Ngày 28-11-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động ngày “Tết trồng cây” với mong muốn: Trong 10 năm, đất nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta. Lời kêu gọi “Tết trồng cây” của Bác đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân cả nước, trở thành một phong trào quần chúng sâu rộng, một nét đẹp trong văn hóa truyền thống Việt nam. Trong không khí rộn ràng, phấn khởi những ngày đầu năm mới, nhân dân khắp mọi miền Tổ quốc lại nhớ tới lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”.
Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025
Hòa bình, hợp tác và phát triển là một xu thế lớn trong thời đại ngày nay
Xu thế chung
trong giai đoạn hiện nay là hoà bình, hợp tác và phát triển. “Hoà bình, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều
hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh
tế, chính trị, an ninh quốc tế”[1].
Để phát triển,
các nước cần có hòa bình. Hòa bình là điều kiện đảm bảo cho phát triển. Không
quốc gia nào có thể phát triển tốt trong hoàn cảnh chiến tranh. Đồng thời, hòa
bình là nguyện vọng thiết tha, chính đáng của nhân dân lao động trên thế giới.
Sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội của các nước là nhân tố bảo vệ hòa
bình và thúc đẩy sự phát triển. Phát triển là mục tiêu của các quốc gia và cộng
đồng quốc tế, quyết định đến sự phồn vinh của dân tộc và sức mạnh của đất nước,
bảo đảm cho hòa bình, ổn định xã hội và bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Song,
nguy cơ chiến tranh còn đang đe doạ sự ổn định và phát triển của nhiều nước,
tác động xấu tới cuộc sống của cộng đồng quốc tế. Ngăn chặn và chống chiến
tranh, bảo vệ hoà bình là một đòi hỏi khách quan đối với nhân dân các nước
không phân biệt chế độ chính trị.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 12.
Quyết định của Bộ Chính trị về 4 Đảng bộ trực thuộc Trung ương và 3 cơ quan Đảng ở Trung ương
Quyết định của Bộ Chính trị về 4 Đảng bộ trực thuộc Trung ương và 3 cơ quan Đảng ở Trung ương
Ngày 3/2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập, chỉ định nhân sự của 4 Đảng bộ trực thuộc Trung ương (Đảng bộ các cơ quan Đảng ở Trung ương, Đảng bộ Chính phủ, Đảng bộ Quốc hội, Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương); về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 3 cơ quan Đảng ở Trung ương (Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương). Tổng Bí thư Tô Lâm dự và trao các Quyết định.
Cùng dự Hội nghị có các đồng chí: Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng là lãnh đạo các cơ quan, đơn vị ở Trung ương.
Tại Hội nghị, đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương công bố các Quyết định của Bộ Chính trị về việc kết thúc hoạt động của: Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương; Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương; Ban cán sự đảng Chính phủ; Đảng đoàn Quốc hội; Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các Đảng đoàn, Ban cán sự đảng ở Trung ương do Ban Bí thư thành lập; Ban Đối ngoại Trung ương.
Các Quyết định về việc hợp nhất, đổi tên, thành lập các đảng bộ mới Trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương gồm: Quyết định về việc hợp nhất các Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Dân vận Trung ương thành Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Quyết định về việc đổi tên Ban Kinh tế Trung ương thành Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Quyết định thành lập Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương; Quyết định thành lập Đảng bộ Chính phủ; Quyết định thành lập Đảng bộ Quốc hội; Quyết định thành lập Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
Đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương cũng đã công bố các Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư gồm: Quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương; Quyết định chỉ định đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư làm Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương và chỉ định các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan đảng Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025.
Quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Chính phủ; Quyết định chỉ định đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ làm Bí thư Đảng ủy Chính phủ và chỉ định các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ nhiệm kỳ 2020-2025.
Quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Đảng ủy Quốc hội; Quyết định chỉ định đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội làm Bí thư Đảng ủy Quốc hội và chỉ định các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025.
Quyết định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Quyết định chỉ định đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và chỉ định các đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025.
Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương công bố các Quyết định của Bộ Chính trị: Quyết định đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng thôi giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Quyết định điều động, bổ nhiệm đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.
