sống dậy” tinh thần của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Dù đó chỉ là những sự việc, hiện tượng nhỏ lẻ nhưng vẫn khiến bức xúc dư luận, tác động xấu đến nhận thức cộng đồng người Việt Nam ở trong và ngoài nước, bởi được lặp đi lặp lại vào những dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước suốt bao nhiêu năm qua.

Dĩ nhiên, mỗi người đều có quyền lựa chọn xu hướng, phong cách ăn mặc cho riêng mình, song việc khoác lên mình trang phục của kẻ xâm lược và chế độ tay sai bán nước, từng gieo tội ác với dân tộc mình cách đây gần nửa thế kỷ rõ ràng là hành vi khoét sâu vào vết thương chiến tranh trong quá khứ, gieo rắc lòng hận thù tới một bộ phận kiều bào đang sinh sống ở hải ngoại, nhất là giới trẻ hải ngoại. Cùng với đó là ảo vọng muốn thông qua trang phục, âm nhạc hay các hoạt động nghệ thuật để làm sống lại những giá trị đã lỗi thời và đã bị đào thải của chính quyền tay sai bán nước ở Sài Gòn trước năm 1975. Suy cho cùng, đó không đơn thuần là những hành vi mà thoạt nhìn đã thấy lố bịch, phản cảm.

Nhưng cũng không loại trừ khả năng họ chính là nạn nhân xúi giục của những kẻ luôn mang trong mình lòng hận thù, tư tưởng bất mãn, hoặc các tổ chức phản động lưu vong có tư tưởng thù địch với Việt Nam, muốn dựa vào những tàn tích quá khứ để bóp méo lịch sử, kích động hận thù, phá hoại chủ trương “hòa hợp dân tộc”, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Theo dõi trên mạng xã hội có thể thấy, thời gian gần đây, việc mang mặc những trang phục như vậy thường bị dư luận nhận diện và phản đối một cách hết sức nhanh chóng, quyết liệt. Mừng vì điều đó càng chứng tỏ người Việt Nam ta ở trong nước cũng như nước ngoài giờ đây đều có chung quan điểm, đó là không thể cổ xúy những gì đã trở thành vô giá trị, những gì gợi lại quá khứ đau thương của dân tộc. Vẫn biết hòa hợp dân tộc là một quá trình lâu dài, bền bỉ, nhưng sẽ khó đi đến đích nếu chưa thoát khỏi chiếc áo nhuốm máu đồng bào, nhuốm màu thù hận, mặc cảm và định kiến.

Đặt niềm tin vào thế hệ kiều bào trẻ
Tính đến tháng 4-2023, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 5,3 triệu người Việt sinh sống, làm việc, học tập ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, dù còn một bộ phận vẫn giữ định kiến, nhận thức và hành động không phù hợp lợi ích quốc gia, song hầu hết đều có tư tưởng cởi mở hơn, có cái nhìn đúng đắn về lịch sử và đất nước, đặc biệt là thế hệ kiều bào trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh.

Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều người trong số những kiều bào trẻ đang đóng vai trò nòng cốt, có sức ảnh hưởng lớn trong việc tập hợp, đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước, đồng thời là những nhân tố quan trọng trong triển khai chính sách hòa hợp dân tộc và tác động lớn đến nhận thức, thái độ của cộng đồng nơi họ đang sinh sống. Họ cũng là nguồn lực quan trọng của quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, thể hiện qua những đóng góp cụ thể, thiết thực của mỗi người trên nhiều lĩnh vực như đầu tư, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo...

Có được những kết quả ấy là do Đảng, Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương, chính sách liên quan tới hòa hợp dân tộc và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó có Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 (khóa IX) của Bộ Chính trị “Về công tác dân tộc”, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”. Đặc biệt, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19-5-2015 của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đã khẳng định đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xóa bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc...

Một trong những ví dụ điển hình là hiện nay, những người từng làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 được đối xử bình đẳng trong mọi hoạt động, từ xuất, nhập cảnh, hồi hương, quốc tịch đến về nước làm ăn, đầu tư kinh doanh...

