Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

 TCCS - Thời gian qua, Đảng và Nhà nước tiếp tục cải cách mô hình tổ chức tổng thể của cả hệ thống chính trị một cách quyết liệt với mức độ, quy mô của một cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị. Thời gian tới, Đảng và Nhà nước tập trung thực hiện các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ hơn nữa, để mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị thật sự rõ về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền, tinh gọn về tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động, đáp ứng tốt yêu cầu lãnh đạo, dẫn dắt và tổ chức công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Qua gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn, “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(1). Những thành tựu của gần 40 năm đổi mới là tiền đề, là nguồn vốn to lớn và quan trọng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh các thuận lợi, cơ hội, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, từ nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, do hạn chế, yếu kém của nền kinh tế, từ 4 nguy cơ đe dọa đến sự vững bền của Đảng và chế độ, mà Đảng đã chỉ ra từ Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn; từ những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo của tình hình thế giới và khu vực. 

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong bài trao đổi tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã chỉ rõ 7 định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; trong đó, có tới 4 định hướng chiến lược liên quan trực tiếp đến đổi mới hệ thống chính trị: Cải tiến phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường tính đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ cán cấp chiến lược…(2). Điều này cho thấy, nhiệm vụ tiếp tục cải cách mô hình tổ chức và hoạt động của từng thiết chế thành viên của hệ thống chính trị và mô hình tổng thể của hệ thống chính trị vẫn là nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện thắng lợi công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới. 

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII, ngày 23-1-2025, trong đó có bàn tới việc tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả_Ảnh:  TTXVN

Tổ chức của hệ thống chính trị vẫn còn khá cồng kềnh, nhiều tầng nấc; chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức thành viên vẫn còn tình trạng trùng lặp, chồng chéo. Việc hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị cho phù hợp với tình hình thực tiễn còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu. “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”(3); công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn có hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả. Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn những hạn chế, bất cập, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quản lý và bảo vệ đất nước trong tình hình mới. Tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật còn một số bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có mặt chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới, tình trạng hành chính hóa trong hoạt động vẫn chậm được khắc phục. Chi phí cho tổ chức và hoạt động bộ máy của hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng từ nguồn ngân sách nhà nước khá lớn, chiếm một tỷ lệ rất cao (khoảng 70 %) ngân sách nhà nước hằng năm.

Những bất cập, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, nếu chậm được khắc phục sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Việc xây dựng, đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của các thiết chế trong hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả trước yêu cầu mới, cần tập trung vào các vấn đề sau:

Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, với trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị

 Để tiếp tục lãnh đạo, dẫn dắt công cuộc vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới, Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động, thật sự trong sạch, thật sự vững mạnh, ngang tầm với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới. Quán triệt nhất quán quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng; giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng. Không ngừng nâng cao năng lực và đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”(4).

Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để Đảng ta thật sự là “đạo đức, là văn minh”, thật sự là một chính đảng liêm chính theo tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục sắp xếp kiện toàn hệ thống tổ chức đảng các cấp, tinh gọn bộ máy các cơ quan tham mưu của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu trong các cơ quan đảng, ngang tầm với yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ để khắc phục tình trạng “đúng quy trình nhưng không đúng người”. “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5).

Tăng cường dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, củng cố kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với quyết tâm chính trị cao, hành động mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn theo đúng phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đặc biệt là, quyết liệt đấu tranh, ngăn chặn tình trạng lãng phí cả trong khu vực công và khu vực tư, xem cuộc đấu tranh phòng, chống lãng phí là quan trọng và cấp thiết như cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Yếu tố then chốt bảo đảm cho Đảng thật sự là “trí tuệ, lương tâm của thời đại”, là “đạo đức, là văn minh” luôn là phương thức lãnh đạo. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của mình đối với Nhà nước và xã hội.  Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong bối cảnh đất nước và thế giới hiện nay, cần tiến hành một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Cần nghiên cứu sâu hơn, có hệ thống và toàn diện hơn vấn đề đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, xác định rõ mô hình hệ thống chính trị ở nước ta làm cơ sở cho đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Hai là, cần tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện việc kiện toàn tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị để có giải pháp đổi mới mạnh mẽ bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, xác định rõ cơ chế vận hành các mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm cho mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động đúng với vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình.

Trước hết, bản thân Đảng phải tự đổi mới mạnh mẽ cơ cấu tổ chức bộ máy của mình theo hướng tinh gọn và hiệu quả. Mạnh dạn khắc phục tình trạng bộ máy đảng song trùng với bộ máy nhà nước, chồng chéo chức năng, lẫn lộn trách nhiệm. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến địa phương, cần tăng cường sử dụng bộ máy nhà nước làm chức năng tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách; đồng thời, tăng cường củng cố và nâng cao năng lực các ban trực tiếp làm công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm bảo đảm cho Đảng ta thật sự là một tổ chức chính trị gọn về cơ cấu, rõ về chức năng, linh hoạt trong lãnh đạo và sử dụng có hiệu quả bộ máy của Nhà nước.

Ba là, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng, chính sách. Do vậy, trong giai đoạn phát triển hiện nay và những năm tiếp theo cần đổi mới và nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược, các định hướng chính sách của Đảng, đổi mới cách ra nghị quyết và đổi mới nội dung của nghị quyết. Nội dung nghị quyết của Đảng cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, lâu dài, giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước, xử lý những vấn đề cụ thể, nhưng có ý nghĩa chính trị quan trọng, quan hệ với nhiều tầng lớp xã hội, những vấn đề phức tạp trong quan hệ quốc tế. Nội dung các nghị quyết của Đảng cần xác định rõ, cụ thể các quan điểm, các giải pháp lớn, nhằm tạo ra khung chính trị để các cơ quan nhà nước chủ động giải quyết các nhiệm vụ cụ thể; có như vậy, mới tránh được tình trạng các quyết định của các cơ quan nhà nước về thực chất là lặp lại nghị quyết của Đảng dưới một hình thức mới.

Để bảo đảm tính đúng đắn và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, cần tích cực khoa học hóa, dân chủ hóa quy trình xây dựng chính sách, áp dụng nhiều hình thức lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối, chính sách của Đảng; qua đó, phát huy trí tuệ của nhân dân, tiếp thu nguồn sáng tạo từ quần chúng, làm cho đường lối, chính sách không chỉ là sự kết tinh trí tuệ của Đảng, mà còn là kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm và tình cảm của các tầng lớp nhân dân.

Bốn là, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước. Do vậy, một mặt, phải tiếp tục cải cách mạnh mẽ bộ máy nhà nước theo các yêu cầu và tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Theo đó, bộ máy nhà nước phải được tổ chức tinh gọn, chuyên nghiệp hóa, nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mặt khác, phải tạo ra những chuyển biến thật sự tích cực trong mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước theo đúng phương châm: Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Để giải quyết mối quan hệ này, cần nghiên cứu một số giải pháp: 1- Xây dựng và thực hiện phương án nhất thể hóa các chức danh đứng đầu cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương theo hướng người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu chính quyền cùng cấp; bố trí kiêm nhiệm ở một số chức vụ quan trọng giữa cơ quan đảng và cơ quan nhà nước, tạo điều kiện tinh gọn hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; 2- Tinh gọn bộ máy tổ chức của Đảng, theo hướng các cấp ủy từ Trung ương đến các cấp địa phương sử dụng hiệu quả tổ chức bộ máy nhà nước trong vai trò là các cơ quan tham mưu trực tiếp cho cấp ủy; đồng thời, là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nghiên cứu hợp nhất một số cơ quan tham mưu của Đảng tại mỗi cấp, hình thành các cơ quan tham mưu tổng hợp, tạo sự đồng bộ, thống nhất trong tham mưu, thẩm định chủ trương, chính sách, nhằm tinh gọn tổ chức bộ máy đảng tại mỗi cấp; 3- Tập trung kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp ủy, cụ thể hóa các tiêu chuẩn cấp ủy viên, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của cấp ủy viên, đổi mới phương thức bầu cử trong Đảng để đại hội đảng có thể bầu trực tiếp người đứng đầu cấp ủy trên cơ sở cạnh tranh có số dư, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, bảo đảm mọi quyền lực và thực thi quyền lực trong Đảng đều được kiểm soát chặt chẽ.

