- Hiện nay, với những gì đã làm được đối với các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) trước đây, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu xuyên xuốt và lâu dài của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thủ tiêu thành quả cách mạng, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân đang xây dựng, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa có lợi cho chúng. Để đạt mục tiêu đó, chúng điều chỉnh sử dụng chiến lược tổng hợp trên các mặt trận, các lĩnh vực, các phương thức, thủ đoạn hết sức hiểm độc, chủ yếu là “phi vũ trang”, “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chính vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật thâm độc này để có giải pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả
- Chiến lược “diễn biến hòa bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị.
- Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, văn hóa coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch thông qua “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện ở các hoạt động cụ thể:
- Một là, phê phán, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các thế lực cho rằng chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỉ XIX, nay đã lạc hậu, không còn phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và văn hóa nước ta, chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời. Từ đó chúng phê phán tư tưởng Hồ Chí Minh là “cóp nhặt” … mà không công nhận đó sự vận dụng sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa và phát triển các trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, kết hợp hài hòa các giá trị khoa học, văn hóa của cả phương Đông và phương Tây trong tư tưởng cách mạng của Người.
- Hai là, đánh tráo khái niệm, xuyên tạc thành quả cách mạng của nhân dân. Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động; là ngọn đuốc soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách trong quá trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ấy thế mà, các thế lực thù địch cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tiếp thu một cách thụ động “mù quáng” chủ nghĩa Mác-Lênin chứ không hề có sự sáng tạo; vu cáo cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc của nhân dân ta thực chất chỉ là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”… Tất các luận điệu trên đều nhằm mục đích phủ nhận tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng của Nhân dân.
- Ba là, tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong lúc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước đang diễn ra quyết liệt, đã có không ít cán bộ, đảng viên cấp cao bị xử lý kỷ luật. Các thế lực thù địch đã xoáy sâu vào đó để thổi phồng những khuyết điểm, sai phạm của một số cá nhân đảng viên, qua đó chụp mũ, gán cho Đảng những thói hư tật xấu như: “tham lam”, “thoái hóa biến chất”, “đổ nát”… nhằm tạo ra nhận thức sai lệch, hoài nghi, dao dộng, chia rẽ trong nội bộ nhân dân, trong Đảng, và giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và các lực lượng vũ trang. Bên cạnh đó, chúng đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chúng lên tiếng cho rằng ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị” và đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp; chống phá nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Bốn là, sử dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Các thế lực thù địch phản động triệt để sử dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; tác động chuyển hóa nội bộ, gây sức ép về chính trị, kinh tế, ngoại giao nhằm thực hiện mục tiêu “chuyển hóa dân chủ”; kích động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự, gây bạo loạn nhằm gây mất ổn định chính trị, xã hội và an ninh trật tự ở Việt Nam; hậu thuẫn, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
- Năm là, lợi dụng chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước để tuyên truyền những quan điểm, giá trị phương Tây, làm mai một bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng. Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, ca ngợi các giá trị “tự do, dân chủ” tư sản, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta.
