Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KỶ NIỆM 206 NĂM NGÀY SINH CÁC MÁC (05/5/1818 - 05/5/2024!

     Các Mác (Karl Marx) sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Trier trên bờ sông Mozel, một nhánh của sông Rhein, một thành phố cổ của Đức!
Các Mác là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại trên thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp của ông có nhiều thăng trầm và cũng đầy gian khổ. Những tư tưởng của ông góp phần làm thay đổi tư duy của một bộ phận những dân tộc chịu áp bức, từ đó giúp họ đứng lên giành lại độc lập và thoát ra cảnh lầm than./.
Môi trường ST.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ!

     Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”!

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!
-----------------------
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 2002, tập 9, tr.283; tập 5, tr.208-209; tập 4, tr.358; tập 5, tr.548; tập 11, tr.186; tập 11, tr.374.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHIẾC XE ĐẠP THỒ CẢI TIẾN CỦA DÂN CÔNG CAO VĂN TỴ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ!

     Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 có sự đóng góp quan trọng của công tác bảo đảm hậu cần. Trong chiến dịch này, với phương châm của Trung ương Đảng là huy động toàn bộ sức người, sức của ở hậu phương, quân và dân ta mà nòng cốt là ngành hậu cần quân đội. Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hi sinh chúng ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu”. Và công tác bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ được ví như một kỳ tích trong lịch sử quân sự Việt Nam!

Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cần cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người. Với việc vận chuyển, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho mặt trận xa hàng trăm km, đường xá đi lại khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ, dưới sự đánh phá ác liệt của kẻ thù nhưng những đội xe đạp thồ đã lập nhiều kỷ lục chở từ 100 đến 300kg/chuyến, trong đó có bác Cao Văn Tỵ (dân công tỉnh Thanh Hoá) đã chở tới 320 kg/chuyến, được mọi người gọi là “Kiện tướng xe thồ”. Và để chở được nhiều hàng hóa, bác Cao Văn Tỵ đã gia cố thêm khung, vành, tay lái cho xe của mình. Dọc thân xe có thêm một thanh ngang có thể gánh tới 200kg gạo. Các nan hoa được nẹp thêm để tăng độ bền, chịu lực cho xe. Ở phần trước của xe được gắn thêm một khúc tre dài làm tay lái, một khúc tre ngắn hơn dùng giữ thăng bằng và làm tay phanh. Với sự sáng tạo đó đã tăng được sức tải của xe từ 10 - 20 lần so với dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Ngoài ra xe thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy.

Câu chuyện về chiếc xe đạp thồ của bác Cao Văn Tỵ được Thiếu tá QNCN Nguyễn Văn Hoành cán bộ Bảo tàng Quân khu 4 chia sẻ: “Vận chuyển hàng hóa dài ngày giữa rừng, đường trơn, đèo dốc và bom đạn bác Cao Văn Tỵ cùng với bác Bùi Tín (dân công Thanh Hoá, người 2 lần vinh dự được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ và Huân chương Chiến công hạng Ba) luôn động viên anh em dân công vượt qua khó khăn. Phong trào thi đua “thồ nhiều, đi nhanh” do các anh phát động được lan rộng ra khắp mặt trận. Có những đoạn dốc cheo leo cấp trên giao nhiệm vụ cho mỗi xe chỉ được chở 60kg nhưng tất cả vẫn quyết tâm thồ ít nhất mỗi người 100kg để nhanh chóng đưa hàng hoá ra trận tuyến. Với quyết tâm đó, bác Cao Văn Tỵ đã lập kỷ lục thồ 320kg/chuyến, anh Ma Văn Thắng chở được 270kg/chuyến...”. 

Khi nhận xét về vai trò của hậu phương trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định: “Nếu không có Thanh-Nghệ-Tĩnh thì không có chiến dịch Điện Biên Phủ, không có thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp”. Riêng mảnh đất Quân khu 4, chủ yếu là vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã huy động 250.000 dân công với hơn 11.000 xe đạp thồ đã vận chuyển 15.000 tấn gạo, hơn 400 tấn thực phẩm, hàng trăm tấn đạn, pháo, quân trang… chi viện cho chiến trường.

 Những người quanh năm chỉ quen với đồng áng như bác Cao Văn Tỵ nhưng với chiếc xe đạp thô sơ đã trở thành phương tiện hiệu quả góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ như một “thiên sử vàng” huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Hiện nay, chiếc xe đạp thồ đang được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4, là minh chứng sinh động về trí thông minh, sáng tạo của người dân công năm xưa./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ TRƯỞNG QUÂN ĐỘI PHÁP “KHÉP LẠI QUÁ KHỨ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI”!!

     Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng đánh giá chuyến thăm của Bộ trưởng Quân đội Pháp Sebastien Lecornu có ý nghĩa quan trọng, minh chứng cho tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp”!

Nhận lời mời của Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Quốc phòng, đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội Pháp do ông Sebastien Lecornu, Bộ trưởng Quân đội làm trưởng đoàn có chuyến thăm chính thức Việt Nam.

Sáng 5/5, hai Bộ trưởng đã có buổi hội đàm. Đại tướng Phan Văn Giang chào mừng Bộ trưởng Sebastien Lecornu và đoàn thăm chính thức Việt Nam. Chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng, góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, là minh chứng cho tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp”, vì sự hợp tác phát triển giữa hai nước, hai dân tộc.

Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá cao quan hệ giữa Việt Nam và Pháp, đối tác có nhiều gắn kết về lịch sử, văn hoá và con người Việt Nam. Hai nước chia sẻ nhiều quan điểm, lợi ích trong việc duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và thế giới trên cơ sở tôn trọng lợi ích của tất cả quốc gia và luật pháp quốc tế.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam khẳng định đây là tiền đề thuận lợi để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước. Kể từ khi nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược (9/2013), quan hệ Việt Nam - Pháp đã phát triển cả về bề rộng và chiều sâu, đa dạng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác quốc phòng.

Hợp tác quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực, nổi bật như trao đổi đoàn; các cơ chế đối thoại, tham vấn; đào tạo; công nghiệp quốc phòng, thương mại quân sự; an ninh biển; quân y; khắc phục hậu quả chiến tranh và ký ức lịch sử; gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; tham vấn, ủng hộ nhau tại diễn đàn, cơ chế đa phương, nhất là các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.

Về phương hướng hợp tác, Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị hai bên tiếp tục nỗ lực thúc đẩy hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu vì hòa bình, ổn định, phát triển chung của khu vực và thế giới, tương xứng với quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam - Pháp.

Trọng tâm các lĩnh vực hai bên cần tăng cường hợp tác về đào tạo, gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc; thúc đẩy hợp tác về quân y, thuỷ đạc, trang bị quốc phòng, an ninh biển, trao đổi chiến lược, ký ức lịch sử và khắc phục hậu quả chiến tranh; phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại diễn đàn đa phương.

Người đứng đầu Bộ Quốc phòng đã đề nghị hai bên tích cực trao đổi để sớm đạt được thống nhất về Chương trình hợp tác quốc phòng Việt - Pháp trong giai đoạn từ 2025 - 2028.

Bộ Quốc phòng Việt Nam sẵn sàng tiếp nhận quân nhân Pháp sang Việt Nam tham dự Khóa Quan chức quốc phòng quốc tế tại Học viện Quốc phòng và các khóa tiếng Việt tại Học viện Khoa học Quân sự.

Về phần mình, Bộ trưởng Sebastien Lecornu nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của chuyến thăm. Ông nêu bật tầm quan trọng hợp tác chia sẻ ký ức lịch sử, khắc phục hậu quả chiến tranh giữa hai nước. Bộ trưởng bày tỏ mong muốn hai bên tiếp tục nỗ lực thúc đẩy hợp tác quốc phòng ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả, tương xứng với quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp.

Tại hội đàm, hai bên đã trao đổi về tình hình thế giới và khu vực.

Ngày 7/5, Bộ trưởng Quân đội Pháp sẽ có một số hoạt động tại tỉnh Điện Biên và tham dự lễ kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Bộ trưởng Quân đội Pháp sẽ thăm những địa điểm lịch sử và dự kiến gặp các cựu chiến binh Việt Nam cũng như Pháp.

Cũng trong sáng nay, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã hội kiến bà Patricia Miralles, Quốc vụ khanh phụ trách Cựu chiến binh và Ký ức của Pháp.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đề nghị thời gian tới, hai bên nghiên cứu, tập trung thúc đẩy các nội dung trong lĩnh vực chia sẻ ký ức chiến tranh như: Sưu tầm tài liệu, tư liệu lịch sử để biên soạn tài liệu giáo dục lịch sử, trao đổi thông tin và kỷ vật chiến tranh, tổ chức hội thảo chung về đề tài lịch sử...

Còn bà Patricia Miralles chia sẻ nội dung hợp tác chia sẻ ký ức chiến tranh; cảm ơn phía Việt Nam đã mời Bộ trưởng Quân đội Pháp và bà sang thăm Việt Nam./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÝ DO RA ĐỜI SÁNG TÁC BÀI HÁT "GIẢI PHÓNG ĐIỆN BIÊN"!

     Trong nhiều ca khúc bất tử hát về tinh thần chiến đấu bất khuất ngoan cường trong cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, Giải phóng Điện Biên là khúc ca xuyên thế kỷ. 70 năm là quãng thời gian khá dài để nhân gian có thể quên nhiều thứ, nhưng Giải phóng Điện Biên luôn sống mãi trong lòng người Việt!
Nhạc phẩm Giải phóng Điện Biên của nhạc sĩ Đỗ Nhuận từ lâu đã trở thành tượng đài bằng âm thanh, một bản hùng ca bất hủ. 

Mùa xuân 1954, nhạc sĩ Đỗ Nhuận - Trưởng đoàn văn công Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đoàn lên Tây Bắc tham gia "Chiến dịch Trần Đình" (mật danh của chiến dịch Biện Biên Phủ). Chiến dịch rất quyết liệt, kéo dài nên không được phép tập trung đông người để xem biểu diễn. Đoàn phải phân tán thành từng tốp từ 3 đến 5 diễn viên xuống tận chiến hào, vào từng hầm cấp cứu thương binh để biểu diễn phục vụ bộ đội, dân công. Không chỉ là nghệ sĩ, mỗi ca sĩ, nhạc công... đều là chiến sĩ thực thụ. Từ Trưởng đoàn đến diễn viên đều tham gia làm đường, tải đạn, lương thực, thực phẩm cho các đơn vị chiến đấu với tinh thần "Tất cả để chiến thắng".

