Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

 

NHẬN THỨC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CỦA NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ QUYỀN LỰC
VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO,
NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”

 

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Cơ chế này phản ánh và giải quyết các mối quan hệ cốt lõi của xã hội Việt Nam. Vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn:...; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.”[1].

Đây là một cơ chế, giải quyết ba mối quan hệ chính trị cơ bản nhất ở Việt Nam hiện nay, đó là quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhằm giải quyết những vấn đề bản chất nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Có thể nói đây là vấn đề của mọi vấn đề. Để cho cơ chế này hoạt động tốt, có hiệu quả, hieeucj lực trong thực tiền, cần phải tạo ra động lực cho từng nhân tố và phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa ba nhân tố, vừa phải kiểm soát quyền lực trong từng nhân tố nói riêng và kiểm soát lẫn nhau trong tổng thể nói chung.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Điều 2, Hiến pháp năm 2013). Chế định của Hiến pháp nước ta đã nói lên vấn đề có tính nguyên lý của mọi nền dân chủ, mà Việt Nam không phải là một ngoại lệ. Nguồn gốc quyền lực nhà nước là từ nhân dân. Bản thân Nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước không tự nhiên phát sinh ra quyền lực, mà chỉ nhận sự ủy quyền của nhân dân, thay mặt nhân dân thực thi quyền lực của nhân dân mà thôi. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quyền lực Nhà nước cần được thể hiện trong cac nội dung sau đây:

Một là, Bầu cử là phương thức kiểm soát quyền lực quan trọng nhất

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thông qua bầu cử dân chủ, nhận sự ủy quyền có điều kiện và có thời hạn của nhân dân, thực thi quyền lực nhà nước của nhân dân. Đây là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước quan trọng nhất, bởi vì bầu cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước liên quan đến quyền dân chủ của nhân dân và quyền lãnh đạo của Đảng. Người dân phải có quyền, trách nhiệm và điều kiện để lựa chọn những người gắn bó, có trách nhiệm với vận mệnh của nhân dân. Sau khi đã bầu, người dân còn dùng quyền giám sát và quyền bãi miễn để có thể không bầu lại trong nhiệm kỳ tới hoặc thu hồi lại quyền lực khi người đại diện không còn xứng đáng. Trong lúc đó, với tư cách là đảng chính trị, đảng cầm quyền, Đảng lựa chọn đảng viên giới thiệu ra ứng cử, cho nhân dân bầu. Như vậy, một đại biểu được bầu phải đáp ứng được sự tín nhiệm của nhân dân và của Đảng. Đảng và dân đều thực hiện sự giám sát của mình với các vị đại diện đó.

Vấn đề ở chỗ, bầu cử phải thực sự dân chủ, không hình thức. Quy trình bầu cử chủ yếu phải dựa vào nhân dân, xuất phát từ nhân dân, coi trọng sự tín nhiệm của nhân dân chứ không đơn thuần chỉ là một hình thức hợp pháp hóa “quy trình” nhân sự của Đảng. Đảng nên coi trọng sử dụng những người mà người dân thấy xứng đáng nhất, đáng tin cậy nhất và đưa người đó vào các vị trí trong bộ máy nhà nước. Việc Đảng trở thành đảng duy nhất cầm quyền, mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý đặt ra vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trở thành một nhiệm vụ kép và có ý nghĩa kép: Đảng vừa thực hiện quyền lực lãnh đạo, vừa kiểm soát quyền lực nhà nước, nhân dân vừa kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng, vừa kiểm soát quyền lực nhà nước.

Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước dù chặt chẽ đến mức “hóa thân” vào nhau, nhưng vấn đề đặt ra là không Đảng hóa Nhà nước và không Nhà nước hóa Đảng. Không để “nhầm lẫn” giữa quyền lực của Đảng và quyền lực Nhà nước, không để Đảng trùm lên Nhà nước hay Nhà nước trùm lên Đảng. Nếu xẩy ra tình trạng đó, hệ thống quyền lực sẽ bị rối loạn, tê liệt, mặc dù nhìn bên ngoài có vẻ rất tiện dụng. Kinh nghiệm của lịch sử chính trị thế giới, của mô hình nhà nước xô-viết đã chứng minh điều đó. Khi một nhóm nào to phình lên trùm lợp tất cả các nhóm khác, ta sẽ không có được tổng số của nhiều sự khác biệt nhỏ, mà chỉ có một sự khác biệt duy nhất, lúc đó sẽ không còn ý chí chung nữa, và ý kiến quyết định chỉ là ý chí riêng[2].

