Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 Đại hội lần thứ IX - đại hội đầu tiên của Đảng ta trong thế kỷ XXI - là Đại hội của “Trí tuệ, Dân chủ, Đoàn kết, Đổi mới”, có ý nghĩa lịch sử trọng đại, thể hiện ý chí kiên cường và niềm hy vọng lớn lao của cả dân tộc Việt Nam vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội đánh dấu chặng đường 15 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000.

Đại hội chỉ rõ mô hình nền kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định phải coi trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.  

Đất nước bước vào thế kỷ mới

Đến năm 2000 - năm bản lề kết thúc thế kỷ XX, chuyển sang thế kỷ XXI, thiên niên kỷ thứ ba và Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mọi mặt, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện về vật chất, văn hóa, tinh thần.

Tuy nhiên, đất nước ta còn nhiều khó khăn, phức tạp. Đến năm 2000, Việt Nam vẫn chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp. Trình độ khoa học và công nghệ còn lạc hậu; tư tưởng và lý luận nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn thấp; tổ chức và quản lý kinh tế, xã hội còn yếu kém; một số vấn đề văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn bức xúc và gay gắt. Nạn tham nhũng, tham ô, lãng phí chưa được giải quyết triệt để. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng, cán bộ, công chức của Nhà nước và trong dân chúng còn diễn biến phức  tạp.

Trước bối cảnh đó, sau quá trình chuẩn bị rất công phu, nghiêm túc, dân chủ, tập trung trí tuệ của toàn Đảng, ngày 19-4-2001, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.168 đại biểu chính thức, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội nhất trí thông qua các văn kiện quan trọng: Báo cáo chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010; Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005; Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi), Nghị quyết Đại hội; bầu cử thành công Ban Chấp hành Trung ương gồm 150 ủy viên chính thức. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quang cảnh Đại hội lần thứ IX của Đảng. Ảnh: TTXVN 

Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm

Nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của Đại hội, trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhấn mạnh Đại hội nhìn lại chặng đường 71 năm cách mạng Việt Nam, tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đúc rút bài học kinh nghiệm, phát triển và hoàn thiện đường lối chiến lược phát triển đất nước hai thập niên đầu thế kỷ XXI; kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, nêu phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm thời kỳ mới; sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng.

Báo cáo Chính trị “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đã trình bày 10 vấn đề: 

- Việt Nam trong thế kỷ XX và triển vọng trong thế kỷ XXI; 

- Tình hình đất nước 5 năm qua và những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới; 

- Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; 

- Đường lối và chính sách phát triển kinh tế-xã hội; 

- Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 

- Tăng cường quốc phòng và an ninh; 

- Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; 

- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân;

- Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế;

- Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. 

Đánh giá về nước ta trong thế kỷ XX, Đại hội IX khẳng định: Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Các kỳ đại hội của Đảng và những dấu ấn lịch sử - Đại hội lần thứ IX: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tổng Bí thư (khóa IX) Nông Đức Mạnh tặng hoa Tổng Bí thư (khóa VIII) Lê Khả Phiêu. 

Tổng kết những thành tựu đạt được và những vấn đề còn hạn chế, Đại hội IX khẳng định những kinh nghiệm, bài học đổi mới mà các Đại hội VI, VII và VIII của Đảng, đã đúc rút vẫn có giá trị lớn; nhất là các bài học chủ yếu sau: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Ba là, đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới. Đây là những đánh giá có giá trị to lớn của 15 năm đổi mới (1986-2001); tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII và 10 năm thực hiện “Chiến lược ổn định, phát triển kinh tế-xã hội (1991-2001)”.

Đại hội quyết nghị những quan điểm, đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách về xây dựng và phát triển các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước với mục tiêu chiến lược đầy đủ, rõ ràng hơn: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; xây dựng nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; nhất trí đánh giá về những khó khăn, phức tạp, cơ hội và thách thức; những giải pháp chiến lược về phát huy động lực to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc và toàn dân; về tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế.

Về phát triển kinh tế, Đại hội nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. 