Năm là, cần cụ thể hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trên cơ sở phát huy mạnh mẽ dân chủ trong công tác cán bộ, đề cao trách nhiệm của cấp ủy, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác này, bảo đảm quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong tất cả các khâu của công tác cán bộ. Nghiên cứu xây dựng các giải pháp đổi mới quy trình, cách thức Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực, phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể nhân dân phù hợp Luật Bầu cử của Nhà nước và điều lệ của các tổ chức.

Trong điều kiện hiện nay, cần có các giải pháp phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, mạnh dạn giới thiệu những người ngoài Đảng có đức, có tài tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể những cán bộ, đảng viên không đủ năng lực công tác, thoái hóa, biến chất, không được quần chúng nhân dân tín nhiệm.

Sáu là, xây dựng và thực hiện các chế độ trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý của các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cán bộ lãnh đạo đối với các công việc thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý và hoạt động của mình. Phân biệt rõ trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân trong mỗi tập thể lãnh đạo, cá thể hóa trách nhiệm một cách cụ thể làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm cho từng tổ chức, tập thể và từng cá nhân cán bộ lãnh đạo đối với từng quyết định sai lầm, từng hiện tượng vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước trong hoạt động của mỗi tổ chức đảng, mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, đảng viên. Nghiên cứu và áp dụng chế độ trách nhiệm liên đới của tổ chức và cá nhân trong các trường hợp cơ quan cấp dưới hoặc cán bộ cấp dưới thuộc quyền lãnh đạo, quản lý có các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng. Hoàn thiện quy trình truy cứu trách nhiệm để có thể thực hiện thuận lợi vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm, vấn đề từ chức, miễn chức, cách chức trong thực tiễn.

Bảy là, đổi mới, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của Đảng đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có các giải pháp nâng cao trách nhiệm kiểm tra, năng lực kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, của người đứng đầu các cấp ủy đối với các tổ chức đảng, các cơ quan, tổ chức nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở mỗi cơ quan, tổ chức; đồng thời, cần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các ủy ban kiểm tra đảng, các cơ quan thanh tra nhà nước theo hướng mở rộng thẩm quyền, cơ cấu lại tổ chức và phương thức hoạt động. Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, giám sát, bảo đảm công tác kiểm tra, giám sát vừa thường xuyên, vừa có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, không gây cản trở, phiền hà cho các đối tượng được kiểm tra; đồng thời, chủ động phát hiện các vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xử lý kiên quyết và đích đáng những cán bộ, đảng viên có hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở bất kỳ cương vị nào.

Tám là, đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo của Đảng, khắc phục tình trạng quan liêu, hình thức, phô trương, lãng phí, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn trong hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước và các đoàn thể quần chúng.

Ngày 28-1-2025 (29 tết), Tổng Bí thư Tô Lâm đến thăm, chúc tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô_Ảnh: TTXVN

Sắp xếp, kiện toàn bộ máy nhà nước, rõ về chức năng, tinh gọn về tổ chức, hiệu quả về hoạt động, ngang tầm yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới

1- Nhà nước là một thiết chế chính trị trung tâm có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Tuy nhiên, dù vai trò của Nhà nước quan trọng, to lớn đến nhường nào thì cũng không thể tạo ra một nhà nước toàn trị, quyết định mọi vấn đề và bao cấp toàn xã hội. Vai trò của Nhà nước luôn có giới hạn trong mối quan hệ với các thiết chế chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị, mối quan hệ với kinh tế thị trường, xã hội và mối quan hệ với nhân dân.

2- Trong lĩnh vực kinh tế, sự quản lý, tác động, điều tiết của Nhà nước vẫn là hết sức cần thiết, nhằm kiểm soát sự vận hành của thị trường. Để thị trường vận hành hiệu quả, cần phải có Nhà nước đủ mạnh để bảo đảm sự tuân thủ các nguyên tắc cạnh tranh. Tuy nhiên, sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với thị trường không được phép tạo ra nguy cơ hành chính hóa nền kinh tế, cũng như thay thế vai trò của thị trường và các doanh nghiệp. Nhà nước phải tự hạn chế, giảm thiểu các biện pháp can thiệp trực tiếp vào thị trường, thông qua việc ban hành pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho vận hành của thị trường, tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng trên thị trường.

3- Nghiên cứu sự thay đổi trong vai trò của Nhà nước, cần được quán triệt cả hai xu hướng: Thứ nhất, tăng cường sức mạnh của Nhà nước thông qua các biện pháp cải tổ mạnh mẽ bộ máy nhà nước từ kết cấu và tổ chức quyền lực, thực hiện quyền của các nhánh quyền lực đến việc cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách tư pháp, làm cho Nhà nước thực sự thích ứng với cơ chế kinh tế - xã hội mới để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra của thời kỳ quá độ. Thứ hai, xu hướng phi nhà nước hóa, từng bước loại bỏ dần sự can thiệp của Nhà nước vào những lĩnh vực quan hệ xã hội, mà tính chất của chúng không đòi hỏi sự can thiệp ấy, tăng cường các khả năng tự chủ của các thiết chế chính trị - xã hội khác theo hướng giải phóng họ khỏi sự phụ thuộc (bảo trợ) của Nhà nước từ tài chính đến tổ chức.

4- Vai trò của Nhà nước trong cơ chế kinh tế - xã hội mới, cần được nhận diện qua những nhiệm vụ cơ bản, mà một nhà nước hiện đại và hiệu quả phải quan tâm thực hiện. Đó là xây dựng một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho sự vận động của dân chủ, kinh tế - xã hội và tự do nhân dân; duy trì và thực thi một hệ thống chính sách không thiên lệch trong sự ổn định kinh tế vĩ mô và điều hòa các quan hệ kinh tế; đầu tư vào các dịch vụ công thiết yếu và kết cấu hạ tầng cơ bản; bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương, bảo vệ môi trường và duy trì một nền an ninh trong mọi lĩnh vực.

5- Những nhiệm vụ mới: Nhà nước phải thực hiện được yêu cầu mới của hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hoạt động lập pháp của Nhà nước trong thời đại ngày nay không hướng trọng tâm vào thể chế hóa quyền quản lý của bộ máy nhà nước (quyền cai trị), mà phải hướng trọng tâm vào tạo dựng khuôn khổ pháp lý vững chắc, ổn định cho một nền dân chủ xã hội và tự do của nhân dân. Điều này có nghĩa là hoạt động lập pháp chuyển trọng tâm từ quy định quyền của bộ máy nhà nước sang xác định nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan này, từ quyền cho phép công quyền sang quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Như vậy, toàn bộ bộ máy nhà nước phải được tổ chức trên nền tảng “phục vụ nhân dân”. 