- Sáu là, trong kỷ nguyên phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, chúng lập ra nhiều website, fanpage, tài khoản mạng xã hội giả mạo, giả danh cơ quan chức năng; sử dụng hình ảnh đại diện là chân dung một số lãnh tụ, lãnh đạo có uy tín, sức ảnh hưởng lớn được quần chúng nhân dân kính trọng; núp bóng danh nghĩa để tạo niềm tin, lôi kéo người theo dõi, sau đó tạo dựng, phát tán thông tin, đăng tải, chia sẻ các bài viết có nội dung mập mờ, sai lệch không đúng sự thật, biến có thành không, biến không thành có, thật giả lẫn lộn… xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất để chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024
chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa trong giai đoạn hiện nay
ĐỪNG NHẪN TÂM, VÔ NHÂN ĐẠO
Cơn bão Yagi đã đi qua, nhưng nó gây ra cho nhân dân Việt Nam những hậu quả nặng nề về người và tài sản. Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, quyết tâm, nỗ lực để cứu hộ, cứu nạn, chia sẻ mất mát, đau thương, thiếu thốn của đồng bào các địa phương vũng lũ. Thế nhưng lợi dụng tình cảnh đó, bằng nhiều thủ đoạn nguy hiểm, các thế lực thù địch, phản động, những phần tử chống đối lại ra sức tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Trên không gian mạng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về cơn bão Yagi và công tác phòng, chống của Việt Nam. Nhiều trang mạng phản động đã đăng tải, tán phát không ít những bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền xuyên tạc, kích động chống phá. Họ lấy hình ảnh bão, lũ, đời sống thiếu thốn, khổ cực của nhân dân trong cơn hoạn nạn rồi lồng ghép thông tin sai trái, xuyên tạc, vu cáo rằng, Đảng, Nhà nước thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước tính mạng, tài sản của nhân dân. Bất chấp sự thật là hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ các lực lượng Quân đội, Công an khẩn trương, nỗ lực hy sinh cứu người, tài sản, giúp đỡ nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả cơn bão, họ xuyên tạc cho rằng, đấy là “làm màu”, “biểu diễn”… Họ xuyên tạc “trong cơn bất hạnh của người dân, tuyên giáo vẫn giả dối, đưa các hình ảnh, video tập huấn, diễn tập để tuyên truyền”; “nhân dân lâm nguy, chính quyền vẫn ưa bệnh thành tích”; “nhà nước đã phát gạo… trên tivi”. Họ đưa ra những thông tin mang tính kích động như “Các nghệ sĩ, mạnh thường quân góp tiền qua chính quyền nên tỉnh táo. Tiền của các bạn đến tay người dân hay chui vào túi quan chức”… Bình luận về sự cố sập cầu Phong Châu (Phú Thọ), họ bỏ qua nguyên nhân do tác động của mưa lũ, lập tức quy kết rằng: “Chính quyền phải chịu trách nhiệm vì đã ăn hối lộ, làm ngơ, bảo kê, tiếp tay cho tham nhũng nên mới gây ra hậu quả sập cầu”… Trước những diễn biến phức tạp của tình hình mưa lũ, Việt Nam đã trao đổi, đề nghị phía Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ lượng nước trên thượng nguồn các sông đổ vào Việt Nam, nhất là trên sông Hồng; thông báo kịp thời về thông tin, thời điểm xả lũ, thời gian và lưu lượng xả lũ để hai nước có sự phối hợp chặt chẽ, nhằm giảm thiểu tác động, ảnh hưởng… Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động lại lợi dụng việc này để tuyên truyền xuyên tạc theo hướng kích động, chia rẽ mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc…
Những luận điệu mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tung ra như đã nêu là xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật và không có cơ sở. Cùng với việc đấu tranh vạch trần lên án và phản bác những luận điệu, chiêu trò sai ấy chúng ta cần phải bình tĩnh, tỉnh táo để nhận rõ sự thật.
Hậu quả mà cơn bão Yagi để lại là rất nặng nề. Trong lúc này, rất nhiều gia đình cần được hỗ trợ, giúp đỡ để sớm ổn định cuộc sống. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời công tác khắc phục hậu quả lũ lụt, từng bước ổn định đời sống của nhân dân vùng thiên tai. Với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, “không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu ở”, Chính phủ Việt Nam đã và sẽ tiếp tục dành nguồn lực để khôi phục cơ sở hạ tầng, hỗ trợ người dân tái sản xuất. Không vô cảm trước những đau thương, mất mát của người dân, không quản ngại khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội và Công an đã xông pha tuyến đầu chống “giặc lũ”. Hơn lúc nào hết truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” lại được nhân lên hướng về đồng bào vùng bão lũ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng bào, chiến sĩ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã dành sự chia sẻ, giúp đỡ nhân dân vùng bão, lũ cả về tinh thần và vật chất…
Có thể khẳng định, những nghĩa cử cao đẹp, sự chung tay chia sẻ đau thương, mất mát đó là rất quan trọng, góp phần đáng kể cùng với Đảng, Nhà nước giúp đỡ người dân vùng bão, lũ, khắc phục hậu quả để sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống. Công tác thông tin, tuyên truyền, kêu gọi, cổ vũ, động viên toàn xã hội chung tay, góp sức giúp đỡ nhân dân vùng bị thiệt hại bởi bão lũ là rất quan trọng và cần thiết. Thế nhưng, việc lợi dụng bão lũ, thiên tai, mất mát đau thương của người dân để thông tin sai trái, xuyên tạc với mục đích kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là hành vi nhẫn tâm, vô nhân đạo cần phải lên án./.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC "DI CHÚC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Trong lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức thi đua, phấn đấu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người thì các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị lại ra sức chống phá. Trên các trang mạng xã hội, facebook cá nhân, chúng đưa tin, viết bài quy chụp, vu khống Đảng ta không thực hiện đúng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thậm chí còn xuyên tạc cả những điều thiêng liêng mà Bác căn dặn trước lúc đi xa. Chúng xuyên tạc: “Di sản của Cụ Hồ để lại, rút cuộc là một Việt Nam không có gì cả, không có hòa bình, không có độc lập, không có thống nhất, không có dân chủ, không có giàu mạnh, ô nhiễm môi trường, thực phẩm độc hại… Tài nguyên cạn kiệt, lòng dân oán thán, tham nhũng hoành hành, xã hội bất công, giặc Tàu lăm le…”.