Hai là, Giới hạn quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp

Nguyên lý của giới hạn quyền lực nhà nước là nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Ở Việt Nam hiện nay, “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. (Điều 8, Hiến pháp năm 2013).

Ở nước ta, tất cả các chế định của Hiến pháp đều cho thấy, Nhà nước được tổ chức theo khuynh hướng tập quyền, thực hiện chức năng công quyền. Như vậy, Nhà nước Việt Nam đã tách chức năng quản lý nhà nước ra khỏi các chức năng sản xuất, kinh doanh, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tránh can thiệp sâu vào các quyền riêng tư cá nhân. Việc Hiến pháp giới hạn quyền lực nhà nước như vậy là một bước tiến so với mô hình tập trung quan liêu bao cấp trước đây, khi Nhà nước còn có thể trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh, hoặc đồng nhất các đơn vị sản xuất, kinh doanh, văn hóa nghệ thuật, y tế, giáo dục với các cơ quan nhà nước, như là các cơ quan công quyền. Nhà nước có thể bảo trợ các đơn vị đó, nhưng không nên biến các cơ sở đó thành cơ quan nhà nước. Hệ lụy nhà nước hóa xã hội vẫn còn trầm trọng cho đến ngày nay. Nhà nước không thể là doanh nghiệp đi tìm kiếm lợi nhuận, hay đi biểu diễn nghệ thuật. Tuy nhiên, không loại trừ việc Nhà nước thành lập một số cơ sở phi lợi nhuận để phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện chức năng quản lý. Điều đó phù hợp với tổ chức nhà nước từ xưa tới nay trên thế giới.

Quan trọng hơn hết, các chế định mới của Hiến pháp tạo điều kiện để kiểm soát quyền lực nhà nước, để cắt bớt những “chiếc vòi bạch tuộc” của các “quan chức” quan liêu hằng ngày hằng giờ tiêu tiền ngân sách, gây nhũng nhiễu cho doanh nghiệp và người dân, can thiệp vào mọi mặt sinh hoạt của đời sống xã hội để làm lợi cho riêng mình.

Ba là, Kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước

Một trong những phương thức quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước là tổ chức bộ máy nhà nước sao cho các cơ quan quyền lực nhà nước, hoặc thực thi quyền lực nhà nước vừa thống nhất phối hợp hành động, vừa kiểm soát lẫn nhau để không một cơ quan nào có thể lạm quyền. Qua một quá trình đổi mới lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn, chúng ta đã đưa phạm trù kiểm soát quyền lực vào nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước và được hiến định. Ở nước ta, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2, khoản 3, Hiến pháp năm 2013).

Sự tiến bộ trong nhận thức về kiểm soát quyền lực đã bắt đầu phát huy tác dụng nhất định trong thực tiễn. Tuy nhiên, chúng ta cũng “chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả”(4).

Để kiểm soát được quyền lực nhà nước, việc tách rõ về kỹ thuật (chứ không phải chính trị) giữa chức năng lập pháp và hành pháp rất quan trọng. Ở nước ta, Quốc hội “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập” (Điều 70, Hiến pháp năm 2013). Các hình thức kiểm soát của Quốc hội khá đa dạng. Ngoài việc nghe báo cáo như đã nói, Chính phủ, các thành viên Chính phủ phải trả lời chất vấn trước Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn; thành lập đoàn giám sát tối cao giám sát hoạt động của các cơ quan của Chính phủ...

Quyền chế ước của Chính phủ đối với Quốc hội về mặt pháp lý hiện chưa thật rõ. Nhưng về mặt “kỹ thuật”, có một số vấn đề mà Chính phủ có thể chế ước được Quốc hội: Chống tham nhũng, quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động của Quốc hội, trình các dự luật cho Quốc hội. Hiện nay khoảng 90% dự án luật của Việt Nam đều do các cơ quan Chính phủ trình(5). Việc trình dự án luật như vậy buộc Quốc hội ở mức độ nào đó phải phụ thuộc vào tầm nhìn, cách nhìn, ý chí, lợi ích, thủ tục hành chính và cách điều hành của Chính phủ. Các đạo luật do Quốc hội ban hành chỉ có thể thực hiện được qua các bước của Chính phủ, như nghị định Chính phủ, thông tư các bộ, hướng dẫn triển khai... Về nguyên tắc, bằng cách đó Chính phủ có thể “chế ước” quyền lực của Quốc hội.