Những năm gần đây, kiều bào còn tham gia nhiều hoạt động, sự kiện mang tinh thần hướng về quê hương, đất nước, gắn kết kiều bào với quê hương như Chương trình xuân quê hương, tham dự Giỗ Tổ Hùng Vương, thăm quân và dân huyện đảo Trường Sa, nhà giàn DK1... Đặc biệt, trong số những kiều bào tích cực tham gia những chương trình ấy có cả những người trước đây từng mang quan điểm khác biệt, nay đã thay đổi suy nghĩ và có cái nhìn đúng đắn về quá khứ cũng như thực tại của đất nước.

Qua đó cho thấy, trong quá trình triển khai chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, nhất là người trẻ ở hải ngoại. Chính họ cũng là những người có tiếng nói trọng lượng nhất để phản bác quan điểm đòi “phục dựng” một chế độ đã “cáo chung” từ nhiều năm trước, từ đó tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh và giúp cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài toàn tâm toàn ý đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ ĐỘNG NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỀ CHÍNH TRỊ!

     Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng (nay là Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị) được thành lập ngày 29-4-1999, theo Quyết định số 1455/1998/QĐ-BQP ngày 27-10-1998 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng!
Viện có chức năng nghiên cứu, phát triển, ứng dụng những kiến thức xã hội nhân văn vào lĩnh vực quân sự, phục vụ cho sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và Học viện Chính trị.

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình phát triển, Viện luôn tập trung nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội về chính trị; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học với sự tham gia của cán bộ khoa học, cán bộ lãnh đạo, quản lý trong và ngoài Quân đội.

Đội ngũ các nhà khoa học của Viện luôn đề cao trách nhiệm, bản lĩnh chính trị và tư duy lý luận trong nghiên cứu khoa học và giáo dục-đào tạo với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị.

Qua 25 năm xây dựng và phát triển, Viện đã nghiên cứu thành công hàng trăm đề tài khoa học từ cấp cơ sở đến cấp Quốc gia; hàng chục chuyên đề tổng kết lý luận, thực tiễn theo yêu cầu của Ban Bí thư, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Viện đã biên soạn, xuất bản hơn 200 sách tham khảo, chuyên khảo; 52 sách đấu tranh tư tưởng, lý luận; tổ chức hơn 200 hội thảo, tọa đàm khoa học các cấp; công bố hàng nghìn bài báo khoa học trên các tạp chí trong và ngoài Quân đội; thực hiện gần 1.500 nhiệm vụ do cấp trên giao với chất lượng tốt.

Cán bộ của Viện tham gia biên soạn hàng chục bộ giáo trình, tài liệu dạy học cho các đối tượng trong Quân đội. Đồng thời, Viện luôn thực hiện nghiêm nền nếp xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, xây dựng Đảng bộ Viện và các chi bộ trong sạch, vững mạnh, Viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Với những kết quả đạt được, Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự được Chủ tịch nước tặng thưởng 1 Huân chương Lao động hạng Ba, 2 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; tập thể Viện nhiều năm được Thủ trưởng Học viện Chính trị tặng “Cờ thi đua”, danh hiệu “Đơn vị Quyết thắng” và nhiều bằng khen, giấy khen; hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên được tặng thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu Chiến sĩ thi đua, bằng khen, giấy khen và các phần thưởng cao quý khác.

Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; các yếu tố an ninh truyền thống và phi truyền thống tiếp tục theo chiều hướng phức tạp hơn. Đất nước vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội... với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, công khai và trực diện đã tác động trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội về chính trị.

Quán triệt Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và phương hướng xây dựng Quân đội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý của người chỉ huy các cấp và trách nhiệm chính trị của cán bộ, nhân viên toàn Viện.

Thứ hai, đẩy mạnh nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tinh nhuệ về chính trị.

Thứ ba, Viện tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh tư tưởng, lý luận; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh với xây dựng Viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.

Xây dựng Đảng bộ Viện vững mạnh về tư tưởng, chính trị, tổ chức, đạo đức và cán bộ gắn với trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân; chủ động ngăn ngừa và đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ. Đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, thống nhất./.
Môi trường ST.