Chúng ta đã biết, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ 1.000 từ, nhưng trong đó chứa đựng sự tổng kết lớn lao, vĩ đại của người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất, thể hiện trí tuệ mẫn tiệp, tầm nhìn xa, trông rộng của Người đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Di chúc để lại những điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền và sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; về chăm lo đối với con người và thế hệ trẻ; về quản lý xã hội, chính sách xã hội, an sinh xã hội. Di chúc là sự tổng kết lý luận và thực tiễn về sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc Việt Nam, là lý luận về đổi mới và tương lai phát triển của đất nước.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn kiên trì thực hiện công tác xây dựng Đảng một cách sáng tạo, khoa học. Nhờ có các nghị quyết, chỉ thị mà cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng và nhận diện rõ nét hơn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để tự soi, tự sửa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã thu được những thành tựu quan trọng. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Văn hóa-xã hội có bước phát triển, công tác xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu lớn, sớm đạt được nhiều chỉ tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc; diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong ASEAN được củng cố. Đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn, quan trọng trên thế giới. Chủ động, tích cực tham gia các công việc chung của cộng đồng quốc tế, các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế, nâng cao vị thế của đất nước./.
QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN
Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên cả nước lại lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam.
Được học tập, rèn luyện trong quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tô luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy.
Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội.
Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội.
Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình.
Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.
Vai trò, trách nhiệm của Quân đội trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay
Bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng,
Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và
Công an nhân dân là lực
lượng nòng cốt. Vai trò của quân đội được
thể hiện thông qua các chức năng, nhiệm vụ của quân đội là đội quân chiến đấu,
đội quân công tác
và đội quân lao động sản xuất.
Quân đội
nhân dân là lực lượng chính trị tin
cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ
quốc và nhân dân; được
xây dựng tổ chức tinh, gọn, mạnh,
cơ động, linh hoạt, hiệu quả cao; được trang bị các loại vũ khí khí thài hiện
đại; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thường xuyên
huấn luyện, diễn tập, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả
năng sẵn sàng chiến đấu. Quân đội còn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền
quốc phòng toàn dân; xử lý tốt các tình huống quốc phòng, sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến
tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững mội trường hòa bình, ổn định để xây dựng và
phát triển đất nước.
Quân đội
nhân dân Việt Nam
là lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, xây dựng hệ thống
chính trị cơ sở, tích cực thực hiện công tác dân vận, đi đầu trong xây dựng,
phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tích cực
tham gia phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả
thiên tai, thảm họa và bảo vệ tài nguyên, môi trường… ; tích cực tham gia xóa
đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân; sẵn sàng
ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
Quân đội còn là lực lượng nòng cốt trong hội nhập quốc tế về quốc phòng
và đối ngoại quốc phòng Việt Nam; tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình
của Liên hợp quốc; huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm
họa, tìm kiếm cứu nạn, hợp tác quốc tế trong khắc phục hậu quả chiến tranh. Qua
đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc
tế.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng quan trọng trong tham gia lao
động sản xuất, thực hiện nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với củng cố quốc phòng
trên địa bàn. Các đoàn kinh tế - quốc phòng là lực lượng chủ lực đối với nhiệm
vụ này, góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm việc làm cho hàng trăm nghìn lao
động, thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách đối với Nhà nước, tạo ra nhiều sản phẩm
lưỡng dụng, sản phẩm công nghệ có giá trị cao, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
quốc dân, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế -
xã hội.