Đại hội IX đánh dấu cột mốc quan trọng về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới toàn diện, tiếp tục đưa đất nước phát triển trong những thập niên đầu thế kỷ XXI. Thành công lớn nhất của Đại hội IX là tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối đổi mới, đề ra nhiều chiến lược, quyết sách mới về xây dựng đất nước phát triển theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với lãnh đạo Bộ Công an.

 Sáng 4-2, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với đoàn công tác của Bộ Công an do Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an làm trưởng đoàn.

Báo cáo với Chủ tịch Quốc hội, Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ về tổ chức Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ các mặt công tác bảo đảm an ninh trật tự (ANTT) dịp trước, trong và sau Tết; tăng cường các phương án, kế hoạch bảo đảm an ninh trật tự ở cơ sở, đấu tranh trấn áp mạnh các loại tội phạm, tăng cường các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

Nhờ đó, dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ, tình hình trật tự, an toàn xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; tội phạm, vi phạm pháp luật, tai nạn giao thông, tai nạn cháy nổ giảm sâu so với cùng kỳ năm 2024.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với lãnh đạo Bộ Công an
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với đoàn công tác của Bộ Công an do Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an làm trưởng đoàn. Ảnh: LÂM HIỂN 

Bộ trưởng Lương Tam Quang khẳng định, Bộ Công an sẽ tập trung thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trong đó, để góp phần xây dựng xã hội trật tự kỷ cương, Bộ trưởng sẽ đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chính sách, pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân; tích cực đề xuất Chính phủ, Quốc hội xem xét, quyết định bổ sung những cơ chế, chính sách nhằm tăng cường bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với lãnh đạo Bộ Công an
Đại tướng Lương Tam Quang báo cáo tại cuộc làm việc. Ảnh: LÂM HIỂN

Tại cuộc làm việc, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ghi nhận và đánh giá cao những kết quả Bộ Công an đạt được trong năm 2024, góp phần quan trọng vào những thành tựu chung của đất nước. Nổi bật, Bộ Công an đã đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đẩy mạnh công tác trấn áp, phòng ngừa các loại tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy, vi phạm trật tự an toàn giao thông, chống người thi hành công vụ... Bộ Công an đã gương mẫu đi đầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, làm gương cho các cơ quan, bộ ngành, địa phương thực hiện.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với lãnh đạo Bộ Công an
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với đoàn công tác của Bộ Công an do Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an làm trưởng đoàn. Ảnh: LÂM HIỂN 

Chủ tịch Quốc hội cho biết, Quốc hội rất quan tâm hoàn thiện thể chế, trong đó, vừa qua nhiều luật liên quan đến lĩnh vực quản lý của Bộ Công an đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện với nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực thi nhiệm vụ của ngành; bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng công an.

Cụ thể, vừa qua, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ; Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Luật Phòng, chống mua bán người...; thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống ma túy giai đoạn 2025 -2030. Quốc hội thông qua Nghị quyết cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, các loại khí, chất gây nghiện, gây tác hại cho sức khỏe con người từ năm 2025 nhằm bảo đảm sức khỏe cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội...

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn làm việc với lãnh đạo Bộ Công an
Chủ tịch Quốc hội và các đại biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: LÂM HIỂN

Năm 2025 là năm có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây cũng là năm diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của đất nước như: Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 80 năm thành lập nước và là năm tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Năm 2025 cũng là 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19-8-1945/19-8-2025).

Trên cơ sở đó, Chủ tịch Quốc hội cho biết, năm 2025 nhiệm vụ của lực lượng công an rất nặng nề. Chủ tịch Quốc hội tin tưởng, Bộ Công an sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp quan trọng cho hoạt động lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng quốc gia của Quốc hội, đóng góp cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội trân trọng gửi lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an nhân dân và gia đình.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ.

 Ngày 4-2, Văn phòng Quốc hội có thông báo về Chương trình Phiên họp thứ 42 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Dự kiến, phiên họp này sẽ diễn ra trong 2,5 ngày, từ ngày 5 tới 7-2. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu khai mạc và cùng các Phó chủ tịch Quốc hội thay phiên điều hành nội dung phiên họp.