Quyết định phân công, bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
Quyết định phân công đồng chí Trần Lưu Quang, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương làm Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; các Quyết định phân công, bổ nhiệm các đồng chí Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
Đại diện lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương cũng công bố các Quyết định, Quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về:
Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương;
Quyết định ban hành Quy chế làm việc mẫu của 4 Đảng ủy trực thuộc Trung ương; Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở bộ, ngành, cơ quan, tổ chức nơi kết thúc hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng;
Quyết định ban hành Quy chế làm việc mẫu của đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở bộ, ngành, cơ quan, tổ chức nơi kết thúc hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng; Quy định chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở cơ quan, tổ chức nơi kết thúc hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng;
Quyết định ban hành Quy chế làm việc mẫu của đảng ủy, chi bộ cơ sở ở cơ quan, tổ chức nơi kết thúc hoạt động của đảng đoàn, ban cán sự đảng; Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố; Quyết định ban hành Quy chế làm việc mẫu của ban chấp hành đảng bộ các cơ quan Đảng tỉnh, thành phố;
Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Văn phòng Trung ương Đảng; Quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng ủy ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; Quyết định ban hành Quy chế làm việc mẫu của ban chấp hành, đảng bộ ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố.
Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, việc tổ chức Hội nghị công bố các quyết định nói trên tiếp tục thể hiện tinh thần quyết liệt, sự cố gắng, nỗ lực của các cơ quan, đơn vị trong thời gian qua và mang ý nghĩa chính trị hết sức sâu sắc vì được tổ chức đúng vào Ngày thành lập Đảng (3/2/1930 -3/2/2025).
Tổng Bí thư nêu rõ, năm 2024 đã đi qua với nhiều thành tựu rất đáng phấn khởi của đất nước, nhất là trong phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng Đảng. Đặc biệt, với sự cố gắng, nỗ lực rất lớn và tinh thần gương mẫu, quyết liệt, khẩn trương, nghiêm túc trong thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận của Bộ Chính trị về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đến nay đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, các cơ quan tư pháp và đoàn thể ở Trung ương. Đây chính là cơ sở, tiền đề quan trọng để tiếp tục hoàn thành thắng lợi việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đúng tiến độ, lộ trình đã đề ra.
Tổng Bí thư đề nghị, các cơ quan, đơn vị căn cứ chức năng, nhiệm vụ đã được quy định cụ thể trong từng quyết định, khẩn trương triển khai công tác theo mô hình mới, tổ chức mới; nhất là 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương và những ban Đảng đã hợp nhất, đã được tăng thêm chức năng, nhiệm vụ, phải bảo đảm kế thừa tốt các nhiệm vụ của các tổ chức đảng đã kết thúc hoạt động, không để gián đoạn, ngừng trệ, bỏ sót công việc. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các cơ quan cần không ngừng đổi mới, sáng tạo, trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc về tổ chức và sinh hoạt của Đảng, phối hợp chặt chẽ, để kịp thời tham mưu xử lý những vấn đề phát sinh nếu có.
Tổng Bí thư yêu cầu khẩn trương hoàn thành các thủ tục pháp lý về hành chính để hoạt động, giao dịch theo pháp nhân của 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; khẩn trương xây dựng quy chế làm việc hoặc rà soát, bổ sung, sửa đổi Quy chế làm việc của cơ quan, của từng đơn vị trực thuộc trong mỗi cơ quan để bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ mới của mỗi cơ quan, đơn vị. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng trong tiếp nhận và sắp xếp cán bộ, trong sắp xếp trụ sở, chỗ làm việc, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn trước đây.
Trên cơ sở sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, các cơ quan tư pháp và đoàn thể Trung ương, Tổng Bí thư đề nghị, Đảng bộ Quốc hội, Đảng bộ Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội, hoàn thiện thể chế, đồng thời hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan của Chính phủ, Quốc hội, trong đó có sắp xếp, bố trí nhân sự bên trong làm cơ sở cho các địa phương thực hiện, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong cả hệ thống chính trị.
Quá trình sắp xếp, tránh nóng vội, chủ quan, hình thức, phải bảo đảm thông suốt, không ách tắc trong giải quyết công việc; tiếp tục làm tốt công tác chính trị tư tưởng để tạo sự phấn khởi, yên tâm, đoàn kết, thống nhất thi đua hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của năm 2025 cũng như của nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, tạo tiền đề vững chắc bước vào Đại hội XIV của Đảng.