Bốn là, Kiểm soát của các cơ quan tư pháp đối với các cơ quan nhà nước

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, có quyền xét xử đối với bất kỳ đại biểu Quốc hội, thành viên Chính phủ nào nếu họ phạm luật. Việc hiến định nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm, làm cho khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước của tòa án là rõ ràng. Ngoài chức năng công tố, viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, qua đó có thể kiểm soát, ngăn chặn được việc lạm quyền của cơ quan và công chức nhà nước, trong các hoạt động tư pháp.

Năm là, Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước

Nhân dân kiểm soát Nhà nước trước hết qua hệ thống bầu cử, thông qua hoàn thiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, các công cụ thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, nhân dân còn các công cụ khác, như thông qua các tổ chức có tính đại diện xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp; qua giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, qua hệ thống phương tiện truyền thông...


  1. [1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 72 - 73. 
  2. [2] J. J. Rousseau: Bàn về Khế ước xã hội, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006, tr. 85

 

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM VỀ NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG

 GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM VỀ NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG

Ngày 3/2, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức họp báo giới thiệu, phát hành cuốn sách "Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân - Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng" của Đại tướng, GS.TS Tô Lâm - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lễ giới thiệu, phát hành cuốn sách là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2025) và hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025), 80 năm Ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng (19/8/1945 - 19/8/2025); góp phần thúc đẩy triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội khóa 13 và các nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tất cả cảm xúc:
9

Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức tiếp tục phát triển mạnh mẽ, những vấn đề toàn cầu tác động sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 


Khoa học và công nghệ hiện đại ngày càng phát triển sâu rộng, với nhiều bước nhảy vọt, tác động to lớn đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở từng quốc gia cũng như trên phạm vi thế giới. Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực sản xuất vật chất, làm biến đổi căn bản lực lượng lao động cả về trình độ nhận thức và kỹ năng nghề nghiệp, cả về phong cách và tác phong lao động… làm thay đổi cơ cấu xã hội và tác động sâu sắc đến môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng, giáo dục đào tạo, văn hoá và lối sống.  Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh[1].

 Sản phẩm trí tuệ trở thành hàng hoá đặc biệt được thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Cuộc chạy đua và cạnh tranh gay gắt về kinh tế và khoa học công nghệ, thông tin vừa tạo ra cơ hội vừa đặt ra những thách thức lớn đối với các nước, nhất là các nước đang phát triển và chậm phát triển. Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã dẫn đến sự ra đời của nền kinh tế tri thức và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc.

Những vấn đề toàn cầu đang đòi hỏi sự hợp tác quốc tế, mới có thể giải quyết được. Nạn ô nhiễm môi trường sinh thái, tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, bùng nổ dân số, các dịch bệnh lớn, bệnh tật hiểm nghèo, tội phạm quốc tế có chiều hướng gia tăng đang là thách thức lớn đối với nhân loại. Các thách thức đó là mặt trái của quá trình phát triển sản xuất, phát triển của khoa học và công nghệ mặt khác do lợi nhuận, thiếu tri thức, khả năng tài chính hoặc lương tâm mà nhiều quốc gia, trong đó có các nước tư bản phát triển đã không thực hiện tốt trách nhiệm của mình đối với các vấn đề trên.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 92.

Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào nhưng đang có sự phục hồi và tạo được bước tiến mới.

 


Các nước tiến hành xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa có điểm xuất phát từ nền kinh tế, khoa học, công nghệ tương đối lạc hậu. Khoảng cách rất lớn về kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa với các nước tư bản phát triển, chi phối thường xuyên và lâu dài đến quá trình củng cố và đi lên của chủ nghĩa xã hội. Sự đổ vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu phản ánh khúc quanh của lịch sử. Đó chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình xã hội cụ thể không phù hợp. Chủ nghĩa xã hội trên thế giới vẫn tồn tại vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn là khát vọng tốt đẹp của loài người. Các lực lượng xã hội chủ nghĩa không bị tiêu diệt như mong muốn của chủ nghĩa tư bản. Các nước xã hội chủ nghĩa đang tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách và gặt hái được nhiều thành tựu rất quan trọng, chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững và chứng tỏ tính ưu việt và sức sống của mình. Dù còn khó khăn và hạn chế nhất định, nhưng gần 1/4 dân số thế giới vẫn đang được hưởng thành quả tốt đẹp do chủ nghĩa xã hội mang lại.