Tư duy mới về Nhà nước, tạo cơ sở để đổi mới hiệu quả tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trên tất cả phương diện:

Về tổ chức bộ máy nhà nước

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, bộ máy nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện theo các định hướng đã được xác định tại Nghị quyết số 27- NQ/TW, ngày 9-11-2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”; theo đó: 1- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả trong các hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải tuân thủ nghiêm các nguyên tắc của một thiết chế dân chủ nghị trường, khắc phục những biểu hiện “hành chính hóa” trong hoạt động Quốc hội. Đổi mới mạnh mẽ hoạt động lập pháp để tháo gỡ những nút thắt về thể chế đang gây khó khăn cho sự phát triển. Cần kiên quyết chuyển đổi tư duy xây dựng luật để vừa bảo đảm yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng mọi nguồn lực xã hội cho phát triển. Hoàn thiện, nâng cao kỹ thuật xây dựng luật theo hướng, luật chỉ quy định hành lang pháp lý có tính nguyên tắc, tạo khuôn khổ thông thoáng cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, không luật hóa các nghị định, thông tư của Chính phủ, các bộ. Quốc hội chỉ ban hành luật thuộc phạm vi thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp, bảo đảm thẩm quyền lập quy của Chính phủ để xử lý kịp thời, linh hoạt những vấn đề của thực tiễn. Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân để năng cao chất lượng các đại biểu được bầu vào Quốc hội, đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, tầm nhìn trong thảo luận và quyết định chính sách pháp luật. Sắp xếp hợp lý các cơ quan thuộc Quốc hội theo nguyên tắc đa ngành, đa lĩnh vực; từ đó, hợp nhất một số cơ quan của Quốc hội có nhiệm vụ, chức năng gắn bó mật thiết với nhau để giảm bớt số lượng các ủy ban, tinh gọn bộ máy của Quốc hội; đồng thời, đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội trong ý nghĩa là hai trụ cột cơ bản của Quốc hội; 2- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn trách nhiệm của Chủ tịch nước để thực hiện đầy đủ chức năng nguyên thủ quốc gia theo yêu cầu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại và là thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần bảo đảm sự cân bằng và kiểm soát trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 3- Tiếp tục kiện toàn tổ chức Chính phủ theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại. Phân định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn của tập thể Chính phủ và các thành viên Chính phủ theo hướng: Chính phủ tập trung vào thực hiện chức năng xây dựng thể chế, Thủ tướng Chính phủ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nền hành chính quốc gia theo thẩm quyền của người đứng đầu nền hành chính quốc gia; bộ trưởng chịu trách nhiệm về lĩnh vực quản lý nhà nước do mình phụ trách, đúng vị trí của “tư lệnh ngành”. Tiếp tục tinh gọn cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ theo nguyên tắc bộ đa ngành, đa lĩnh vực, mỗi nhiệm vụ quản lý chỉ do một bộ chịu trách nhiệm, tạo căn cứ để giảm bớt số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ so với số lượng hiện hành; tái cấu trúc lại các cơ quan thuộc Chính phủ theo mô hình các cơ quan thực thi để vừa khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng hoạch định chính sách, pháp luật và chức năng tổ chức thực thi chính sách, vừa phòng, chống nguy cơ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm “vừa đá bóng, vừa thổi còi”; 4- Xác định cơ chế bảo đảm tính độc lập của hoạt động tư pháp theo hướng khẳng định tòa án có quyền và có trách nhiệm chỉ căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật để ra các phán quyết, không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ phía các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Trong Nhà nước pháp quyền, chỉ duy nhất tòa án mới có chức năng xét xử, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm tôn trọng phán quyết của tòa án; đồng thời, cần nghiên cứu để tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động kiểm sát, điều tra, thi hành án tương ứng với chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ để vừa có sự phân công, phối hợp, vừa kiểm soát lẫn nhau; 5- Cải cách mạnh mẽ chính quyền địa phương phù hợp với các đặc điểm của nông thôn, đô thị, hải đảo. Phân định rõ thẩm quyền của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, theo hướng phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương theo phương châm: Địa phương tự quyết định các vấn đề của địa phương, địa phương tự làm, địa phương tự chịu trách nhiệm. Hoàn thiện địa vị pháp lý của các cấp chính quyền địa phương theo yêu cầu của pháp nhân công quyền, tạo cơ chế để chính quyền địa phương tự chủ về tài chính, tổ chức bộ máy và biên chế công chức địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển của từng địa phương. Tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương, giảm các cấp hành chính trung gian, đẩy mạnh sắp xếp lại các đơn vị hành chính các cấp địa phương, tạo không gian và nguồn lực cho sự phát triển trong giai đoạn mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát của Trung ương đối với hoạt động của chính quyền địa phương; đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp.   

Về đội ngũ cán bộ, công chức 

 Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Mọi cơ quan, công chức đều phải được giao nhiệm vụ rõ ràng. Việc đánh giá tổ chức, cán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Phải hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm soát thực thi công vụ. Người đứng đầu cơ quan hành chính phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và phải được trao quyền quyết định tương ứng về tổ chức cán bộ. Cần có quy hoạch, kế hoạch tổng thể về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; thực hiện việc quản lý cán bộ, công chức theo hướng quản lý nguồn nhân lực công vụ. Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín đối với nhân dân.

Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, nhà nước hóa của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

Mô hình tổ chức của các tổ chức chính trị - xã hội phải đa dạng và linh hoạt hơn, thích ứng với các môi trường cụ thể của cơ quan nhà nước, sản xuất, kinh doanh, địa bàn dân cư. Tiếp tục sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp theo đúng tính chất của một tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, không rập khuôn máy móc theo mô hình cơ quan nhà nước. Tập trung xây dựng tổ chức bộ máy hợp lý tại cấp trung ương và cấp cơ sở, tinh gọn thực chất và mạnh mẽ cơ cấu tổ chức tại cấp trung gian, giảm đầu mối trực thuộc.

Trên cơ sở phân tích rõ tính chất, đặc điểm và thực trạng của đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để tiến hành tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ này và xây dựng hệ thống cơ chế quản lý, cũng như chế độ, chính sách phù hợp, không rập khuôn như đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và không “công chức hóa” đội ngũ cán bộ trong các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp.

Xây dựng cơ chế, quy chế phối hợp trên cơ sở làm rành mạch chức năng giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; bảo đảm tính độc lập tương đối về tổ chức và kinh phí hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở đó, có sự phân công, ràng buộc trách nhiệm cụ thể, giám sát lẫn nhau giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo sự vận hành đồng bộ, thông suốt của hệ thống chính trị, mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội, nâng cao chất lượng của cả hệ thống chính trị.

Xây dựng cơ chế, chính sách hợp lý để hạn chế, chấm dứt xu hướng “nhà nước hóa”, “hành chính hóa” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cũng như xu hướng “chính trị hóa” của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp một cách tràn lan, tốn kém về kinh phí, mà hoạt động kém hiệu quả, chồng chéo. Đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng, đồng thời củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng thu gọn các “tổ chức cứng”, tinh gọn biên chế chuyên trách, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các phong trào, chú trọng địa bàn cơ sở. Có hình thức phù hợp suy tôn các cá nhân tự nguyện cống hiến, hoạt động trên lĩnh vực này, như các nhà hoạt động xã hội trong thời kỳ mới.