Quân đội nhân dân Việt Nam là chỗ dựa vững chắc cho toàn
dân bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu
cho Đảng, Nhà nước hoạch định mọi đường lối chiến lược, sách lược về quốc phòng
- an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, Quân đội còn là lực
lượng quan trọng trong tham gia công tác tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Thực hiện đồng bộ, toàn diện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giữ vững độc lập, tự chủ kết hợp với chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế là đường lối chiến lược, đồng
thời là nguyên tắc bất biến để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó chính là
tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa. Trong giai đoạn mới, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện chính sách đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, tránh phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay
nhóm nước nào; chủ động lựa chọn tham gia các cơ chế, diễn đàn khu vực và toàn
cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ
một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia dân tộc. Để đạt được mục tiêu này, cần
tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:
Tiếp
tục đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các nước ASEAN,
các nước lớn, các bạn bè truyền thống và các diễn đàn đa phương, song phương đi
vào chiều sâu ổn định, vững chắc. Hiện nay, cần chú ý cặp quan hệ Trung Quốc -
Hoa Kỳ. Bởi vì, mọi động thái trong cặp quan hệ này đều liên quan đến sự phát
triển các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh - quốc phòng
của Việt Nam.
Chủ động, tích cực tuyên truyền các thành tựu của Việt
Nam về các lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; đấu tranh với các
âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các vấn đề trên để chống phá chế độ. Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn,
công nghệ cho sự nghiệp phát triển đất nước, tạo lập lợi ích đan xen với các
đối tác.
Chủ động, tích
cực tham gia và đóng góp vào các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực, nhất là trên những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế,
những vấn đề trực tiếp liên quan đến an ninh, phát triển, lợi ích chiến lược
của Việt Nam. Mở rộng nâng
cao hiệu quả hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh.
Kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao
nhà nước và đối ngoại nhân dân. Chủ động, tích cực đưa các mối quan hệ quốc tế
đã được thiết lập đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất.
Kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đây là phương hướng
chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là“Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối
ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa,
xã hội và đối ngoại”[1], nhằm xác định thống nhất
nhận thức quan điểm mới về bảo vệ tổ quốc là: gắn kết chặt chẽ và triển khai
đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây
dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc
phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên. Việc kết hợp này
không những là yêu cầu nhiệm vụ của nền kinh tế, văn hóa, xã
hội, mà còn là yêu cầu thường xuyên nhằm củng cố và xây dựng nền quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh.
Việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế,
văn hóa, xã hội,
đối ngoại với quốc phòng, an ninh
và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại cần được thực hiện trong từng chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trên tất cả mọi vùng, miền của tổ quốc,
trong đó chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Khắc phục triệt để
những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến
lược.
Không những vậy,
việc kết hợp này phải được quán triệt và thực hiện ở mọi doanh nghiệp, cơ sở
kinh tế, ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước, ở các đơn vị của lực lượng
vũ trang. Bảo đảm trong thời bình cũng như trong thời chiến đáp ứng kịp thời
mọi yêu cầu xây dựng, chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Mỗi xí nghiệp, nhà
máy là một pháo đài, mỗi địa phương là một mặt trận, đánh bại mọi mưu đồ xâm
lược phá hoại của kẻ địch. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập, nước ta thực hiện
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ quốc tế, các thế lực thù địch sẽ lợi dụng để thâm nhập, kích động, móc
nối, lôi kéo, mua chuộc, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” để phá hoại
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bởi vậy, một mặt, quốc phòng, an ninh phải
phối hợp chặt chẽ với công tác đối ngoại, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ bí mật quốc
gia, bí mật quân sự, an ninh quốc gia, kịp thời phát hiện và ngăn chặn ý đồ và
hành động đen tối của địch. Mặt khác, phải phối hợp làm tốt việc tuyên truyền,
nâng cao vị thế, mở rộng quan hệ của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta với thế
giới; phát hiện âm mưu của các thế lực thù địch để chủ động đối phó, ngăn chặn
và đập tan hành động phá hoại của chúng; đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác
trong nghiên cứu khoa học quân sự, mua sắm trang bị kỹ thuật quân sự, vũ khí,
đầu tư phát triển công nghiệp quốc phòng của ta với các nước anh em, bè bạn và
các nước khác trên thế giới, góp phần tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Cần khắc phục quan
điểm kinh tế đơn thuần, không chú ý đến phương án bảo vệ hoặc coi nhẹ lợi ích
kinh tế, hiệu quả kinh tế khi đề ra các phướng án bảo vệ, hoạt động quốc phòng,
an ninh.