#HSV #ND
NHẬN THỨC VỀ QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN VỀ
QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT
QUYỀN LỰC TRONG CƠ CHẾ “ĐẢNG LÃNH ĐẠO,
NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(năm 1986), Đảng ta khẳng định: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản
lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội”. Cơ chế này phản ánh
và giải quyết các mối quan hệ cốt lõi của xã hội Việt Nam. Vì vậy, Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải
quyết tốt các mối quan hệ lớn:...; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ.”[1].
Đây là một cơ chế, giải quyết ba mối quan
hệ chính trị cơ bản nhất ở Việt Nam hiện nay, đó là quan hệ giữa Đảng, Nhà nước
và nhân dân, nhằm giải quyết những vấn đề bản chất nhất của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng. Có thể nói đây là vấn đề của mọi vấn đề.
Để cho cơ chế này hoạt động tốt, có hiệu quả, hieeucj lực trong thực tiền, cần phải tạo ra động lực cho từng nhân tố và
phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa ba nhân tố, vừa phải kiểm soát quyền lực
trong từng nhân tố nói riêng và kiểm soát lẫn nhau trong tổng thể nói chung.
Nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực. Khi sống đơn lẻ, mỗi người tự do sử
dụng toàn bộ quyền lực của mình. Trong xã hội có nhà nước, nhân dân có một phần quyền để tạo thành nhà nước (quyền lực công,
ý chí chung, tự do công cộng...), phần còn lại tự do sử dụng. Nguyên tắc này
thường được ghi trong các bản hiến pháp dân chủ (khế ước xã hội). Như vậy,
trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công dân được làm tất cả những
gì mà pháp luật không cấm. Những điều mà pháp luật cấm là những điều được xã
hội thỏa thuận và ghi thành Khế ước (Hiến pháp) và được cụ thể hơn nữa thông
qua các đạo luật. Đó cũng chính là giới hạn quyền lực của công dân (nhân dân)
để công dân thực hiện đúng, đầy đủ và hiệu quả quyền lực của mình.
Phải thấy rằng, công dân cũng có thể lạm
quyền khi sử dụng các quyền của mình. Đó là khi vì tự do cá nhân của
mình mà xâm hại đến tự do của xã hội và tự do của cá nhân khác, là khi công dân
xâm hại đến ý chí chung, thậm chí phạm tội. Ví dụ, sử dụng quyền tự do ngôn
luận, quyền biểu tình, quyền dân chủ... để chống lại cộng đồng và xã hội; lạm
dụng quyền tự do tin, hay không tin tôn giáo tín ngưỡng, để cổ xúy, truyền bá
mê tín dị đoan hoặc tư tưởng hận thù, chia rẽ dân tộc...
Như vậy, một mặt, cần phát huy
dân chủ của nhân dân, để nhân dân có điều kiện thực hành dân chủ, hiện thực hóa
quyền và lợi ích của mình; mặt khác, nhà nước, các đảng chính trị,
và tự bản thân nhân dân cũng cần có cơ chế kiểm soát các hoạt động tự do
quá trớn, vô chính phủ xâm hại quyền tự do, dân chủ của cộng đồng
và của các thành viên khác trong xã hội.
Đảng phải tuyên truyền vận động nhân dân
biết sử dụng quyền lực của mình một cách hiệu quả, từ việc lựa chọn người đại
diện cho mình đến giám sát, phản biện xã hội; từ việc khiếu nại, tố cáo đến
biểu thị ý kiến đúng pháp luật... Nhà nước kiểm soát các biểu hiện dân
chủ quá trớn, tự do vô lối bằng cách ban hành chính sách, pháp luật nhằm hạn
chế tính tự phát, tâm lý đám đông tiêu cực trong các xung đột xã hội.