Cuộc chiến kéo dài tới ngày thứ 50. Sáng hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận cùng anh chị em văn công đang san lấp hố bom dọc đường, gặp một cán bộ tuyên huấn mặt trận tìm đến. Với giọng nói đầy lạc quan, anh nói với nhạc sĩ Đỗ Nhuận như để mọi người cùng nghe: "Thắng đến nơi rồi. Đỗ Nhuận phải sáng tác một ca khúc mừng chiến thắng, kẻo không đuổi kịp cánh lính bộ binh xung kích đó...".

Đêm hôm ấy, nhạc sĩ Đỗ Nhuận ôm cây đàn ghi-ta bập bùng tìm giai điệu, tiết tấu và ca từ và rồi bỗng nhiên anh nẩy ra ca từ: "Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về, giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui...". Và, từ ấy hình ảnh và cảnh quan Tây Bắc cứ như một cuốn phim hiện lên trong ca từ của Đỗ Nhuận: "Bản mường xưa nương lúa mới trồng, kìa đoàn em bé giữa đồng nắm tay xoè hoa" (vũ điệu dân gian của đồng bào Thái)...

Trong một buổi gặp gỡ với báo giới, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tâm sự: "Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi làng xóm đều hân hoan một niềm vui vô tận. Nhưng niền vui của cả dân tộc là vĩ đại, bởi đã giành được chiến thắng vinh quang trước kẻ thù. Trước hào quang toàn thắng, lòng tôi trào đang một niềm vui. Chân gõ nhịp để tìm tiết tấu và ca từ mà như muốn nhảy lên, reo lên: "Ấy biết bao sướng vui, từ ngày lên Tây Bắc, đồng bào nao nức mong đón ta trở về...". Khi say mê là thế, khi thanh thản tỉnh táo, tôi ý thức rằng giai điệu dân ca quan họ Bắc Ninh đã thấm đậm trong tâm hồn tôi tự bao giờ. Giai điệu ấy bắt nguồn từ bài dân ca quan họ Bắc Ninh: "Ai xui lúa chín". Trong bài dân ca đó có câu: "Ấy mấy em nhớ ai, kia là ba bốn nhớ, ấy mấy ba bốn nhớ, chín mười chờ...". Sở dĩ tôi viết thêm ca từ thứ hai là bởi giá trị lịch sử của nó. Trước khi mở màn chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ta chủ trương: "Đánh nhanh giải quyết nhanh" trong ba bốn ngày là xong. Sau khi nghiên cứu lại tình hình bố phòng của giặc Pháp, chúng đã xây dựng cộng sự vững chắc, hoả lực mạnh, ta không thể tốc chiến tốc thắng được"".

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã sáng tác ba nhạc phẩm: Hành quân xa, Chiến thắng Him Lam và Giải phóng Điện Biên trong không gian chiến tranh đầy quyết liệt và thời gian chưa đầy hai tháng, quả là một kỷ lục hiếm có. Vì vậy, năm 1996 ông đã được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) với những nhạc phẩm xuất sắc như: Nhớ chiến khu, Du kích sống Thao, Việt Nam quê hương tôi...
Yêu nước ST.

 

"Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", bản anh hùng ca lịch sử

Trong công cuộc dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những chiến thắng trở thành dấu mốc lịch sử kỳ vĩ và thiêng liêng. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một “vành hoa đỏ”, một “thiên sử vàng” kết thúc vẻ vang 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

 Điện Biên chiến thắng, Điện Biên thơ

 Điện Biên gọi

Lịch sử lật sang nhiều trang mới, Chiến thắng Điện Biên Phủ lùi xa tới 70 năm (1954-2024); kẻ thù, đối thủ của nhau năm xưa đã trở thành bạn bè đối tác bây giờ, đấy là điều rất mừng. Nhưng vẫn không cho phép ai được lãng quên quá khứ bi tráng ấy vì đó là di sản yêu nước của dân tộc, là sự biết ơn của thế hệ sau với cha anh và cũng là bài học thấm thía cho hôm nay và hậu thế.

Điện Biên Phủ gắn với sự lãnh đạo của Đảng, tên tuổi Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp trong hai tiếng Việt Nam đã đi vào không ít công trình nghiên cứu lịch sử, khoa học và các tác phẩm văn học-nghệ thuật gồm nhiều thể loại. Trong đó, thơ ca cũng góp phần khắc tạc tượng đài Điện Biên Phủ mà bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" là một tác phẩm tiêu biểu nhất. Thi phẩm này mang trong nó hàm lượng của một bản anh hùng ca vừa đậm chất sử thi, vừa có tính trữ tình được kết bện rất nhuần nhuyễn nên đi sâu vào lòng người nhiều thế hệ.