 Đúng như Đảng ta khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2001, tr. 14.

Phát hành cuốn sách của Tổng Bí thư Tô Lâm về người Công an cách mạng


Cuốn sách có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn; là tư liệu quý phản ánh sinh động thành tựu và bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chiều 3/2, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Lễ giới thiệu, phát hành cuốn sách “Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân - Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng” của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025); hướng tới kỷ niệm 80 năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025), 80 năm Ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam anh hùng (19/8/1945-19/8/2025); góp phần thúc đẩy triển khai thắng lợi Nghị quyết Đại hội khóa XIII và các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì buổi lễ.
Đồng chủ trì có các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa và Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; Bí thư Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Lê Hoài Trung; Thượng tướng Lê Quốc Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an.
Nội dung cuốn sách được thể hiện trong 766 trang, khổ sách 24x16cm, gồm Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Công an nhân dân và 80 bài viết, phát biểu, trả lời phỏng vấn được chọn lựa từ hơn 500 bài viết của tác giả cùng với 71 bức ảnh phản ánh sinh động các chuyến thăm và làm việc ở Công an các đơn vị, địa phương, địa bàn cơ sở của Tổng Bí thư Tô Lâm trong thời gian đồng chí giữ cương vị Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an.
Cuốn sách thể hiện tư duy nhất quán của tác giả trong vận dụng sáng tạo, phát triển, bảo vệ Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ quốc phòng, đối ngoại, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của đất nước, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Cuốn sách có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn; là tư liệu quý phản ánh sinh động thành tựu và bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội nói riêng.
Với những luận giải sâu sắc, cuốn sách đã định hướng yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp, phương pháp cho toàn lực lượng Công an nhân dân và cho cấp ủy, chính quyền các cấp để tiếp tục lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương của Đảng về bảo vệ an ninh, trật tự, kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, quân sự và đối ngoại; xây dựng thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng toàn dân; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, tạo môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh; động viên khích lệ, khơi dậy tinh thần yêu nước, huy động quần chúng nhân dân chủ động tích cực tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Cuốn sách còn góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, giúp cho cán bộ, đảng viên, chiến sỹ, nhân dân nhận thức và hiểu biết sâu sắc hơn chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
Cuốn sách cung cấp nguồn tư liệu phong phú cùng hệ thống luận cứ khoa học chỉ dẫn cho nghiên cứu, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, giáo dục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và giáo dục truyền thống anh hùng cách mạng vẻ vang của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.
Trên tất cả, là thể hiện trách nhiệm, sự tâm huyết, tấm lòng vì nước, vì dân của Đại tướng, Giáo sư, Tiến sỹ Tô Lâm đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho rằng cuốn sách không chỉ là một tư liệu quý mà còn thể hiện rõ nét những tư tưởng lớn, tầm nhìn sâu rộng, bổ sung và phát triển nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về bảo vệ an ninh trật tự.
Theo Bộ trưởng Bộ Công an, trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và đối ngoại của đất nước, cuốn sách là kim chỉ nam, định hướng cho toàn diện Công an nhân dân trong chiến đấu và xây dựng lực lượng những năm tiếp theo. Đây cũng là nhiệm vụ cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong lãnh đạo, quản lý công tác bảo vệ an ninh, trật tự, động viên, khích lệ, khơi dậy tinh thần yêu nước, hướng dẫn quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung, sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự nói riêng.
Để lan tỏa sâu nội dung cuốn sách, Bộ trưởng Lương Tam Quang đề nghị cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp quan tâm để tuyên truyền, phổ biến nội dung cuốn sách.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các nhà lý luận có hình thức tuyên truyền, phổ biến về nội dung cuốn sách, lan tỏa mạnh mẽ trong hệ thống chính trị và toàn dân, phát huy cao nhất giá trị cuốn sách đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Cuốn sách gồm 5 phần: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Công an nhân dân tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; Công an nhân dân vì nước quên thân - Sáng ngời tư cách người Công an cách mạng; Công an nhân dân - Lực lượng nòng cốt, xung kích bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Vì nhân dân phục vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân - Cội nguồn sức mạnh của Công an nhân dân; Phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại./.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang có nhiều ưu thế và còn khả năng phát triển nhất định, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản vốn có, con đường diệt vong là không thể tránh khỏi.