Dự kiến, về công tác xây dựng pháp luật, tại Phiên họp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; dự án Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét về cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Phiên họp thứ 41 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ảnh: PHẠM THẮNG

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng sẽ xem xét về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội giải quyết các vấn đề phát sinh trong các quy định của pháp luật liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn của Quốc hội; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về số thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV (sửa đổi); dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cụ thể của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội; dự án Pháp lệnh Quản lý, bảo vệ Khu di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, thông qua một số nghị quyết để triển khai thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024; cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Nhà giáo; dự thảo Luật Hóa chất (sửa đổi); xem xét dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giải thích một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022.

Về công tác giám sát, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét Báo cáo công tác dân nguyện của Quốc hội tháng 1-2025.

Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét, thông qua nhiều vấn đề quan trọng khác như: Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về tổ chức bộ máy của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030.

Đáng chú ý, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về công tác nhân sự theo thẩm quyền.

Chủ trương của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua biện pháp hòa bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế nhất là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982.

 

1. Lập trường nhất quán của Việt Nam

Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp được giải thích cụ thể trong Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia năm 1970 (Tuyên bố năm 1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Tuyên bố này được tòa án quốc tế và các học giả có uy tín xem là văn bản có giá trị giải thích Hiến chương Liên hợp quốc. Tiếp theo đó, Đại hội đồng đã thông qua một số nghị quyết khác về nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế, bao gồm Tuyên bố Manila về Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế năm 1982 (Tuyên bố Manila) và Nghị quyết về Ngăn ngừa và hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế năm 2003.

Chủ trương của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua biện pháp hòa bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế nhất là Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982. Đối với các vấn đề liên quan đến hai nước Việt Nam – Trung Quốc thì giải quyết song phương, vấn đề nào liên quan đến các nước khác, liên quan đến tự do hàng hải thì cần có sự bàn bạc của các bên liên quan. Nếu các bên không giải quyết được bằng cơ chế đàm phán thì cần phải giải quyết bằng các phương thức nhau như trung gian hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán quốc tế như Tòa án Công lý Quốc Tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các Tòa Trọng tài.

Trong khi chờ đợi một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông, các bên liên quan cần nghiêm chỉnh thực hiện DOC: nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng, không làm phức tạp hóa tình hình, không có hành động vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở Biển Đông là mối quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực, Việt Nam hoan nghênh nỗ lực và đóng góp của tất cả các nước trong và ngoài khu vực vào việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Trên tinh thần đó, Việt Nam hoan nghênh và đánh giá cao việc cộng đồng quốc tế có những đóng góp xây dựng nhằm bảo vệ an ninh, an toàn hàng hải và duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông; phản đối sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, ủng hộ các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thực tiễn quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển với luật pháp quốc tế, triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả DOC và khuyến khích các bên xây dựng COC.

Thực tế, Việt Nam từng chủ động đưa ra giải pháp tạm thời đó. Chẳng hạn, trong Vịnh Bắc Bộ, mặc dù đã phân giới rõ ràng, Việt Nam vẫn sẵm sàng ký hiệp định đánh cá chung với Trung Quốc tạo điều kiện cho đôi bên làm ăn, ổn định đời sống ngư dân. Gần đây Việt Nam cũng đã ký thỏa thuận khai thác chung với Trung Quốc mỏ dầu vắt ngang qua đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ.

Đó là những thực tiễn có ý nghĩa. Việt Nam không từ chối các giải pháp tạm thời trên cơ sở UNCLOS 1982. Tuy nhiên, Việt Nam không thể chấp nhận quan điểm gác tranh chấp cùng hợp tác dựa trên yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, chiếm gần 90% diện tích Biển Đông, không dựa trên cơ sở pháp lý nào và hoàn toàn trái với tinh thần của UNCLOS 1982, để tạo ra “vùng chồng lấn” nhằm tìm mọi cách thực hiện chủ trương “gác Tranh chấp cùng khai thác” trong vùng biển và thềm lục địa hợp pháp của quốc gia ven Biển Đông.

2. Ghi nhận trong nhiều văn kiện, tuyên bố

Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp ở Biển Đông đã được ghi nhận và nhắc lại nhiều lần trong các văn kiện song phương và khu vực. Các văn kiện khu vực và song phương giữa hai nước nhấn mạnh chủ yếu đến biện pháp tham vấn và đàm phán, không nhắc đến và cũng không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp tài phán.

Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC). Các bên tái khẳng định cam kết tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và “cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, thông qua tham vấn, đàm phán hữu nghị giữa các quốc gia trực tiếp liên quan”. Các bên cũng cam kết “sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiết lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp giữa các bên.”

Năm 2011, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước. Thỏa thuận này yêu cầu hai nước trong quá trình đàm phán phải “thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần” của Tuyên bố DOC. Nếu Thỏa thuận này được xem là một thỏa thuận có tính chất ràng buộc (một điều ước quốc tế) giữa hai nước thì bằng cách dẫn chiếu đến Tuyên bố DOC, hai nước đã trao giá trị ràng buộc cho Tuyên bố DOC.

Trong các tuyên bố chung giữa lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc những năm gần đây, nghĩa vụ không làm phức tạp hay mở rộng tranh chấp được nhắc lại nhiều lần.

Tuyên bố chung về chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc (ngày 11 – 15/10/2011) ghi nhận: “Trước khi giải quyết dứt điểm tranh chấp trên biển, hai bên cùng giữ gìn hòa bình, ổn định trên Biển Đông, giữ thái độ bình tĩnh và kiềm chế, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp, không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước, xử lý các vấn đề nảy sinh với thái độ xây dựng, không để ảnh hưởng tới quan hệ hai Đảng, hai nước và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”

Tuyên bố chung về chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Trung Quốc (ngày 19 – 21/6/2013) bắt đầu ghi nhận Tuyên bố DOC: “…Hai bên nhất trí thực hiện toàn diện, có hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.”

Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc trong chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Việt Nam (ngày 13 – 15/10/2013) ghi nhận: “…Hai bên nhất trí thực hiện đầy đủ, hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông, theo tinh thần và nguyên tắc của “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở đồng thuận, nỗ lực hướng tới thông qua “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC).”

Tuyên bố chung nhân chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc (ngày 7 – 10/4/2015) nhất trí “cùng kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ có hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt - Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.” Trong cùng năm, Tuyên bố chung nhân chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam (ngày 5 – 6/11/2015) nhắc lại nội dung trên.

Có thể thấy, từ năm 2011, các tuyên bố chung đã bắt đầu đề cập đến việc không làm phức tạp, mở rộng tranh chấp trên Biển Đông giữa hai nước. Từ năm 2013, các tuyên bố bắt đầu nhấn mạnh đến việc nghiêm túc tuân thủ một cách toàn diện, đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC và hướng đến xây dựng Tuyên bố COC.

Trong các tuyên bố trên, Việt Nam và Trung Quốc đã cam kết sẽ giải quyết các tranh chấp thông qua biện pháp đàm phán trực tiếp giữa hai nước. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Việt Nam và Trung Quốc bị hạn chế trong việc lựa chọn một biện pháp hòa bình khác. Cam kết đưa ra trong Thỏa thuận năm 2011 và các tuyên bố chung của lãnh đạo hai nước không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp khác, trong đó có biện pháp tài phán. Việt Nam cũng khẳng định Việt Nam không loại trừ sử dụng các biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba.

 Tối 4-2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Diaz-Canel.

Thay mặt Đảng, Nhà nước, nhân dân Cuba và Đại tướng Raul Castro Ruz, đồng chí Miguel Diaz-Canel chuyển những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam anh em nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 / 3-2-2025) và Tết Nguyên đán Ất Tỵ.

Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cuba đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước, coi đó là tấm gương sáng cho phong trào cách mạng, cộng sản quốc tế; đồng thời bày tỏ trân trọng tình đoàn kết và sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Việt Nam dành cho Cuba trong suốt những năm qua.

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba.

Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba
  Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba.
Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba
Các đại biểu tại buổi điện đàm. 
Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba
 Các đại biểu tham dự buổi điện đàm.
Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba
  Tổng Bí thư Tô Lâm điện đàm với Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba.