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” phản ánh những mối quan hệ cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong cơ chế đó, mỗi chủ thể có vai trò, vị trí khác nhau, phối hợp với nhau, kiểm soát lẫn nhau, tạo ra động lực của cơ chế, phát huy tính hiệu quả của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đã được chế định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, nhận thức về vận hành cơ chế này, từ phối hợp thống nhất hành động, cho đến kiểm soát quyền lực trong từng chủ thể, và trong toàn bộ mối quan hệ của cơ chế vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa được cụ thể hóa, vì thế cần được tiếp tục nghiên cứu cụ thể hóa để góp phần hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính
trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 72 - 73
Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đòi hỏi tiếp tục phải đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và xử lý hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ và phát huy vị trí, vai trò của từng nhân tố này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó cần chú ý các vấn đề cơ bản sau đây:
Một là, Đảng ta là Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng là tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện, bao trùm mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là biện pháp, cách thức để thực hiện thành công mục tiêu của Đảng ta đã được xác định trong Điều lệ Đảng: "xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản". Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách; lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chính sách thành pháp luật để quản lý Nhà nước và xã hội. Như vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải liên tục được hoàn thiện để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát huy dân chủ, vì con người, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Để thực hiện tốt công tác này cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, phải có quy trình xây dựng pháp luật chặt chẽ, khoa học, dân chủ để chính sách, pháp luật thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển; nhưng cũng phải linh hoạt để kịp thời phản ứng chính sách, có giải pháp xử lý kịp thời các vấn đề thực tiễn phát sinh làm chậm sự phát triển theo nguyên tắc bảo vệ, bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc là trước hết và trên hết. Là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Quốc hội cần đóng vai trò chủ đạo, có các giải pháp bảo đảm hệ thống pháp luật được ban hành đáp ứng được các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần phát huy vai trò là cơ quan có thẩm quyền giải thích pháp luật để những vướng mắc trong thực thi các đạo luật được xử lý kịp thời, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, Chính phủ cần theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật để kịp thời phát hiện những quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo, chưa phù hợp với thực tiễn, cản trở đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn lực đầu tư, sản xuất, kinh doanh để có biện pháp xử lý, không để một số điều luật trở thành điểm nghẽn cản trở thực hiện quyền con người, quyền công dân và phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ để Nhân dân tham gia hoạt động quản lý Nhà nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức khoa học, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động công vụ phải bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, thực hiện quyền hạn theo chức trách, thẩm quyền, có sự thanh tra, kiểm tra chặt chẽ. Bên cạnh đó, với đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng thì các vị trí lãnh đạo trong bộ máy nhà nước được cơ cấu các vị trí lãnh đạo cấp ủy đảng tương ứng chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở, hình thành cơ cấu lãnh đạo chặt chẽ của Đảng đối với hoạt động quản lý nhà nước. Từ nguyên lý và thực tiễn này, để phát huy hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với xã hội bằng pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cần phải tăng cường đồng thời 02 yếu tố: Đức trị và pháp trị. Trong đó, yếu tố "đức trị" là sự phát huy các ưu điểm, thế mạnh, vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng, tính tiên phong, nêu gương của cán bộ Đảng viên để dẫn dắt yếu tố "pháp trị" là việc thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Sự thượng tôn pháp luật là biểu hiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vì vậy, cán bộ Đảng viên phải gương mẫu, đi đầu trong chấp hành và tuân theo pháp luật. Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực mình quản lý, do đó, Đảng viên là công chức, viên chức cần tích cực giải quyết công việc theo thẩm quyền và hoàn thành tốt nhiệm vụ; chủ động phát hiện, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, nhất là các khó khăn, vướng mắc trong thực thi pháp luật để kịp thời có giải pháp hoặc tham mưu, báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý. Hay nói cách khác, sẽ không có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên thực tế nếu như cán bộ, đảng viên, cơ quan Nhà nước thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm với quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội.
Phát huy đạo đức cách mạng của từng cán bộ Đảng viên, tinh thần trách nhiệm, chủ động của từng cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước thì các mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp được thực hiện; người dân, doanh nghiệp sẽ thực sự là trung tâm, là đối tượng phục vụ theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật thì pháp luật sẽ đi vào cuộc sống, pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện, đầy đủ mọi quan hệ xã hội. Kết quả là, xã hội sẽ vận hành và phát triển theo đúng đường lối, chính sách mà Đảng đã ban hành. Từ đó, đất nước ta sẽ đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh theo đúng Cương lĩnh và mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2045 mà Đảng ta đã đề ra.
Ba là, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân được xác định là người làm chủ theo quy định pháp luật và vận hành theo nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Tuy nhiên, để có dân chủ thực chất thì bên cạnh việc phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện theo các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cũng phải đáp ứng, phù hợp với nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật. Cũng tương tự như trong quản lý nhà nước, vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng và sự phát huy tính tiền phong, gương mẫu, đức hi sinh vì sự nghiệp chung của cán bộ Đảng viên có ý nghĩa quan trọng trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.