 Nhà thơ Tố Hữu và vợ năm 1965. Ảnh tư liệu

Đó là một trong những tác phẩm mang đậm phong cách sáng tác của Tố Hữu; chính trị mà trữ tình, trữ tình mà chính trị; thơ vừa đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền cách mạng, vừa bám sát hiện thực chiến đấu, lao động của bộ đội và nhân dân với dấu ấn riêng không lẫn về nghệ thuật thi ca. Cần nói thêm, thơ Tố Hữu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nghiêng về sự ngợi ca, chất hào hùng chiếm lĩnh trong nhiều thi phẩm và nó đã có sức lan tỏa, ảnh hưởng sâu rộng tới công chúng cùng nhiều người làm thơ khác. Tuy nhiên, ta rất cần phải soi chiếu thơ ông trong ánh sáng và bóng tối của lịch sử, của thời cuộc mà cốt lõi của nó không gì khác là lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

Âm hưởng bao trùm của bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" là chiến thắng. Trước tiên, trước hết nó là tiếng reo vui tưng bừng của dân tộc khi quân ta đã toàn thắng ở Điện Biên Phủ. Tin báo tiệp dội về từ lòng chảo Mường Thanh khi lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries vào chiều 7-5-1954: Nghe trưa nay, tháng năm mồng bảy/ Trên đầu bay, thác lửa hờn căm!/ Trông: Bốn mặt, lũy hầm sụp đổ/ Tướng quân bay lố nhố cờ hàng/ Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng/ Rực trời đất Điện Biên toàn thắng...

Toàn thắng! Điện Biên toàn thắng. Trong thời khắc ấy, với quân và dân ta thì chẳng có niềm vui nào sánh bằng niềm vui Chiến thắng Điện Biên Phủ. Niềm vui như sóng cuộn triều dâng, sự ngất ngây chỉ đo được bằng đất trời cao rộng bao la, tiếng reo, nụ cười hòa trộn nước mắt chiến sĩ, đồng bào. Rồi ta sẽ nói, nói sau một chút sự hy sinh không kể xiết của nhân dân Việt Nam, của người lính Cụ Hồ trong cuộc trường chinh kéo dài non một thập kỷ đầy cam go, nguy hiểm, không hiếm khúc đoạn chênh vênh, éo le.

Từ tiếng bom ba càng vang lên trên chiến lũy ở Hà Nội vào mùa đông 1946, đến dư âm Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947, Biên giới 1950, Hòa Bình 1951, Đông Xuân 1951-1952, Tây Bắc 1952 và cuối cùng là cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ. Thế thì làm sao không vui đến trào nước mắt được, không tự hào được: Kháng chiến ba ngàn ngày/ Không đêm nào vui bằng đêm nay/ Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực/ Trên đất nước, như huân chương trên ngực/ Dân tộc ta, dân tộc anh hùng...

Niềm vui bất tuyệt, niềm tự hào to lớn đó bật ra tiếng reo của một người, của muôn người, của cả dân tộc anh hùng và tỏa lan ra bốn biển năm châu: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên/ Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp/ Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!/ Vinh quang Tổ quốc chúng ta/ Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa/ Vinh quang Hồ Chí Minh, Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi/ Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại!

Và, không thể khác được, tiếng reo mừng "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" được nhắc lại như lời lĩnh xướng cho bản hùng ca Điện Biên vang dội. Đây là một Điện Biên nhìn gần, Điện Biên của chiến hào, của trận địa, của những ngày gian khổ nhất, ác liệt nhất, hy sinh nhất, Điện Biên của lòng dũng cảm, của máu thấm đỏ dốc Pha Đin, đèo Lũng Lô, lòng chảo Mường Thanh..., của bài ca bất tử cất lên từ sự dâng hiến cao cả cho Tổ quốc, vì Tổ quốc của bao sinh thể thanh xuân. 

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên/ Chiến sĩ anh hùng/ Đầu nung lửa sắt/ Năm mươi sáu ngày đêm, khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt/ Máu trộn bùn non/ Gan không núng/ Chí không mòn... Đấy là bức tranh phác họa chung có tên chiến sĩ Điện Biên. Có thể đó là chiến sĩ pháo binh, chiến sĩ xung kích, chiến sĩ thông tin, chiến sĩ công binh, chiến sĩ quân y, chiến sĩ văn công và cả những nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ... mang áo lính nữa. Tất cả có chung năm mươi sáu ngày đêm máu lửa, mưa dầm. Những anh hùng dũng sĩ có tên tuổi cụ thể như Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót... vào thơ trở thành biểu tượng Điện Biên.

Nhà thơ Tố Hữu với văn nghệ sĩ ở Trường Sơn. Ảnh tư liệu 

Họ không phải là một, là số ít mà thuộc số nhiều, số đông, là Quân đội ta, là nhân dân ta, ai cũng có thể trở thành anh hùng dũng sĩ khi đối mặt với kẻ thù xâm lược. Những đồng chí thân chôn làm giá súng/ Đầu bịt lỗ châu mai/ Băng mình qua núi thép gai/ Ào ào vũ bão,/ Những đồng chí chèn lưng cứu pháo/ Nát thân, nhắm mắt, còn ôm.../ Những bàn tay xẻ núi lăn bom/ Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện./ Và những chị, những anh, ngày đêm ra tiền tuyến/ Mấy tầng mây, gió lớn mưa to/ Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ/ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát/ Dù bom đạn, xương tan thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh... Trong cảm nhận của riêng tôi, đây là đoạn thơ ấn tượng nhất, hay nhất của thi phẩm "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên". Bởi nó nói lên được cái đáng nói nhất về Chiến thắng Điện Biên Phủ. Cái giá của một chiến thắng vĩ đại được đo bằng mồ hôi, xương máu của chiến sĩ và đồng bào ta. Vì thế nó muôn đời là vô giá. Cũng như độc lập, tự do dân tộc là vô giá, hòa bình thống nhất non sông là vô giá, hạnh phúc nhân dân là vô giá. Đừng ai, đừng bao giờ quên điều đó.

Bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", Tố Hữu viết vào tháng 5-1954. Như vậy, mặc nhiên tác phẩm mang trong nó những yếu tố thời sự nhất định. Trong bài thơ có đề cập đến danh tính của Ngoại trưởng Pháp (Bidault) và Thứ trưởng ngoại giao Mỹ (Smith), những người có mặt trong Hội nghị Geneva năm 1954 cùng với đồng chí Phạm Văn Đồng. Tôi nghĩ đây là một đoạn thơ thú vị dù rằng mới đọc qua ta thấy nó có vẻ thời sự quá, không nhiều chất thơ lắm.

Cái thú vị cũng là cái hay để bài thơ nâng tầm vóc lên khi Tố Hữu nói về bài học Việt Nam từ Điện Biên Phủ: ...Tổ quốc chúng tôi/ Muốn độc lập, hòa bình trở lại/ Không muốn lửa bom đổ xuống đầu con cái/ Nước chúng tôi và nước các anh./ Nếu còn say máu chiến tranh/ Ở Việt Nam, các anh nên nhớ/ Tre đã thành chông, sông là sông lửa./ Và trận thắng Điện Biên/ Cũng mới là bài học đầu tiên! Bài học này không phải đến Chiến thắng Điện Biên Phủ mới có mà nó đã được minh chứng hùng hồn qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đầm đìa mồ hôi, nước mắt và máu xương của dân tộc Việt Nam.

Công viên văn hóa và Khu lưu niệm nhà thơ Tố Hữu tại thôn Tân Xuân Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ảnh: ĐIỀN QUANG 

Thế mà, có những thế lực hùng mạnh nhưng tham lam vẫn không chịu học bài học từ Điện Biên Phủ, từ Việt Nam để gây ra cuộc chiến tranh kéo dài hơn hai mươi năm nữa trên đất nước này. Giá như, ngày ấy, chiến tranh Việt Nam chỉ dừng lại ở Điện Biên Phủ, ở Hội nghị Geneva năm 1954 thì Mỹ và Việt Nam không phải tốn bao xương máu như thế.

Bài học từ Điện Biên Phủ là bài học hòa bình. Hòa bình cho một dân tộc và cho cả nhân loại. Hòa bình cho hôm nay và mai sau. Từ chiến tranh, qua chiến tranh, không ai thấu hiểu giá trị của hòa bình như dân tộc Việt Nam. Cho nên trân trọng, nâng niu, gìn giữ hòa bình là phương châm ứng xử lâu dài của dân tộc ta. Vì thế, sau khi dẹp tan giặc ngoại xâm, nhân dân ta lại ngỏ lời muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Hòa bình để tồn tại, mới tồn tại. Hòa bình mới có hạnh phúc, đó là điều nhân loại không thể quên.

Trong một thế giới đang có nhiều xung đột hay chiến tranh như hiện nay thì bài học về hòa bình không bao giờ là cũ. Trong Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 có bài học về hòa bình. Bài học đầu tiên và bài học cuối cùng của nhân loại sẽ đồng hành với dư âm Điện Biên Phủ-Việt Nam bằng khát vọng hòa bình bay cao, bay xa...

 

Tư duy chiến lược của Đảng và Bác Hồ

Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể: "Trước khi bắt đầu trận Điện Biên Phủ, tôi phải đi Geneva dự hội nghị quốc tế về Việt Nam. Lúc ra đi, Bác nói với tôi: "Mình có một món quà rất quý tặng chú". Đúng, món quà đó thật là vô giá bởi Chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngày 7-5-1954 thì hôm sau, ngày 8-5-1954, Hội nghị Geneva khai mạc. Đây là ngẫu nhiên hay tất yếu? Trong lịch sử, lắm khi ngẫu nhiên là tất yếu, và Bác Hồ là người cực kỳ nhạy cảm với cái ngẫu nhiên là tất yếu và cái tất yếu là ngẫu nhiên này".

 Tại sao Bác Hồ được gọi là nhà tiên tri?

 Bí quyết cầu hiền tài của Bác Hồ

Phép dùng binh phải “thiên biến vạn hóa”

Sau 8 năm xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã bị suy yếu rõ rệt: Thiệt hại gần 390.000 quân, tiêu tốn 2.000 tỷ Franc, liên tục bị ta đẩy vào thế bị động chiến lược. Trước sự sa lầy của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương, thúc ép Pháp phải kéo dài và mở rộng chiến tranh. Để tìm lối thoát, thực dân Pháp đã tranh thủ sự viện trợ của Mỹ để đẩy mạnh chiến tranh, cố tìm một thắng lợi quân sự nhằm “rút lui trong danh dự”. Ngày 7-5-1953, với sự thỏa thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Navarre sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương và thông qua Kế hoạch Navarre gồm hai bước với hy vọng sẽ “chuyển bại thành thắng” trong vòng 18 tháng.

Để triển khai kế hoạch, Navarre huy động lực lượng cơ động lên đến 84 tiểu đoàn trên toàn chiến trường Đông Dương, trong đó ở Đồng bằng Bắc Bộ có 44 tiểu đoàn, tiến hành những cuộc càn quét, bình định, mở những cuộc tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa...