 

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm nhiều ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường… Nó còn có khả năng phát triển nhất định, nhưng không thể khắc phục được những mâu thuẫn vốn có, thậm chí ở một số lĩnh vực càng làm trầm trọng hơn những mâu thuẫn ấy. Đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, giữa sự giàu có của các nhà tỷ phú tư bản với sự nghèo khó của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; mâu thuẫn giữa các nước tư bản, các tập đoàn tư bản với nhau, v.v… Các nước tư bản đang phải đối mặt với những vấn đề nan giải: thất nghiệp, tội phạm, tệ nạn xã hội, sự tha hoá về đạo đức, lối sống… Tuy có sự điều chỉnh và thích nghi nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi về bản chất, nó vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.

Từ sau sự kiện 11/9/2001 diễn ra ở Mỹ, các hoạt động “khủng bố” và “chống khủng bố” trở thành vấn đề quốc tế lớn, đặc biệt là ở các nước tư bản phát triển. Việc gia tăng các cuộc xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang và khủng bố... ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy chủ nghĩa tư bản đang bất lực, không có khả năng giải quyết triệt để các mâu thuẫn ở từng nước và thế giới. Do vậy, các quốc gia phải nêu cao cảnh giác phòng ngừa các hoạt động phá hoại an ninh, chủ quyền đất nước, đồng thời đề phòng các thế lực hiếu chiến cầm quyền ở các nước tư bản lợi dụng chiêu bài “chống khủng bố” để đe doạ, can thiệp, xâm hại chủ quyền quốc gia dân tộc, bất chấp luật pháp quốc tế.

Nội dung của thời đại hiện nay

 


Nội dung của thời đại hiện nay đã được V.I.Lênin chỉ rõ là, xoá bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân quốc tế tại Mátxcơva năm 1957, 1960 và 1969 tiếp tục khẳng định: “Thời đại chúng ta mà nội dung chủ yếu là sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, là thời đại đấu tranh giữa hai hệ thống xã hội đối lập, là thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc, là thời đại sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc, tan rã của chủ nghĩa thực dân, là thời đại có nhiều nước đi lên chủ nghĩa xã hội, là thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới[1]. Từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời đến nay, tình hình thế giới có nhiều biến đổi, nhất là trong lĩnh vực sản xuất vật chất, phát triển khoa học công nghệ và quan hệ chính trị - xã hội. Chủ nghĩa xã hội hiện thực phát triển mạnh mẽ, có giai đoạn quyết định xu hướng phát triển của xã hội loài người. Song, do có những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên đã rơi vào khủng hoảng, sụp đổ. Nhưng nội dung cơ bản của thời đại do các đảng cộng sản và công nhân xác định ở trên đến nay cơ bản còn nguyên giá trị, tất nhiên cần có nhận thức rõ ràng hơn. Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới không diễn ra trong một thời gian ngắn và theo một con đường thẳng tắp. Dù trải qua nhiều khúc quanh co, nhưng nhất định loài người sẽ đi đến một xã hội tốt đẹp hơn chế độ tư bản chủ nghĩa - đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Trên cơ sở phân tích khoa học, kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nội dung thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.



[1] Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân tại Mátxcơva tháng 11/1960, Nxb. Sự thật, Hà Nôi - 1961, tr. 17 - 18.

Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay


Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, công cụ bạo lực sắc bén, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Quân đội ta vừa có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, quân sự, kinh tế của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời vừa có nhiệm vụ thực hiện tốt mọi quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thường xuyên giáo dục, quán triệt các quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Giúp cho họ nhận rõ vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận ở vùng dân tộc, tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ và tích cực thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, động viên đồng bào hăng hái thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh ở miền núi.

Tích cực tham gia xây dựng vùng dân tộc thiểu số tiến bộ và vững mạnh về mọi mặt: Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng kết cấu hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; nâng cao dân trí, xây dựng nếp sống văn minh.