[1] Đảng Cộng sản
Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2021, tr. 157.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Bộ đội chủ
lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ có số lượng hợp lý, chất lượng ngày
càng cao, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đồng thời chú trọng xây dựng
một nền công nghiệp quốc phòng từng bước hiện đại, đáp ứng các yêu cầu của sự
nghiệp bảo vệ tổ quốc.
Nâng cao chất lượng công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an
ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tăng cường hơn nữa nguồn
lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí cho quốc phòng, an
ninh. Tập trung xây dựng và triển khai có hiệu quả kế hoạch động viên quốc
phòng, bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng và kế hoạch bảo đảm cho
các hướng chiến lược, sẵn sàng vũ trang toàn dân bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp tục điều chỉnh
thế bố trí chiến lược lực lượng Quân đội, đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước.
Ưu tiên xây dựng các công trình phòng thủ biển đảo, thềm lục địa, phòng thủ
biên giới, đường tuần tra, đê kè, sông suối, biên giới, địa bàn chiến lược.
Nâng cao chất lượng xây dựng các khu vực phòng thủ tinh, thành phố vững chắc
toàn diện.
Phát triển sâu rộng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh
tổ quốc, củng cố thế trận an ninh nhân dân, tăng cường lực lượng, phương tiện
đảm bảo an ninh quốc gia trên các địa bàn, nhất là các địa bàn chiến lược,
trọng điểm. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng
các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên vùng biển đảo, biên
giới và các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tiếp tục hoàn thiện các phương án
bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ, chủ động có phương án ứng phó,
ngăn chặn, đẩy lùi từ xa và tích cực chuẩn bị lực lượng bảo đảm giành thắng lợi
khi có tình huống xấu xảy ra, không để bị động bất ngờ.
Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vừng biển, hải đảo. Xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các phương án phòng chống bạo loạn, gây rối, khủng bố; các phương án đảm bảo an ninh chính trị, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, nhất là an ninh mạng. Giữ vững an ninh chính trị; kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa cơ sở của các tổ chức phản động, giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp ngay tại cơ sở không để lan rộng trở thành điểm nóng về an ninh, trật tự.
Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao, sẵn sàng đối phó trong mọi tình huống.
Tiếp tục xây dựng
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng quan
trọng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, nâng cao
chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu lực lượng
bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân
dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng,
binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây
dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm
2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và
cán bộ”[1].
Xây dựng Quân đội
nhân dân và Công an nhân dân phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp
về mọi mặt của Đảng, quản lý chặt chẽ của Nhà nước, để Quân đội và Công an thực
sự là lực lượng tin cậy của Đảng, của nhân dân, luôn trung thành với Tổ quốc,
với Đảng và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,
kẻ thù nào cũng đánh thắng.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội,, 2021, tr.157 - 158.
Xây dựng tiềm lực quân sự của đất nước vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Xây dựng tiềm lực quân sự của đất nước vững mạnh, là yếu
tố nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, gồm hai yếu tố cơ bản là con người và vũ
khí, trang bị, trong đó con người là nhân tố quyết định. Tiềm lực quân sự được
xây dựng trên nền tảng của các tiềm lực khác, thể hiện ở khả năng duy trì, hoàn
thiện và phát triển sức mạnh chiến đấu, trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn
vị lực lượng vũ trang, ở nguồn dự trữ về sức người, sức của phục vụ cho nhiệm
vụ quân sự. Do đó, “xây dựng tiềm lực quân sự theo chiến lược thống nhất, phù
hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khả năng tác chiến và
trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thể hiện ở tổ chức, biên
chế, trang bị, cơ sở bảo đảm hậu cần, nghệ thuật quân sự và khoa học kỹ thuật
thường xuyên được duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển, đáp ứng yêu
cầu của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc”[1]. Xây
dựng tiềm lực quân sự phải gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học -
công nghệ, văn hóa - xã hội..., phát triển khoa học nghệ thuật quân sự.