Về phía ta, đầu tháng 10-1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên diễn ra cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp... dự hội nghị. Bộ Chính trị quyết định: Giữ vững thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Tập trung lực lượng, mở những cuộc tấn công vào các hướng địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một phần sinh lực, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta. Phương châm chiến lược: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, đánh ăn chắc và tiến ăn chắc.

Kết thúc cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: Tổng Quân ủy phải có một kế hoạch lâu dài về mọi mặt để đối phó với kẻ địch trên chiến trường toàn quốc, sau đó phải có kế hoạch đẩy mạnh những hoạt động du kích tại Đồng bằng Bắc Bộ. Về hoạt động, lấy hướng Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải “thiên biến vạn hóa”.

Tại hội nghị ở Tỉn Keo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và cả trong kế hoạch của Navarre đều chưa xuất hiện cụm từ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quyết định sáng suốt của Trung ương Đảng ta là tiến lên Tây Bắc để căng địch ra, bắt chúng phải bị động đối phó với ta, như vậy đã tạo tiền đề đầu tiên cho Điện Biên Phủ.

Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại, khi nghe đồng chí trình bày về tình hình quân địch từ tháng 5 đến tháng 10-1953, Bác ngồi họp với thái độ bình thản, điếu thuốc lá kẹp giữa hai ngón tay duỗi thẳng. Đôi mắt Người lộ vẻ chăm chú. Bàn tay Bác đặt trên bàn, bỗng giơ lên và nắm lại. Người nói: Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh. Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn. Rồi bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng...

"Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền"

Giữa tháng 11-1953, ta tiến quân theo hướng Tây Bắc và Trung Lào. Thực dân Pháp phát hiện thấy sự chuyển quân của ta; ngày 20-11-1953, Navarre cho 6 tiểu đoàn cơ động nhảy dù xuống Điện Biên Phủ nhằm bảo vệ Tây Bắc và Thượng Lào. Khi đó ta đang có 1 đại đội đóng ở đây. Trước sức tấn công áp đảo của địch, đại đội của ta chiến đấu ngoan cường nhưng phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

Ngày 10-12-1953, quân ta tấn công và giải phóng thị xã Lai Châu, bao vây Điện Biên Phủ. Navarre buộc phải điều thêm 6 tiểu đoàn ở Đồng bằng Bắc Bộ lên tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến đây thành nơi tập trung quân thứ hai của Pháp. Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch đánh bại địch ở Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, phải hoàn thành cho kỳ được.

Hội nghị Bộ Chính trị quyết định chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Ảnh tư liệu 

Điện Biên Phủ có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng và thật trùng hợp khi cả hai phía đều coi đây là điểm quyết chiến chiến lược và cùng chấp nhận cuộc chiến đấu. Ngày 20-1-1954, khi một viên tướng Pháp ngạo mạn tuyên bố: Thách Tướng Giáp giao chiến ở Điện Biên Phủ, thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không quyết định tấn công ngay, mà gấp rút chuẩn bị mọi mặt để tạo thành thế trận bao vây, bảo đảm chắc thắng mới đánh. Và ở tận Việt Bắc xa xôi, Bác Hồ cũng đã ung dung giải thích với một nhà báo nước ngoài về thế trận Điện Biên Phủ. Người lật ngược chiếc mũ cát đặt trên bàn, đưa ngón tay theo vành mũ mà nói: "Đây là núi, chúng tôi đang ở đây. Còn phía dưới (Người đặt tay xuống đáy mũ) là thung lũng Điện Biên Phủ, quân Pháp ở đấy. Chúng không thể thoát ra khỏi đây được...".

Ngày 22-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ Quyết chiến quyết thắng cho Quân đội, động viên các đơn vị thi đua giết giặc lập công, hoàn thành cho kỳ được Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận. Giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh, trước khi ra mặt trận, Bác nói: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền”. Khi chia tay, Bác nhắc: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng; chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”.

Chính sự tin tưởng tuyệt đối của Bác Hồ mà sau một đêm thức trắng suy nghĩ với nắm ngải cứu trên đầu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy” là “kéo pháo ra”, thay đổi phương châm tác chiến đã thống nhất trong Đảng ủy Mặt trận và đoàn cố vấn Trung Quốc từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Cho dù với sự thay đổi ấy, hàng vạn quân và dân ta phải áp dụng một hình thức tác chiến mới, khó khăn, gian khổ hơn nhiều, nhưng cũng đỡ tổn hao xương máu hơn và giành chiến thắng.

Món quà vô giá

Ngày 11-3-1954 (trước khi quân ta nổ súng tấn công Him Lam hai ngày), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các chiến sĩ Mặt trận Điện Biên Phủ. Người căn dặn: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn, nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới”.

Bức điện ngày 15-3-1954 của Trung ương Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ và chiến sĩ ở Mặt trận Điện Biên Phủ, đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Chiến dịch Điện Biên Phủ: “Bác và Trung ương Đảng được báo cáo về hai trận thắng đầu tiên của Quân đội ta ở Điện Biên Phủ. Bác và Trung ương Đảng có lời khen các đồng chí. Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của Quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng...”.