Thường xuyên thực hiện tốt sự kết hợp quốc phòng, an ninh với xây dựng kinh tế vùng biên giới, hải đảo của Tổ quốc. Xây dựng địa bàn nơi đơn vị quân đội đóng quân trở thành những cơ sở phát triển mạnh về kinh tế, văn hoá, xã hội, ổn định về chính trị, vững chắc về quốc phòng; đủ sức, kịp thời ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động phá hoại của kẻ thù, góp phần bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta trong nội bộ quân đội. Cần có chính sách ưu tiên đối với những cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số; lựa chọn được nhiều chiến sĩ là con em các dân tộc thiểu số có đủ tiêu chuẩn để đưa đi bồi dưỡng, đào tạo tại các nhà trường trong quân đội để phát triển đội ngũ cán bộ. Mặt khác, cần có những chính sách hợp lý để động viên, giúp đỡ kịp thời những cán bộ, chiến sĩ quân đội làm nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn.

Vai trò, trách nhiệm của người cán bộ chính trị trong thực hiện chính sách dân tộc. Trước hết phải quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng. Nêu cao vai trò gương mẫu, phương pháp tác phong công tác trong thực hiện nhiệm vụ đặc biệt khi quan hệ với nhân dân. Thực hiện tốt công tác dân vận gắn lý luận với thực hành đặc biệt thực hiện tốt phương châm. Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ văn hoá, phong tục, tập quán của các dân tộc; giáo dục ý thức chấp hành kỷ luật quân dân; giữ gìn và phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đấu tranh chống quan điểm lợi dụng vấn đề dân tộc trong tình hình hiện nay.

 

 

 

 

 

 

  

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam

 


Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là hệ thống các chủ trương, kế hoạch, giải pháp của Đảng và Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống của các dân tộc, vùng dân tộc và có thể đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thực hiện  bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp  nhau cùng phát triển.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước là một bộ phận của chính sách quốc gia nhằm phát triển, khai thác tiềm năng, thế mạnh, truyền thống của các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc trong quan hệ hữu cơ với các vùng khác, hướng tới phát triển đất nước trong tổng thể. Quan điểm chính sách dân tộc có nội dung toàn diện, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng-an ninh, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, truyền thống của mỗi địa phương, mỗi dân tộc nhằm hướng vào giải quyết vấn đề dân tộc. Các nội dung đó có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, hợp thành một thế thống nhất, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, thương yêu, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển thì mới thực hiện được bình đẳng dân tộc.

Những chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta hiện nay được biểu hiện cụ thể như sau:

Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Từng bước nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng núi cao. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc, nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái với pháp luật và trái với chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.

Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; chăm lo giáo dục, đào tạo, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo sinh kế, việc làm, định canh, định cư vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Triển khai các chương trình dự án phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn.

Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thường xuyên quan tâm, chăm lo đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc. Tạo điều kiện đến mức tốt nhất để thực hiện xoá mù chữ, phổ cập giáo dục đối với các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số; đồng thời khai thác và phát huy cao nhất bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc vào xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho nhân dân các dân tộc, nhất là giáo dục cho họ về lòng tự hào dân tộc. Đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu Tổ quốc Việt Nam, tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế cho đồng bào các dân tộc. Để từ đó, giúp nhân dân các dân tộc ngày càng nâng cao trình độ hiểu biết, giác ngộ cách mạng, và xác định rõ hơn trách nhiệm của mình đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kiên quyết đấu tranh và kịp thời đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng.

Đặc điểm dân tộc ở nước ta hiện nay


Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 tộc người, trong đó người Kinh (người Việt) chiếm khoảng 85,4% số dân, các tộc người còn lại chỉ chiếm khoảng 14,6%, các dân tộc ở nước ta phân bố rải rác trên địa bàn cả nước[1]. Trong đó, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, vùng cao và trên toàn tuyến biên giới, đây là những nơi giữ vị trí chiến lược về an ninh - quốc phòng.

Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết. Không kể già trẻ gái, trai, hay dân tộc nào miễn là người dân Việt Nam thì các anh em dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết keo sơn gắn bó một lòng một dạ. Thời chiến, các dân tộc đồng lòng chống giặc, bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay thời bình, các dân tộc cùng nhau xây dựng và bảo vệ nền hòa bình dân tộc. Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống của dân tộc ta.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau, hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống nhất giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.

Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế-xã hội không đều nhau. Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư thể hiện rõ rệt.

Dân tộc Việt Nam có nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt lại có đời sồng văn hóa mang bản sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm nên văn hóa của cộng đồng. Rất nhiều bản sắc văn hóa tạo thành nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc nước nhà.



[1] Tổng cục Thống kê, Báo cáo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019.