Lực lượng chức năng huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình hướng dẫn người dân thôn 5, xã Tân Hoá bị cô lập do mưa lũ sử dụng đèn tích điện khi chưa có điện lưới_Ảnh: TTXVN

Dựa vào nhân dân để đổi mới hệ thống chính trị

Dựa vào nhân dân là một bài học lịch sử lớn rút ra từ thực tiễn cách mạng nước ta và mãi mãi là một bài học có ý nghĩa cấp thiết trên mỗi chặng đường phát triển đất nước. Quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay, việc thấm nhuần sâu sắc bài học này có ý nghĩa to lớn và là một yếu tố bảo đảm sự thành công của đổi mới. Dựa vào nhân dân, tức là vào vai trò và sức mạnh quyết định của nhân dân.

Để quần chúng nhân dân ủng hộ và tham gia tích cực vào quá trình đổi mới chính trị thì phải hết sức chăm lo tới lợi ích nhu cầu thiết thân, hằng ngày của dân chúng, như cơm ăn, áo mặc, học hành, chỗ ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe và mọi nhu cầu văn hóa tinh thần khác. Phải làm cho mọi thông tin đến được với nhân dân, mọi chủ trương, quyết sách được thảo luận, bàn bạc, góp ý, hiến kế. Những gì thuộc về tự quản cộng đồng, người dân phải được trực tiếp quyết định, do nhân dân làm chủ.

Những hoạt động của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và hành vi của các cán bộ, công chức phải có sự kiểm tra, giám sát xã hội của nhân dân. Nhân dân trực tiếp (qua các phương tiện thông tin đại chúng) hoặc gián tiếp (qua các tổ chức đại diện) tham gia vào việc tư vấn, phản biện với các cơ quan của Đảng và Nhà nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng nhắc nhở cán bộ phải gần dân, hỏi dân, học dân, nghe dân.

Tóm lại, cần thực hành dân chủ rộng rãi, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để nâng cao vai trò làm chủ, rèn luyện năng lực làm chủ, phát huy tác dụng làm chủ của nhân dân, nhất là trong việc xây dựng đường lối, đánh giá chính sách, lựa chọn cán bộ, chấn chỉnh tổ chức, phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực để làm trong sạch bộ máy, thể chế, đoàn kết lực lượng nhân dân và tin tưởng ở năng lực của nhân dân, giải quyết kịp thời những đề nghị chính đáng của nhân dân; đồng thời, luôn đem lại lợi ích cho nhân dân. Đó là cách thức tốt nhất để nhân dân ủng hộ và tích cực tham gia đổi mới hệ thống chính trị. Đổi mới chính trị và hệ thống chính trị dù là rất khó khăn, phức tạp, nhưng nếu có nhân dân tham gia và tổ chức tốt mọi việc để nhân dân tham gia thì chắc chắn sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị sẽ tất yếu thành công./.

…………………………..........

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

 

Để chống lại chủ nghĩa cá nhân, nhất định phải rèn luyện, tu dưỡng và thấm nhuần sâu sắc đạo đức cách mạng, trong đó, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp có ý nghĩa quyết định. Theo Người, “đạo đức cách mạng là: quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”.

 Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực, tự giác nêu gương, nhất là nêu gương về đạo đức, để “giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá...”.

ĐẶC TRƯNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA MÀ NHÂN DÂN TA XÂY DỰNG

 

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

Do nhân dân làm chủ;

Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

ĐỐI VỚI NGƯỜI LÃNH ĐẠO

 

Người lãnh đạo phải ra sức rèn luyện, nêu cao bản lĩnh chính trị, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, năng động và sáng tạo. Từ trí tuệ, năng lực và nhân cách của mình mà phấn đấu, cống hiến cho Đảng, đất nước và xã hội, không cơ hội chính trị, không chạy chức, chạy quyền, không tham vọng quyền lực hoặc lợi dụng chức quyền của mình để trục lợi, xếp đặt chức quyền cho người nhà, người thân. Khi tự mình thấy không có đủ năng lực và uy tín hoặc để xảy ra vụ việc nghiêm trọng thuộc trách nhiệm lãnh đạo, quản lý thì nên chủ động từ chức. Cùng với đó, cán bộ, đảng viên cần nêu gương về lập trường quan điểm, kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa.

QUAN ĐIỂM VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM.

 

Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra.

Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

 

TRÁCH NHIỆM TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Cán bộ và công tác cán bộ luôn là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Thấm nhuần lời dạy của Bác, qua từng thời kỳ cách mạng, công tác cán bộ nói chung, công tác cán bộ trong Quân đội nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn, phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, nâng cao về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, đủ đức, đủ tài đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bởi vậy, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trước những bước ngoặt, tình thế nguy hiểm nhưng chúng ta đều vượt qua và giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 

VẤN ĐỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIỮ VAI TRÒ THEN CHỐT

 

Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ gắn với phát triển văn hoá và nâng cao dân trí. Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ.

“VĂN HÓA SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI”

 

(1) Xây dựng tâm lý: Tinh thần độc lập, tự cường.

 (2) Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

 (3) Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi nhân dân trong xã hội.

(4) Xây dựng chính trị: dân quyền.

 (5) Xây dựng kinh tế. Điều này cho thấy phạm vi rộng lớn, tầm ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, càng làm nổi bật hơn các mối quan hệ cơ bản giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị và văn hóa với sự phát triển xã hội.

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.

 Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao.

 Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hoá.

Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

YÊU CẦU TRONG TU DƯỠNG RÈN LUYỆN CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

 

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự nêu gương về đạo đức, lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; không bị lợi ích vật chất cám dỗ, không bị chi phối bởi “lợi ích nhóm”. Đồng thời, có lối sống khiêm tốn, giản dị, gần dân, hiểu dân, hòa đồng và thấu hiểu con người; có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, ăn ở với nhau có tình có nghĩa như Bác Hồ căn dặn. Nêu gương và đóng góp tích cực vào công tác xây dựng Đảng về đạo đức như Đại hội XII của Đảng đề ra, góp phần làm rõ những chuẩn mực đạo đức trong Đảng và giáo dục đạo đức trong xã hội.

 ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ BAN CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUÂN ĐỘI


Chiều 3-2, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo chủ trì Hội nghị Ban chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.


Dự hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Lê Huy Vịnh; Thượng tướng Phạm Hoài Nam.


Cùng dự có Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Trung tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam; đại biểu lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng.


Ngày 29-1-2025, Quân ủy Trung ương đã ra Quyết định số 3489 thành lập Ban chỉ đạo phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội.


Thực hiện quyết định trên, Cục Khoa học quân sự (Bộ Quốc phòng) đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị xây dựng dự thảo các văn bản phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo.


Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến về nội dung dự thảo các văn bản này, như: Dự thảo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo; dự thảo Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo; dự thảo Quyết định phân công nhiệm vụ thành viên Ban chỉ đạo; dự thảo chương trình công tác năm 2025 của Ban chỉ đạo; dự thảo Quyết định thành lập Tổ giúp việc Ban chỉ đạo.


Kết luận hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang ghi nhận, biểu dương Cục Khoa học quân sự cùng các cơ quan, đơn vị đã tích cực, trách nhiệm trong xây dựng dự thảo các văn bản hoạt động của Ban chỉ đạo.


Nhấn mạnh đến vai trò của phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang cho rằng đây là nhiệm vụ quan trọng, nhằm tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.


Vì vậy, toàn quân, trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc tinh thần đó, chủ động triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, tạo đột phá trong thực hiện công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Cục Khoa học quân sự tiếp thu, tổng hợp đầy đủ ý kiến đóng góp của các đại biểu tại hội nghị, đặc biệt là ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, khẩn trương hoàn thiện văn bản gửi lại cho Ban chỉ đạo, báo cáo Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng./.