Trải qua 3 đợt chiến đấu gay go, gian khổ, sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, Quân ta đã làm nên chiến thắng lẫy lừng. Thực dân Pháp cùng bọn can thiệp Mỹ thất bại hoàn toàn. Toàn thể bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm do tướng De Castries cầm đầu đã bị bắt sống, hơn một vạn sáu nghìn tên địch bị chết hoặc bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là trận đánh tiêu diệt và bắt sống quân viễn chinh xâm lược lớn nhất và gọn nhất của Quân đội ta. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của quân và dân ta.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi của quân và dân ta về quân sự, mà đó còn là món quà vô giá góp phần vào thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Thủ tướng Phạm Văn Đồng kể: "Trước khi bắt đầu trận Điện Biên Phủ, tôi phải đi Geneva dự hội nghị quốc tế về Việt Nam. Lúc ra đi, Bác nói với tôi: "Mình có một món quà rất quý tặng chú". Đúng, món quà đó thật là vô giá bởi Chiến thắng Điện Biên Phủ vào ngày 7-5-1954 thì hôm sau, ngày 8-5-1954, Hội nghị Geneva khai mạc. Đây là ngẫu nhiên hay tất yếu? Trong lịch sử, lắm khi ngẫu nhiên là tất yếu, và Bác Hồ là người cực kỳ nhạy cảm với cái ngẫu nhiên là tất yếu và cái tất yếu là ngẫu nhiên này".

Thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bắt đầu

Mười năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ý nghĩa to lớn của chiến thắng: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”. 

Sau ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày, trong thư gửi bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc, Bác Hồ đã hình dung ta còn phải chiến đấu lâu dài mới giành được thắng lợi cuối cùng: “Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ. Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang. Thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”.

Đúng như Bác dự đoán, trước dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, nhân dân ta còn phải làm cuộc trường chinh kháng chiến 21 năm nữa, cho đến Đại thắng mùa Xuân 1975, non sông mới thu về một mối, đất nước mới hoàn toàn độc lập, tự do.

 

Phê phán thói vô cảm, “vì dân suông” của một bộ phận cán bộ, đảng viên

Một trong những biểu hiện suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: “Không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân”; “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Không chỉ vậy, một số cán bộ, đảng viên thời nay còn có biểu hiện mị dân, “vì dân suông”, từ đó tạo khoảng cách với dân, gây mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, chúng ta phải đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện vô cảm, “vì dân suông” để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành, mẫn cán, thật sự vì dân, vì nước.

Tinh vi những biểu hiện mị dân, “vì dân suông”

Phê phán thói tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, dân ta có câu ca dao: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín, kẻ cười người chê”. Hàm ý sâu sắc hơn, câu ca dao muốn nhắn nhủ, nhắc nhở con người phải luôn coi trọng giữ gìn chữ “tín”, nói đi đôi với làm; còn nếu ai mà nói nhiều hơn làm, dù làm chỉ kém nói một chút thôi thì cũng đáng coi thường, chê trách.

Phê phán thói vô cảm, “vì dân suông” của một bộ phận cán bộ, đảng viên
 Ảnh minh họa: Dân trí 

Thời nay, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện chỉ nói mà không làm, chỉ hứa rồi để đấy, chỉ thề thốt mà không hành động, người dân gọi đó là những kẻ nói suông, hứa suông, thề suông.

Cách đây 8 năm, ngày 27-5-2016, phát biểu tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ cảnh báo một số cán bộ, đảng viên có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến, không học hỏi người lao động, mà còn có biểu hiện “vì dân suông”, tức là chỉ nói mà không làm, hay hô hào, kêu gọi vì dân, nhưng lại không có những việc làm cụ thể, thiết thực để mang lại quyền, lợi ích chính đáng cho nhân dân.

Những biểu hiện “vì dân suông” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra khá tinh vi. Có cán bộ gần dân mà vẫn không hiểu lòng dân. Những cán bộ này tuy đến với dân, nhưng chỉ tuyên truyền, vận động, giải thích cho dân theo ý chỉ đạo áp đặt của mình mà không thành tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân. Giả sử nếu có lắng nghe thì cũng “nghe để biết”, nhưng thực chất là bỏ ngoài tai, không tìm cách giải quyết thấu đáo những ý kiến, băn khoăn, vướng mắc của dân và cả những mong muốn chính đáng của bà con. Trong cuộc tiếp xúc cử tri ngày 14-10-2023 tại Hà Nội trước kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở cán bộ, đảng viên nói chung, đại biểu Quốc hội và HĐND nói riêng cần khắc phục bệnh hình thức, khi tiếp xúc, đối thoại với dân thì phải “tuyệt đối tránh tình trạng hình thức, ngồi ra vẻ chú ý lắng nghe nhưng lại không nghe”.  

Ngoài ra còn có những cán bộ tuy bề ngoài gần dân mà thực chất lại sống xa dân. Số cán bộ này khi gặp dân thì vẫn “mồm năm miệng mười”, cố gắng không làm mếch lòng người khác, nhưng bản thân và gia đình lại có một cuộc sống biệt lập, khác xa người dân. Nhờ các mối quan hệ “bôi trơn” và biết kiếm chác mà họ có nhà to, xe đẹp, thu nhập khủng, gia đình ung dung hưởng thụ một cuộc sống đề huề trong nhung lụa, mặc cho bao người dân lao động vẫn quanh năm tảo tần, lam lũ vì miếng cơm, manh áo. Với họ, tiếp xúc với dân chỉ là nghĩa vụ đơn thuần chứ không thực sự tâm huyết với dân, chung sức đồng lòng gánh vác bao nỗi lo toan hằng ngày của người dân. Bởi nếu thương yêu quần chúng cần lao, họ đâu lợi dụng kẽ hở pháp luật, đục nước béo cò để nhăm nhăm vun vén lợi lộc cho cá nhân, cốt để vinh thân phì gia. 