Tổng Bí thư Tô Lâm chân thành cảm ơn những tình cảm đặc biệt mà Cuba luôn dành cho Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, thể hiện sự gần gũi về chính trị, sự đồng cảm và sẻ chia sâu sắc giữa hai dân tộc; chúc mừng Cuba nhân dịp 66 năm Cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 / 1-1-2025) và những thành tựu mà Cuba đạt được trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, khắc phục khó khăn. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định lại lập trường của Việt Nam ủng hộ các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc trong việc yêu cầu chấm dứt cấm vận chống Cuba.

Trong không khí thắm tình đồng chí, anh em, hướng đến kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba (2-12-1960 / 2-12-2025), lãnh đạo hai Đảng, hai nước đã chia sẻ về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; khẳng định lại tầm quan trọng của quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Cuba, coi đó là tài sản vô giá hai bên cần nỗ lực củng cố và phát triển. Hai bên nhất trí thúc đẩy triển khai nhiều hoạt động hợp tác nhằm tăng cường tin cậy chính trị; triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao đạt được trong chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Cuba tháng 9-2024; tích cực tổ chức các hoạt động kỷ niệm trọng thể, giao lưu nhân dân trong năm hữu nghị Việt Nam - Cuba 2025.

Tổng Bí thư Tô Lâm nhắc lại lời mời và hoan nghênh đồng chí Miguel Diaz-Canel sớm thăm lại Việt Nam trong năm 2025; đồng thời gửi lời thăm hỏi thân thiết tới đồng chí Đại tướng Raul Castro Ruz.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị của Ban Bí thư đánh giá công tác tổ chức Tết Ất Tỵ 2025.

 Sáng 4-2, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị của Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá công tác triển khai thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư về việc tổ chức Tết Ất Tỵ 2025; chỉ đạo một số nhiệm vụ trọng tâm của Trung ương, các cấp ủy trong thời gian tới.

Hội nghị đánh giá, cấp ủy, chính quyền các cấp đã chủ động, kịp thời tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị số 40-CT/TW; chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ nhân dân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm với tinh thần “Mọi người, mọi nhà đều có Tết”. Tết Ất Tỵ 2025 đã diễn ra đầm ấm, an toàn với thời tiết đẹp, thuận lợi cho các hoạt động du Xuân, chúc Tết. Toàn xã hội có không khí vui tươi, phấn khởi khi đón mùa Xuân mới và chào mừng 95 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-1930 / 3-2-2025) với khí thế mới, nhiều kỳ vọng những quyết sách lớn, có tính cách mạng của Đảng, Nhà nước trong năm vừa qua.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị của Ban Bí thư đánh giá công tác tổ chức Tết Ất Tỵ 2025

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu. 

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc các cấp kịp thời đến thăm, chúc Tết, tặng quà các đối tượng chính sách, người lao động không về quê ăn Tết; thăm, động viên các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các lực lượng ứng trực làm nhiệm vụ trong dịp Tết. Chính sách xã hội dịp Tết được thực hiện "đúng, đủ, kịp thời", các địa phương đã hỗ trợ, tặng quà Tết cho hơn 13,5 triệu lượt đối tượng với tổng kinh phí gần 8.000 tỷ đồng. Thị trường hàng hóa phong phú, đảm bảo chất lượng, không để xảy ra tình trạng khan hàng, sốt giá.

Giao thông, điện, thông tin liên lạc cơ bản thông suốt. An toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm có nhiều tiến bộ so với Tết nhiều năm trước. Các lực lượng duy trì nghiêm chế độ trực, thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên cả nước trong dịp Tết ổn định; không có diễn biến bất thường, không xảy ra các vụ việc phức tạp, nghiêm trọng.

Các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đều tổ chức trực trong dịp Tết, ra quân sản xuất đầu năm với khí thế phấn khởi, quyết tâm cao. Tết năm nay, ghi nhận số lượng nhiều hơn các dự án, công trình trọng điểm quốc gia làm việc, thi công xuyên Tết, tổ chức "3 ca, 4 kíp" như các công trình đường cao tốc Bắc Nam, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Nhà ga T3 Tân Sơn Nhất… Một số địa phương chăm lo, tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp với hàng chục nghìn công nhân làm việc trong các khu công nghiệp.