Báo QĐND

KHÍ THẾ MỚI BƯỚC VÀO “KỶ NGUYÊN MỚI”

 Chào Xuân Ất Tỵ, chào những hy vọng mới! Chúng ta cùng hướng tới một Việt Nam cất cánh trong khí thế hân hoan và niềm tin trọn vẹn!

“Xuân xuân ơi xuân đã về. Có nỗi vui nào vui hơn ngày xuân đến…”.

Và có nỗi vui nào ý nghĩa hơn khi mùa xuân Ất Tỵ này, ngập tràn trong tâm trí mỗi người dân cũng như cả trong từng mét khối không gian đất nước, là một khí thế mới hừng hực, một luồng sinh khí mạnh mẽ hơn bao giờ hết khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển. Đó là khí thế đất nước bước vào “Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”!

Lật giở lại lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã trải qua nhiều thời kỳ, thời đại hào hùng. Đấy là thời đại Hùng Vương - thời đại khởi nguồn xây dựng nhà nước Văn Lang, đặt nền móng cho độc lập tự chủ. Đấy là thời Lý (năm 1009-1225), thời kỳ hoàng kim trong văn hóa, ghi dấu ấn với hệ thống luật pháp đầu tiên. Đấy là thời Trần (năm 1226-1400) với chiến công vang dội ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, bảo vệ độc lập. Đấy là thời Lê sơ, đỉnh cao của sự thịnh trị với tuyên bố Bình Ngô Đại cáo (1428) khẳng định độc lập dân tộc sau khi đánh bại quân Minh… Đấy là thời Nguyễn (1802 -1945) thống nhất đất nước sau gần 300 năm chia cắt, với những cải cách mang tính bước ngoặt, tạo tiền đề cho tư duy hiện đại hóa…

Tiếp nối truyền thống và kiến tạo vẻ vang, thời đại Hồ Chí Minh đã đặt các dấu mốc lẫy lừng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Khởi đầu một thời đại mới với mục tiêu dân giầu, nước mạnh, độc lập, tự do và hạnh phúc!

Đến thời kỳ Đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thức VI (năm 1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đưa Việt Nam từ một đất nước chồng chất khó khăn sau chiến tranh vươn lên thành quốc gia phát triển năng động, hội nhập quốc tế sâu rộng, GDP tăng trưởng ổn định, xóa đói giảm nghèo rất thành công, cải thiện rõ rệt đời sống của người dân và đặc biệt là giữ vững ổn định chính trị xuyên suốt bốn thập kỷ qua!

Mỗi thời đại khẳng định một dấu ấn vĩ đại và tầm vóc, ý nghĩa khác nhau, nhưng xuyên suốt qua nhiều thế kỷ luôn là ý chí dựng xây một đất nước Việt Nam vững chắc, hùng cường, phồn vinh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” và nhân dân được tự do, no đủ, giàu mạnh!

Và năm mới Ất Tỵ 2025 này, nắm bắt thời cơ bứt phá, một Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với tầm nhìn chiến lược (sẽ được đặt nền móng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV), đang tạo ra niềm hứng khởi mới trong toàn Đảng, toàn dân với nhiều kỳ vọng, động lực, ý chí và niềm tin mạnh mẽ! Nhân dân tin rằng: Với tinh thần đoàn kết và sức mạnh Việt Nam. Với thế và lực được kết tinh từ thành quả của 40 năm đổi mới. Với định hướng sáng suốt của Đảng và quyết tâm thực hiện các quyết sách lớn về đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, sắp xếp tinh gọn bộ máy…, đất nước ta đang có nền tảng vững vàng để mở ra một kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên của sự tăng tốc, vươn lên mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng toàn cầu!

Kỷ nguyên này cũng chính là thời điểm để mỗi người dân Việt Nam ý thức rõ ràng hơn về trách nhiệm, vai trò của mình trong sự phát triển chung của đất nước. Kỷ nguyên này là khát vọng vươn lên, thay đổi vị thế không chỉ của quốc gia dân tộc, mà còn là của từng cá nhân, từng gia đình, từng tập thể. Với tinh thần không ngừng vượt khó, học hỏi, sáng tạo, bứt phá và cống hiến; với truyền thống kết đoàn “ba cây chụm lại lên hòn núi cao”, chúng ta nhất định sẽ cùng nhau chinh phục mọi thử thách, xây dựng xây đất nước ta thịnh vượng!

“Năm 2025, là năm đầy ắp các sự kiện rất quan trọng của đất nước, năm “tăng tốc, bứt phá”, tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng; ý Đảng hòa quyện với lòng Dân về mục tiêu hưng thịnh của Dân tộc. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thử thách, song, Việt Nam sẽ luôn tiến về phía trước, không gì có thể ngăn cản khát vọng vươn mình và tương lai tươi sáng của Dân tộc ta. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đoàn kết một lòng, đồng tâm, hiệp lực, nêu cao tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển bứt phá, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới… Năm mới nhất định sẽ giành được nhiều thắng lợi mới!” – Thông điệp đầu năm mới Ất Tỵ của Chủ tịch nước Lương Cường gửi đến đồng bào cả nước vào thởi khắc chuyển giao thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới, như tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người dân Việt Nam trong quyết tâm thực hiện sứ mệnh của mình!

Rõ ràng rồi, Xuân Ất Tỵ 2025 là xuân đặc biệt, vì đây không chỉ là mùa xuân khởi đầu của một năm mới mà còn mở ra một Kỷ nguyên mới, một hành trình mới với khát vọng vươn mình của dân tộc. Tiếng trống hội Xuân đã vang vọng khắp đất trời, cờ đỏ sao vàng đã rộn ràng khắp muôn nơi, những nụ cười đã rạng rỡ trên môi, “đất nước gấm hoa yên ấm an vui”... Một mùa Xuân đầy ý nghĩa, đầy cảm hứng đã đến rồi!

Chào Xuân Ất Tỵ, chào những hy vọng mới! Chúng ta cùng hướng tới một Việt Nam cất cánh trong khí thế hân hoan và niềm tin trọn vẹn!

 

ĐẢNG MÃI MÃI LÀ MÙA XUÂN!

 Mỗi mùa xuân của dân tộc Việt Nam đều mang dấu ấn của Đảng. Và mỗi bước phát triển của đất nước đều là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Với Đảng, mùa xuân không chỉ là khởi đầu, mà còn là đích đến - một đích đến của hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc và phát triển.

Vì vậy, mỗi dịp Tết đến, Xuân về, trên khắp mọi miền đất nước, mọi người dân Việt Nam lại bồi hồi nhớ về ngày Đảng ta ra đời. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, đúng vào thời khắc giao hòa giữa đất trời của mùa Xuân Canh Ngọ, tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Kể từ mùa Xuân ấy, suốt 95 năm, Đảng ta luôn hòa cùng nhịp thở và mạch sống của dân tộc, "ý Đảng - lòng dân" hòa quyện tạo nên sức mạnh quật khởi, trở thành vũ khí “bách chiến, bách thắng”, đưa đất nước ta, dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Đánh bại các tên đế quốc sừng sỏ, làm nên những chiến thắng "lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu" - huyền thoại có thật trong thế kỷ XX, đặc biệt thành tựu của gần 40 năm đổi mới toàn diện đất nước, thế và lực của Việt Nam ngày càng lớn mạnh; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; chính trị, xã hội ổn định, các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại được quan tâm và có sự chuyển biến tích cực... Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn và tin cậy của bạn bè năm châu. Đây chính là cơ sở tiền đề, bệ phóng vững chắc để Việt Nam vững vàng vươn mình trong kỷ nguyên số, tiếp tục thực hiện thắng lợi khát vọng Việt Nam phát triển hùng cường.