Điều đáng nói, những động thái “vì dân suông” thường được bao bọc một lớp hào nhoáng, tinh vi mà không phải người dân nào cũng dễ nhận diện. Hơn nữa, để dễ bề che mắt thiên hạ, bên ngoài thì bao giờ họ cũng đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) và luôn chủ định làm một vài việc bề nổi nào đó nhằm vừa tránh bị mang tiếng là không thân thiện với dân, vừa phần nào lấy lòng dân. Suy cho cùng, một khi cán bộ coi việc gần dân chỉ là tấm bình phong, là màn kịch để che giấu những mục đích, động cơ thiếu trong sáng của mình thì đó là một thứ gần dân hình thức, giả dối, thực chất là mị dân.

Tác hại của thói vô cảm, “vì dân suông”

Thói vô cảm, “vì dân suông” là một trong những biểu hiện suy thoái đáng báo động đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đề cập vấn đề này, Đảng ta cho rằng, trong điều kiện hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về quan điểm quần chúng, về quyền làm chủ của nhân dân cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục.

Sau khi Liên Xô vừa sụp đổ, một số học giả nước này đã làm cuộc điều tra xã hội học rất đáng suy ngẫm. Trong phiếu điều tra, trả lời câu hỏi “Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai?", thì có tới 85% ý kiến cho là đại diện của giới cán bộ quan chức nhà nước quan liêu, chỉ có 11% cho là đại diện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Một đảng cộng sản cầm quyền mà tỷ lệ giới chức quan liêu, xa rời quần chúng, vô cảm với dân lớn đến mức nghiêm trọng như vậy, thế nên lúc gặp sóng gió không được nhân dân ủng hộ và bị các thế lực khác tước quyền lãnh đạo cũng không có gì khó hiểu!

Đâu chỉ có chuyện cán bộ sống quan liêu, “vì dân suông” xảy ra bên Liên Xô, mà ngay ở nước ta cũng cần nhắc lại vụ việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm, sống xa dân nên để lại một bài học xương máu về mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Năm 1997, một bộ phận không nhỏ nông dân tỉnh Thái Bình tụ tập đông người phản đối cấp ủy, chính quyền có nguyên nhân chủ yếu là do quyền làm chủ của người dân đã bị vi phạm nghiêm trọng, chính quyền cơ sở huy động quá sức dân, thậm chí lạm thu nhiều khoản bất chính, trong khi đó một số cán bộ chủ chốt ở địa phương giàu lên một cách bất minh và lại có lối sống xa hoa, kệch cỡm, nên càng gây bất bình trong nhân dân. Sau sự kiện đáng buồn này đã có hơn 2.000 cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, hơn 70% số tổ chức cơ sở đảng phải thay từ một nửa đến hai phần ba cấp ủy. 

Nhắc lại những ví dụ nêu trên để thấy rằng, quần chúng nhân dân nhìn nhận, đánh giá Đảng chủ yếu là thông qua phẩm chất, tư cách, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nói quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng không phải là giảm sút lòng tin đối với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, mà là đối với những cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, hư hỏng và không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, chỉ biết lo vun vén lợi lộc cho bản thân, gia đình mà không có hành động thiết thực để góp phần chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Cán bộ, đảng viên cần trọng dân thực tâm, chăm lo cho dân thật lòng

Từ những thăng trầm, hưng vong của các vương triều phong kiến Việt Nam trong lịch sử, từ những thành bại trong việc huy động lòng dân, phát huy sức dân trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha đã đúc kết những lời thấm thía và trở thành bài học nhắc nhở muôn đời cho con cháu hôm nay và mai sau, đó là: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi); “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” (Trần Hưng Đạo); nước phải lấy dân làm gốc, vì “Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh).

Cách đây 12 năm, ngày 7-6-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Quy định số 101-QĐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, đã quy định 7 nội dung cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, trong đó có 2 nội dung liên quan đến ý thức, tác phong, phong cách ứng xử của cán bộ với nhân dân, gồm: “Nêu gương về tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng”; “Nêu gương về ý thức phục vụ nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân”. Thực chất của những quy định này là yêu cầu cán bộ, đảng viên không vô cảm, không “nói suông” với nhân dân, không sống xa dân.

Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thời nay phải khắc cốt ghi tâm lời Bác Hồ chỉ dẫn: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Nếu cấp ủy đảng, chính quyền nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng mà cứ phải tất ta tất tưởi “chạy ngược chạy xuôi” bởi lòng dân phân tâm, ly tán thì nguy cơ tan rã niềm tin của dân với Đảng, với chế độ ta là khó tránh khỏi. Đó là bài học không thể xem thường.

Muốn được lòng dân thì cán bộ, đảng viên phải thực tâm nói đi đôi với làm, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, tuyệt đối tránh những biểu hiện vô cảm, mị dân, “vì dân suông”. Khi được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, nhất định khối sức mạnh đại đoàn kết toàn dân sẽ được củng cố, tăng cường và trở thành sức mạnh dời non lấp biển, từ đó chúng ta có thể đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam”.