Như vậy, xây dựng các tiềm lực lực chính
trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, quân sự có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau trong tổng thể xây dựng và thực hiện các chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước.
[1]Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019 (sách Trắng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019, tr. 44.
Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội, khoa học công nghệ trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội,
trước hết là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, con người phát
triển toàn diện, phát huy tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa trong xây
dựng, phát triển đất
nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Triển khai các giải pháp nhằm giữ gìn và phát
huy thuần phong, mỹ tục của nền văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa
văn hóa nhân loại. Xây dựng tiềm lực văn hóa - xã hội phải được thực
hiện ở tất cả các cấp các ngành, ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước; đồng thời “kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa từ bên ngoài, các
khuynh hướng văn hóa trái với thuần phong, mỹ tục của Việt Nam”[1]. Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của đất nước vững mạnh, là thành tố có
vai trò ngày càng quan trọng trong tiềm lực quốc phòng, tác động trực tiếp đến
sự phát triển của khoa học - công nghệ trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ
cấu tổ chức lực lượng vũ trang, công tác chỉ huy và quản lý bộ đội. Đó là khả
năng và trình độ, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; cơ sở vật chất phục vụ
cho công tác nghiên cứu, phát triển, phổ biến, ứng dụng khoa học - công nghệ. Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của nền quốc
phòng toàn dân phải gắn chặt với sự phát triển của khoa học - công nghệ đất
nước, trên cơ sở đó ứng dụng có hiệu quả vào thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, cần đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ
cán bộ, nhà khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao; có chính sách động viên,
khuyến khích các nhà khoa học và các chuyên gia công nghệ hàng đầu tham gia
nhiệm vụ quốc phòng, quân sự; đồng thời, coi trọng phát triển công nghiệp quốc
phòng.
[1]Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019 (sách Trắng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019, tr. 41.
Xây dựng tiềm lực kinh tế của đất nước vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Xây dựng tiềm
lực kinh tế của đất nước vững mạnh, là yếu tố suy cho cùng quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong bảo vệ Tổ quốc, quân đội là
lực lượng nòng cốt, lực lượng quyết định thắng lợi trên chiến trường. Nhưng sức
mạnh của quân đội phụ thuộc rất lớn vào kinh tế đất nước. Ph.Ăngghen khẳng
định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính ngay
quân đội và hạm đội. Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ
thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định và
vào phương tiện giao thông. Ở đây tác động cách mạng hóa không phải là “những
sáng tạo tự do của trí tuệ” của những tướng lĩnh thiên tài, mà là việc phát
minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi”[1].
Kinh tế của
đất nước vững mạnh còn là điều kiện vật chất để xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc ở từng khu vực và trong
phạm vi cả nước. Sức mạnh kinh tế suy cho cùng còn là cơ sở của tiềm lực chính
trị, tinh thần vững mạnh. Để xây dựng tiềm lực kinh tế mạnh, Đảng ta xác định:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,
đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hiện đại;
ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển
nhanh, có hiệu quả và bền vững; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng
cường quốc phòng - an ninh. Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải
pháp phát triển kinh tế - xã hội, gắn với
bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng. Quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, an
ninh kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Triển khai thực hiện hiệu quả
các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh
tế - xã hội trên các hướng chiến lược của Tổ quốc.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 20, “Chống Đuy-Rinh” (1878), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
1995, tr.235.
Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần vững mạnh trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Xây dựng tiềm
lực chính trị - tinh thần vững mạnh, nhằm tạo ra sự
thống nhất ý chí và hành động, trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào cũng khắc
phục, vượt qua, vững bước dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, đánh thắng mọi âm mưu
và hành động xâm lược của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là sự kiên định, tin tưởng tuyệt đối
vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng; kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
phát huy cao độ truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Nâng cao
cảnh giác cách mạng, nhận rõ và đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong
mọi tình huống.