Tuy vậy, con đường đi lên của dân tộc Việt Nam không tránh khỏi khúc quanh co, phức tạp... dù Đảng ta có lúc phạm khuyết điểm, sai lầm, nhưng với bản lĩnh vững vàng, trí tuệ mẫn tiệp và sự khiêm tốn, cầu thị, Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm. Vì vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, luôn xứng đáng là “người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Đất nước ta đã, đang bước vào mùa Xuân mới với tâm thế mới, khí thế mới và hứa hẹn những thành công mới. Đảng ta tiếp tục phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hiện đại, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; kinh tế phát triển năng động, nhanh và bền vững, độc lập, tự chủ gắn với nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; phát huy sức sáng tạo, ý chí và sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Phấn đấu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu, trên cương vị nào luôn giữ vững niềm tin vào Đảng, tin tưởng chắc chắn rằng, Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta, dân tộc ta thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mùa xuân năm 2025 không chỉ là thời điểm mở đầu cho một năm mới, mà còn là khởi đầu cho một kỷ nguyên mới của đất nước, của dân tộc - kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Như dòng chảy mãnh liệt của mùa xuân, tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển của Đảng sẽ tiếp tục lan tỏa, thắp sáng niềm tin và hy vọng cho toàn dân tộc.

 

SỰ KIỆN LỊCH SỬ NGÀY NÀY NĂM XƯA

 Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Được nghe báo cáo về tình hình không thống nhất giữa các tổ chức cộng sản ở trong nước và Hội Việt Nam cách mạng thanh niên bị tan rã, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm tới Trung Quốc vào ngày 23/12/1929. Người triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng họp tại Hồng Công ngày 6/1/1930 để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị kéo dài đến tuần đầu tháng 2/1930. Ngày 8/2/1930, các đại biểu về nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960 quyết nghị "từ nay trở đi lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng".

Để chỉ đạo Hội nghị tiến hành đạt mục tiêu thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc xác định rõ vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tự phê bình và phê bình về những thành kiến giữa các tổ chức cộng sản, dẫn đến tình trạng xung đột, công kích lẫn nhau, phải xóa bỏ những khuyết điểm đó và thành thật hợp tác để thống nhất các tổ chức cộng sản. Tiếp đó, Hội nghị bàn về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thảo luận thông qua Chính cương, Điều lệ, kế hoạch thực hiện việc thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, cử Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Những ý kiến chỉ đạo đó của đồng chí Nguyễn Ái Quốc được Hội nghị tán thành và thực hiện.

Hai tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã phê bình lẫn nhau, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm của họ. Những khuyết điểm chủ yếu của An Nam Cộng sản Đảng là: điều kiện công nhận đảng viên chính thức quá khắt khe, điều kiện gia nhập Công hội, Nông hội, Học sinh hội cũng quá khắt khe.

Đông Dương Cộng sản Đảng thì phạm các sai lầm, khuyết điểm: điều kiện công nhận đảng viên chính thức và điều kiện kết nạp vào Công hội quá khắt khe; về mặt tổ chức, đảng có tính chất bè phái, xa quần chúng, làm tan rã hai tổ chức Thanh niên và Tân Việt.

Kết quả phê bình và tự phê bình đó dẫn tới sự thống nhất thành lập một Đảng Cộng sản. Hội nghị thảo luận và tán thành ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, thông qua kế hoạch thành lập một Đảng Cộng sản lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thống nhất cách cử Ban Chấp hành Tung ương lâm thời: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, có năm ủy viên do Đông Dương Cộng sản Đảng cử, Nam Kỳ có hai ủy viên do Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng cử. Như vậy, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời có tổng số bảy ủy viên1.

Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Hội nghị quyết định chủ trương xây dựng các tổ chức Công hội, Nông hội, Hội phản đế. Theo đó, Công hội và Nông hội sẽ thu hút những công nhân và nông dân không thể kết nạp vào Đảng. Các tầng lớp trí thức, tiểu tư sản vào Hội Phản đế. Hội nghị xác định rõ thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là cử cán bộ vào Nam Kỳ để lãnh đạo và đưa tổ chức này vào Hội Phản đế, đối với Tân Việt thì không giải tán và cũng đưa vào Hội Phản đế, kết nạp những người ưu tú trong tổ chức đó vào Đảng. Đảng chủ trương tranh thủ Quốc dân Đảng, thu nạp đảng viên của Đảng này vào Hội Phản đế. Để thực hiện chủ trương đoàn kết các tố chức cách mạng trong Mặt trận phản đế, "Đảng chỉ định một đồng chí chịu trách nhiệm họp đại biểu tất cả các đảng phái như Tân Việt, Thanh niên, Quốc dân Đảng, Đảng Nguyễn An Ninh, v.v. để thành lập Mặt trận phản đế và về sau cá nhân hoặc tổ chức đều có thể gia nhập".

Chánh cương vắn tắt của Đảng chủ trương làm “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.

Nhiệm vụ của cuộc cách mạng ấy, về phương diện xã hội thì làm sao cho dân chúng được tự do, nam nữ bình quyền và phổ thông giáo dục theo công nông hóa; về phương diện chính trị: đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, tổ chức ra chính phủ công nông binh và quân đội công nông; về phương diện kinh tế thì phải thủ tiêu hết các thứ quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc Pháp giao cho Chính phủ công nông binh quản lý, thu hết ruộng đất chia cho dân nghèo, bỏ sưu thuế cho dân cày mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm tám giờ.

Sách lược vắn tắt của Đảng ghi rõ: Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân. Đảng phải tập hợp được đại bộ phận giai cấp và làm cho giai cấp lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải đoàn kết được đại đa số nông dân, phải dựa vững vào nông dân nghèo, phải hết sức lãnh đạo nông dân nghèo làm cách mạng thổ địa đánh đổ đại địa chủ và phong kiến, Đảng phải "hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc với các giai cấp phải rất cẩn thận không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp". Hơn nữa khi tuyên truyền khẩu hiệu "nước An Nam độc lập", Đảng phải đồng thời nêu khẩu hiệu đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.

Chánh cương vắn tắt của Đảng, sách lược vắn tắt của Đảng là cương lĩnh cách mạng đầu tiên vạch ra con đường đi cho cách mạng Việt Nam. Chánh cương, Sách lược vắn tắt có giá trị vô cùng to lớn - là một trong những nền tảng quan trọng xây dựng nên đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ta.

Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định những vấn đề về: tên Đảng, tôn chỉ, điều lệ, hệ thống tổ chức, trách nhiệm và quyền lợi của đảng viên, các cấp Đảng chấp hành ủy viên, kinh phí và kỷ luật. Điều lệ ghi rõ tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng hòa quyện cùng dân tộc, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, bằng sự khơi dậy ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, bằng việc huy động sức mạnh toàn dân kết hợp với sức mạnh thời đại, Đảng ta đã đưa dân tộc ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nên những kỳ tích trong Cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa độc lập, tự do, hạnh phúc. Chính lúc dân tộc Việt Nam cần một đường lối chính trị đúng đắn, một đội tiên phong dẫn đường, một bộ tham mưu lãnh đạo thì Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đáp ứng kịp thời và đầy đủ những đòi hỏi bức thiết của lịch sử.

Tôn chỉ của Đảng là "lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản". Điều kiện gia nhập Đảng là những ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái đấu tranh và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thì sẽ được kết nạp vào Đảng; đồng thời, Điều lệ cũng quy định rõ thời gian dự bị vào Đảng và tuổi vào Đảng. Hệ thống tổ chức Đảng gồm: chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ; tỉnh bộ, thành bộ, hay đặc biệt bộ; Trung ương. Điều lệ chỉ rõ đảng viên có trách nhiệm tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng, tham gia mọi sự tranh đấu về chính trị và kinh tế của công nông; phải thực hành chính sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản;... Đồng thời đảng viên cũng có quyền tham gia và phát biểu ý kiến trong các cuộc hội nghị của chi bộ. Điều lệ Đảng cũng quy định rõ nhiệm vụ các cấp ủy Đảng; kinh phí và kỷ luật Đảng.

Đảng sẽ thành lập Hội Cứu tế do những đảng viên được Đảng cử ra phụ trách và tuyên truyền phát triển hội viên. Hội Cứu tế làm nhiệm vụ đấu tranh chính trị bảo vệ những chiến sĩ cách mạng, giúp đỡ họ và gia đình họ về vật chất khi họ bị chính quyền thực dân bắt bớ, kết án và tù đày… Về báo chí của Đảng, Hội nghị thành lập Đảng quyết định bỏ những tờ báo của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng xuất bản trước đây. Xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền.

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là bước ngoặt của lịch sử cách mạng Việt Nam, là mốc son đánh dấu sự trưởng thành của phong trào cách mạng Việt Nam. Đó là thành quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam - thời kì đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.

95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã tạo nên những kỳ tích trong lịch sử, trải qua kỷ nguyên đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930-1975); kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới (1975-2025). Và giờ đây, chúng ta bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, khởi đầu bằng sự kiện trọng đại - Đại hội XIV của Đảng. Kỷ nguyên trước tạo tiền đề cho kỷ nguyên sau, kỷ nguyên sau kế thừa, phát triển thành tựu của kỷ nguyên trước, làm cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng hòa quyện, phát triển không ngừng.

Những thành tựu to lớn trong trong gần 40 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, bị các thế lực thù địch điên cuồng chống phá, bị bao vây, cấm vận kinh tế, lại phải chịu nhiều tổn thất do thiên tai khắc nghiệt gây ra, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động không ngừng được cải thiện; chính trị ổn định; lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng được củng cố; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Việt Nam tích lũy đủ thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, trong đó thách thức nổi trội hơn.

Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta không ngừng tìm tòi, phát triển, bổ sung, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử mới, đặt ra yêu cầu cấp bách cần đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để đưa dân tộc ta tiếp tục tiến lên mạnh mẽ. Trong hành trình vĩ đại của dân tộc tiến lên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phấn đấu không mệt mỏi, bền gan vững chí, vượt qua mọi khó khăn thử thách, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, tầm nhìn phát triển mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã hoạch định, hướng tới Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng chính đáng ngàn đời của toàn dân tộc./.

 

MỪNG ĐẢNG QUANG VINH 95 TUỔI– MỪNG XUÂN MỚI 2025

 Mùa xuân lại về, mang theo hơi thở ấm áp và những tia nắng rực rỡ, báo hiệu một năm mới tràn đầy hy vọng và niềm tin. Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu xuân Ất Tỵ 2025, chúng ta cùng hân hoan chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025) – một chặng đường lịch sử vẻ vang, gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Đảng đã và đang tiếp tục lãnh đạo toàn dân tộc hướng tới những thành tựu mới, vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì một Việt Nam giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Trên thế giới, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Trong nước, năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và từng bước thi hành chính sách cai trị thực dân ở Việt Nam, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Mọi giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép. Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Trước tình hình đó, nhân dân ta đã mạnh mẽ vùng lên chiến đấu, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục. Tuy nhiên các cuộc khởi nghĩa liên tiếp thất bại do thiếu một đường lối đúng đắn và tổ chức lãnh đạo thống nhất. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

Trước bối cảnh đó đó, ngày 6/5/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba đã rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, với tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén về chính trị, sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu, Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và nhận ra rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể giải phóng dân tộc. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhằm tuyên truyền, giác ngộ tinh thần cách mạng. Đến năm 1929, từ tổ chức này, ba tổ chức cộng sản ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam. Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được tổ chức tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên, xác định mục tiêu giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Sau khi ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy tụ, đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng lớn: Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai. Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939), bằng sức mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945) dưới sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng với sự đoàn kết, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng viên cộng sản, chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thắng lợi này đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên nhân dân ta mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc. Chỉ hơn 4 tháng sau, cuộc Tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên ngày 6/1/1946 đã bầu ra Quốc hội và Chính phủ hợp hiến, hợp lòng dân. Ngay tại Kỳ họp thứ hai (tháng 11/1946), Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trang trọng khẳng định quyền độc lập của dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm:“Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi và đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (ngày 20/7/1954) chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế - văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề, đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trước một đội quân xâm lược nhà nghề chưa từng thất bại, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật; với chủ trương đánh lâu dài, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của Nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.

Sau chiến tranh, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn. Nhưng với tinh thần cách mạng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, công cuộc Đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 đã đưa đất nước đạt nhiều thành tựu quan trọng. Từ một nước nghèo, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Về kinh tế, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, đạt nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ, khoa học - công nghệ được ứng dụng rộng rãi vào đời sống. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Về văn hóa - xã hội, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện, các chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế được chú trọng. Văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát huy, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng luôn khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh.

Xuân Ất Tỵ 2025 về mang theo niềm tin và kỳ vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh, bền vững, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Mừng Đảng tròn 95 năm vững tay chèo lái con thuyền cách mạng, mừng xuân mới với khí thế mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phát triển bền vững.

 

PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam, đang từng bước tạo tiền đề bền vững cho sự phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động vẫn tìm mọi cách để lan truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc về định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta dưới nhiều cấp độ khác nhau. Do vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là kiên quyết đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái này.

Các luận điệu sai trái, thù địch có nhiều, nhưng có thể khái quát vào ba nhóm vấn đề chủ yếu. Một là, nhóm quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận tính hiện thực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hai là, nhóm quan điểm sai trái, xuyên tạc rằng, kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là tự mâu thuẫn nhau, không thể tương dung trong nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Ba là, nhóm quan điểm xuyên tạc rằng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở lý thuyết khoa học, có chăng chỉ là sự gán ghép khiên cưỡng lý thuyết kinh tế thị trường với lý luận Mác - Lê-nin.

Ba nhóm lập luận nêu trên là điển hình trong rất nhiều quan điểm xuyên tạc, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà các thế lực thù địch, phản động ráo riết truyền bá dưới các màu sắc và cách thức tinh vi, xảo quyệt khác nhau. Âm mưu nguy hiểm của chúng là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên con đường phát triển của đất nước ta. Ý đồ sâu xa của các quan điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch nêu trên là không thừa nhận con đường phát triển đúng đắn, phù hợp của Việt Nam; cố tình bôi nhọ, tìm mọi cách chống phá, trên mọi mặt trận, bằng mọi thủ đoạn hòng xóa bỏ con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chưa cần chỉ ra các cách thức chống phá, luận điệu sai trái, quy chụp vô nguyên tắc, gán ghép bừa bãi hiện tượng với bản chất, tính ngụy biện, lập lờ của các quan điểm nêu trên, bản thân những thành quả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là minh chứng, luận cứ khách quan, xác thực nhất nhằm phản bác không khoan nhượng các quan điểm sai trái, thù địch về định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.