Vấn đề cơ bản nhất để xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là thông
qua giáo dục, tuyên truyền, động viên mọi tầng lớp nhân dân. Trước hết phải
tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan
điểm của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư
tưởng chủ đạo trong mọi tầng lớp nhân dân, thắm đượm tinh thần yêu nước, chủ
nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đây là phương hướng cơ bản hàng đầu, là vấn đề
có tính nguyên tắc của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong tình hình mới, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán nguyên tắc
Ðảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự
nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII,
Đảng ta xác định: “Luôn
giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự
quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”[1]. Đồng thời, “thực hiện
nghiêm, hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; dựa vào
dân “dân là gốc”; xây dựng “thế trận lòng dân”, là nhân tố quyết định mọi thắng
lợi”[2]. Chú trọng quán
triệt, vận dụng đúng đắn mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá
và tư tưởng chỉ đạo, phương châm, phương thức tiến hành nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc
vào nghị quyết lãnh đạo nhiệm kỳ và hằng năm bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình
hình, yêu cầu nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mình
làm cơ sở để tổ chức thực hiện.
Tiếp tục quán
triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chiến lược quan trọng như: Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự Chiến lược bảo vệ an
ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trên trên không gian mạng; Luật Quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng, Luật
Giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật Nghĩa vụ quân sự; các nghị quyết mới về
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở các vùng kinh tế -
xã hội trọng điểm của cả nước và các nghị định của Chính phủ về xây dựng khu
vực phòng thủ... Cấp ủy, người đứng đầu các bộ, ngành Trung ương, địa phương và
cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang cần tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ bảo
vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Tăng cường
các biện pháp quản lý nhà nước, bảo đảm các hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo
vệ tổ quốc đúng phương hướng chính trị, theo tư duy, nhận thức mới của Ðảng,
đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế và đạt hiệu quả thiết thực.
Tiếp tục hoàn
thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, quy chế, thông tư, hướng
dẫn, quy định, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm quân sự, quốc
phòng, bảo vệ tổ quốc của Ðảng trong thực tiễn, góp phần giữ vững an ninh chính
trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn, tổ quốc trong mọi tình
huống.
[1] Đảng Cộng sản
Việt Nam, Văn kiện Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. .
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. .
Những thách thức, khó khăn trong sự nghiệp cách mạng hiện nay
Hiện nay,
trên thế giới tình hình sẽ tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp,
khó lường. Đảng ta nhận định: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến
lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức,
phức tạp và quyết liệt hơn”[1].
Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII (Nghị quyết số 44), Đảng ta chỉ rõ: “Cục
diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét. Cạnh tranh
chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện. Thế giới hình thành
phân tuyến rõ hơn giữa một bên là Mỹ, các nước phương Tây, NATO và một bên là
Nga, chiến tranh sắc tộc ở Trung Đông”[2]. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
tiếp tục tiến triển nhưng gặp nhiều trở ngại, thách thức. Hợp tác, cạnh tranh
đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn
ngày càng gia tăng. Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, tiềm ẩn nguy cơ
khủng hoảng và suy thoái. Cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thương mại, tranh
giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa
các nước ngày càng quyết liệt.
Căng thẳng,
xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị can
thiệp lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt. Những vấn đề toàn cầu như bảo vệ
hòa bình, an ninh xã hội, an ninh con người, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh tài chính,
an ninh mạng, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục diễn biến phức
tạp. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều thách
thức mới.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trong đó Đông Nam Á có
vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các
cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền
biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Mỹ và Trung Quốc đẩy
mạnh tập hợp lực lượng thông qua các sáng kiến, chiến lược để cạnh tranh, kiềm
chế lẫn nhau, tiếp tục đe dọa đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ
vững chế độ ở nước ta.
Ở trong nước,
nền kinh tế phát triển chưa bền vững. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn
tại có mặt còn gay gắt hơn, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn là
thách thức lớn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà
nước và chế độ ta. Tình hình Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Cuộc
đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn
cam go, phức tạp, lâu dài; những đòi hỏi mới của Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư; hệ luỵ của biến đổi khí hậu; chất lượng dân số còn thấp và xu hướng già hóa
dân số nhanh là những thách thức rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong
thời gian tới.