Thứ nhất, việc chuyển thành công từ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là luận cứ đanh thép nhất phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ một nền kinh tế đói nghèo, khủng hoảng, chịu thiệt hại nặng nề bởi chiến tranh do chủ nghĩa thực dân, đế quốc và tay sai bù nhìn gây ra, hiện nay trong nền kinh tế ở Việt Nam đã hiện diện đầy đủ yếu tố thị trường, các loại thị trường với biểu hiện phong phú, hiện thực sinh động và sự tham gia đa dạng các loại hình, các quan hệ kinh tế; số lượng hàng hóa, dịch vụ phong phú, đa dạng, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của mọi người, từ đô thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, từ nơi phát triển đến vùng sâu, vùng xa; hàng hóa, dịch vụ lan tỏa vào mọi khu vực địa lý, mọi loại địa hình.

Thứ hai, chính những thành tựu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã đem lại những kết quả vượt bậc về tăng trưởng kinh tế đi đôi thực hiện tiến bộ xã hội, giảm nghèo bền vững với tốc độ nhanh, hiệu quả, đang được các phương tiện thông tin đại chúng trên khắp thế giới ghi nhận và công bố khách quan, một lần nữa minh chứng cho tính hiện thực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Bên cạnh những thành tựu về giảm nghèo, nhiều thành tựu khác về chỉ số phát triển con người, về mạng lưới an sinh xã hội, về tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người, về sự phát triển của giáo dục, y tế, các dịch vụ cơ bản khác trên tất cả lĩnh vực được thể hiện đậm nét trong các bảng thống kê của các tổ chức trên thế giới.

Thứ ba, nền kinh tế thị trường Việt Nam ngày càng gắn bó với thị trường thế giới, khi hàng hóa của Việt Nam tham gia vào thị trường của hơn 200 quốc gia, vùng lãnh thổ trên khắp hành tinh; và theo chiều ngược lại, chừng đó những dòng hàng hóa, dịch vụ của các thị trường ấy tham gia vào nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Những thành tựu có được chính là nhờ việc thực hiện kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Chính chế độ xã hội chủ nghĩa đã đem lại sự ổn định, phồn vinh của đất nước ta, sự tin tưởng của cộng đồng doanh nghiệp và các chính đảng, nhà nước, tổ chức quốc tế ở khắp nơi trên thế giới đối với Việt Nam. Thực tế đó đã chứng minh tính đúng đắn của việc lựa chọn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, thực tế còn cho thấy, khi đất nước ta càng đạt được nhiều thành tựu, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng chống phá, phủ nhận, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

 

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC ĐỂ KÍCH ĐỘNG “LY KHAI”, “TỰ TRỊ”

 Nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch, tổ chức phản động tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động, vu cáo Ðảng, Nhà nước trên không gian mạng, với rất nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi.

Nổi lên gần đây là việc lập kênh mạng xã hội để cổ xúy, ca ngợi những đối tượng là người H’Mông có hành vi vi phạm chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước Việt Nam hiện đã bỏ trốn ra nước ngoài hoặc đang thụ án tại các cơ sở giam giữ trong nước, coi họ là nạn nhân của chế độ trong nước, qua đó lôi kéo, kích động hận thù và chia rẽ trong đồng bào dân tộc thiểu số, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam...

Nổi lên trong số này là những tổ chức phản động như Hmong United for Justice (Liên minh người H’Mông vì công lý - HUJ), Hmong Human Rights Coalition (Liên minh nhân quyền người H’Mông - HmongHRC), Against Religion Oppression (Chống lại sự đàn áp tôn giáo), Xaivcialis CMA..., tự xưng là các tổ chức độc lập, ôn hòa, không liên quan đến bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào xúi giục thúc đẩy, âm mưu hoặc tiếp tay cho việc sử dụng bạo lực vì bất kỳ mục đích gì, song trên thực tế đây đều là những "tổ chức ma" do Vàng Chỉnh Mình (là người dân tộc H’Mông, sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, hiện đang định cư tại Mỹ) và số đối tượng trong HUJ lập ra. Từ đó, tạo thành hệ thống "chân rết" với nhiều kênh tuyên truyền để tìm kiếm, lôi kéo người H’Mông nhẹ dạ, cả tin nhằm thực hiện những mưu đồ đen tối.

Mục tiêu chính của chúng là tìm ra các đối tượng người H’Mông được học tập, đào tạo bài bản trong hệ thống giáo dục của nhà nước, được thụ hưởng những ưu đãi của chế độ dành cho người dân tộc thiểu số nhưng vì một lý do nào đó trở nên bất mãn, lầm lạc hoặc suy thoái, biến chất, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để "trở cờ", xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước, đưa thông tin sai sự thật về công tác tôn giáo, dân tộc. Sau đó, chúng tập hợp, tổ chức, hỗ trợ cho các phần tử chống phá này cùng gia đình vượt biên trái phép sang Thái Lan, lập hồ sơ xin tị nạn sang các nước thứ ba như Mỹ, Canada để gửi tới Văn phòng của Cao ủy về Người tị nạn của Liên hợp quốc (UNHCR).

Bên cạnh đó, lợi dụng tập quán du canh, du cư của một số đồng bào H’Mông tại các khu vực biên giới, các đối tượng đã thu nạp thành công một số người dân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết, cực đoan nhằm củng cố vây cánh để cùng thực hiện những thủ đoạn chống phá mới, mà nổi lên là các chương trình phỏng vấn "nạn nhân người H’Mông của Nhà nước Việt Nam".

Thông qua chương trình, những đối tượng này đề cập đến một số vụ án, vụ việc vi phạm an ninh, trật tự, hộ tịch, đất đai, tôn giáo trong quá khứ liên quan đến một số người H’Mông vốn đã được cơ quan chức năng xử lý công bằng, dân chủ, minh bạch theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, bằng thủ đoạn ngụy tạo nhân chứng, đánh tráo khái niệm, họ vu cáo Ðảng và Nhà nước Việt Nam đàn áp, bắt bớ, phân biệt đối xử với người H’Mông khiến dân tộc này "bị cô lập", "bức hại", "mất đất đai", "không được thực hành niềm tin tôn giáo", "không được thụ hưởng các chính sách an sinh, xã hội", "không được cấp giấy tờ tùy thân". Thậm chí, họ còn bịa đặt trắng trợn rằng bản thân và gia đình sẽ gặp nguy hiểm, có thể bị sát hại nếu quay về Việt Nam.

Ðảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng có tính chất chỉ đạo hệ thống chính trị các cấp quan tâm hơn nữa đến công tác ở vùng đồng bào dân tộc. Trên cơ sở này, chính quyền tại các địa phương đã triển khai nhiều biện pháp, cách làm hiệu quả giúp đồng bào vươn lên thoát nghèo, phát huy tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong đó, nhấn mạnh đến các chính sách đối thoại, gặp gỡ, giải đáp các khúc mắc của đồng bào đang sinh sống tại địa bàn trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở để cùng nhau tìm ra các chính sách tối ưu nhất phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và tình hình thực tế.

Thời gian tới, bên cạnh việc quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách đối với đồng bào người dân tộc thiểu số, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thông tin, đối ngoại để những thành tựu trong bảo vệ, bảo đảm, phát huy đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung, người H’Mông nói riêng được cộng đồng quốc tế biết đến một cách rộng rãi, đầy đủ, thuyết phục.

Cùng với đó, cần nhanh chóng vạch trần âm mưu, quyết liệt đấu tranh trước các thủ đoạn lợi dụng quyền tự do, dân chủ để đòi "ly khai", "tự trị" các tổ chức chống phá người H’Mông lưu vong. Song song với việc phát huy hiệu quả công tác dân tộc, cần lồng ghép công tác này với các nhiệm vụ chuyên môn để các cơ quan chức năng thường xuyên bám sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, không để xảy ra các "điểm nóng" về an ninh, trật tự../.