Các thế lược thù địch tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cho quốc phòng, an ninh đang phải đối mặt
với nhiều nguy cơ, thách thức. Chúng câu kết với các phần tử phản động, cơ hội
chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là
phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng và Quân đội. Trước
sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và truyền
thông, xuất hiện nhiều loại hình chiến tranh mới như: chiến tranh thông tin,
chiến tranh không gian mạng. Các hoạt động thu thập bí mật quốc gia, tình báo,
gây nhiễu loạn thông tin và tấn công mạng đe dọa nghiêm trọng chủ quyền quốc
gia trên không gian mạng đã và đang tác động lớn đến ổn định chính trị, phát
triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của Việt Nam.
Những thời
cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu
mới, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
[1] Đảng Cộng sản
Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.105.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, khóa XIII (NQ số 44 về Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới), Nxb Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr. .
Những yếu tố thuận lợi trong bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn của thời đại trong
giai đoạn hiện nay, là lợi ích chung của các quốc gia dân tộc. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày
càng rõ nét và trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên
các châu lục ngày càng gia tăng, tạo ra mối quan hệ đan xen, tăng cường hợp
tác. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế, các nước đẩy mạnh tiến trình hợp tác, liên kết trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh với
những hình thức ngày càng đa dạng, sâu rộng, trên nhiều lĩnh vực, là động lực
phát triển. Trong xu thế đó, các quốc gia ngày càng có sự gắn kết với nhau hơn,
tạo ra những thời cơ mới, nhất là tạo ra sự đan xen về lợi ích giữa Việt Nam
với các đối tác tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc.
Cách mạng
khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư tạo ra những thành tựu đột phá, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực
đời sống xã hội đang hình thành xã hội thông tin, nền sản xuất thông minh, kinh
tế tri thức, thúc đẩy quá trình cải cách, đổi mới, sáng tạo và tái cấu trúc ở
mọi quốc gia, dân tộc, khu vực và thế giới tạo ra điều kiện, thời cơ thuận lợi
để Việt Nam đi tắt, đón đầu, phát triển đất nước, tạo ra tiềm lực mọi mặt gia
tăng sức mạnh quốc phòng. Đặc biệt, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra điều kiện, cơ hội cho Việt Nam hiện đại hóa lực lượng vũ trang
cả về tổ chức biên chế, con người, vũ khí, trang bị, kỹ thuật đủ sức đối phó và
đánh thắng kẻ thù trong mọi tình huống.
Ở trong nước,
những thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, sức mạnh tổng
hợp quốc gia, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Đặc
biệt, tình hình chính trị - xã hội ổn định, Đảng và Nhà nước tăng cường lãnh
đạo và quản lý chiến lược bảo vệ Tổ quốc; Nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước,
tinh thần đoàn kết và ý thức tự hào dân tộc cao; lực lượng vũ trang nhân dân có
truyền thống anh hùng, “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy
sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; thế trận chiến
tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc và mở rộng, giữ
vững độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển cả chiều rộng
và chiều sâu, tạo nên vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một
nâng cao.
TINH THẦN VIỆT NAM: Ở ĐÂU CÓ ĐỒNG BÀO, Ở ĐÓ CÓ LÁ CỜ TỔ QUỐC
Hình ảnh gây xúc động nhất với nhóm phóng viên VTV5 khi tác nghiệp với bà con thôn Kho Vàng: Giữa khu vực lán trại tránh sạt lở được bà con dựng tạm đã có một lá cờ Tổ quốc hiên ngang tung bay trong gió.
Hiếm có dân tộc nào trên thế giới lại yêu quý lá cờ Tổ quốc như người dân Việt Nam.
Dù ở giữa muôn vàn khó khăn và sự khắc nghiệt của thời tiết, lá cờ ngạo nghễ tung bay mang đến sức mạnh, sự khích lệ, cổ vũ cho đồng bào bước tiếp những ngày mới với niềm hi vọng và năng lượng. Bão lũ qua đi, cuộc sống sẽ tiếp tục tiếp diễn cùng những bình minh mới./.