Kết luận hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm biểu dương, đánh giá cao các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 40 về tổ chức Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025; nhấn mạnh thành công của các hoạt động Tết Nguyên đán là điểm khởi đầu thuận lợi cho một năm mới tràn đầy thành công của đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng lưu ý một số vấn đề cần đánh giá, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn: Phát huy những hiệu ứng tích cực của Nghị định 168, cần tiếp tục tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, hình thành ý thức chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông; thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm ùn tắc, giảm tai nạn giao thông; tiếp tục tăng cường tấn công trấn áp tội phạm, nhất là tội phạm lừa đảo trên không gian mạng, tội phạm lợi dụng lễ hội để hoạt động, không để tội phạm hoạt động phức tạp trở lại sau Tết Nguyên đán; đánh giá tổng thể về nhu cầu tiêu dùng, sức mua dịp Tết của người dân để có các giải pháp điều hành sản xuất, định hướng thị trường, "kích cầu" tiêu dùng trong nước...

Về những nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, cơ bản thống nhất với 9 nhóm nhiệm vụ đã đề ra, Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương bắt tay ngay vào công việc sau nghỉ Tết, không để xảy ra tình trạng ăn Tết kéo dài, lơ là công việc, tập trung hoàn thành đúng tiến độ các công việc của tháng 2-2025 và Quý I-2025; tổ chức các lễ hội đầu năm bảo đảm an toàn, tiết kiệm, xử lý nghiêm các hình thức lợi dụng, biến tướng.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị của Ban Bí thư đánh giá công tác tổ chức Tết Ất Tỵ 2025
 Quang cảnh hội nghị.

Các ban, bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai Kết luận số 121-KL/TW ngày 24-1-2025 của Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và phương án sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, bảo đảm các cơ quan sau khi sắp xếp đi vào hoạt động ngay, không gián đoạn, không bỏ sót nhiệm vụ; tiếp tục làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động, ảnh hưởng do sắp xếp tổ chức bộ máy.

Tổng Bí thư đề nghị, chuẩn bị chu đáo các nội dung kỳ họp Quốc hội tháng 2-2025, nhất là những nội dung liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế; đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhất là các nhiệm vụ phải hoàn thành trong Quý I-2025; quyết tâm thực hiện quyết liệt các chủ trương, giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8% năm 2025, tạo đà để tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Các cấp, các ngành triển khai ngay từ đầu năm các giải pháp giải ngân đầu tư công, tháo gỡ các điểm nghẽn để phát triển kinh tế - xã hội.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 14-6-2024 và những nội dung sửa đổi về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; đưa vào sử dụng có hiệu quả phần mềm theo dõi tiến độ đại hội đảng các cấp qua ứng dụng VneID; tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội về các mục tiêu phát triển đất nước; đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái, thù địch, các thông tin xấu, độc, nhất là trên môi trường mạng.

Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay

 

Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam được thể hiện dưới hình thức lý luận. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận duy nhất đúng soi đường dẫn dắt cuộc cách mạng của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đi thắng lợi. Nó không những chỉ ra tính tất yếu, mục tiêu, phương hướng đúng đắn mà cách mạng Việt Nam phải hướng đến, đạt tới, mà còn chỉ ra những nguyên tắc, con đường, biện pháp, cách thức khoa học, mà những người cộng sản và nhân dân Việt Nam phải tuân thủ và thực hiện để vượt qua những khó khăn, thách thức, đấu tranh với các thế lực thù địch đi tới tương lai tốt đẹp; và do đó nó biến toàn bộ hoạt động của cách mạng Việt Nam thành quá trình tự giác, chủ động tích cực. Không có nó, thiếu nó, toàn bộ các hoạt động cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam sẽ trở thành hoạt động tự phát, mò mẫm, phải trả giá đắt, thậm chí thất bại trong cuộc đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực phản động. Vì thế, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ linh hồn, mạch sống của cách mạng Việt Nam và bảo vệ công cụ nhận thức vĩ đại, vũ khí tư tưởng lý luận sắc bén của cách mạng Việt Nam. 

Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngày nay hình thức, biện pháp đấu tranh không chỉ tập trung đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của các học giả tư sản, phản động đủ loại, mà còn phải hướng tới chống những nhận thức sai trái về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong nội bộ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

Trước hết, muốn đấu tranh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin phát triển không ngừng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

Nhưng muốn phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải hiểu đúng sâu sắc, toàn diện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở tiền đề để phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cơ sở, nền tảng để nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khắc phục những nhận thức sai trái trong quần chúng nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời giúp cho không ít người tránh khỏi một “bi kịch” nói trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu thực chất của nó là gì? Đặc biệt, nghiên cứu hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn là cơ sở để phản bác có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là biện pháp tốt nhất để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện ngày nay.

Phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là đặc trưng bản chất, một thuộc tính thể hiện sự hơn hẳn của nó với các học thuyết lý luận khác trong lịch sử, mà còn là mệnh lệnh, yêu cầu của cuộc sống. Đúng như lời dạy của Ph. Ăngghen: mỗi khi có những phát minh vạch thời đại, chủ nghĩa duy vật phải thay đổi hình thức của mình. Ở đây, quan niệm phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng cần được hiểu một cách mềm mại với nhiều trình độ quy mô, phạm vi khác nhau. Sự phát triển ấy có thể diễn ra ở quy mô lớn, đưa chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới, như V.I. Lênin đã từng thực hiện đối với học thuyết Mác - Ăngghen; nhưng cũng có thể là sự vận dụng sáng tạo, phát triển một hoặc một số luận điểm trong toàn bộ hệ thống những quan điểm, học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin, như Đảng ta và một số các đảng cộng sản đã làm. Tuy nhiên, đây đã, đang và sẽ là công việc của sự tìm tòi khó khăn, phức tạp. Sự khó khăn, phức tạp không chỉ vì thực tiễn cách mạng đang vận động, phát triển rất nhanh, mạnh với những diễn biến khó lường, mà còn vì ranh giới giữa chân lý và sai lầm, giữa phát triển sáng tạo với cơ hội xét lại rất mỏng manh. Vì thế, đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm, sự cố gắng phi thường, lòng nhiệt huyết của các nhà khoa học, mà còn cần sự giúp đỡ, cảm thông sẻ chia của các nhà lãnh đạo, tổ chức, quản lý đối với các hoạt động khó khăn, phức tạp không kém chông gai này.

Hiện nay, không chỉ việc truyền bá mà cả việc đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên tất yếu. Song, để đổi mới việc truyền bá có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải kế thừa hạt nhân hợp lý của những nội dung, hình thức cách làm trước đây, kiên quyết gạt bỏ những nội dung, hình thức, biện pháp lỗi thời, lạc hậu, thay vào đó là những nội dung, hình thức đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng hiện nay; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện nhân danh đổi mới phủ nhận tất cả những thành tựu, những giá trị của việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các giai đoạn trước, hoặc bảo thủ trì trệ không chịu suy nghĩ tìm tòi đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới. Đây là một công việc khó, phức tạp; muốn làm tốt phải được tổ chức chu đáo chặt chẽ, khoa học, từ khâu lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đến khâu kiểm tra sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và được đầu tư thỏa đáng về thời gian, công sức, tiền của; mọi sự áp đặt nóng vội, chủ quan không chỉ phản tác dụng, mà còn gây ra những hậu quả khó lường đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Kịp thời đấu tranh với những biểu hiện sai trái của một số cán bộ, đảng viên trong nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hoạt động nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của cán bộ, đảng viên vừa phản ánh kết quả tuyên truyền giáo dục, vừa thể hiện sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hiện thực. Những nhận thức sai trái, sự vận dụng không đúng đắn trong thực tiễn ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ảnh hưởng tiêu cực này càng lớn nếu phạm vi nhận thức, vận dụng sai trái đó ở quy mô lớn, thời gian dài, với những cán bộ giữ những trọng trách lớn trong bộ máy của Đảng, Nhà nước. Hiện nay, bên cạnh cách hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách giáo điều, máy móc, không ít cán bộ, đảng viên hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đơn giản ở trình độ cảm tính, tư duy kinh nghiệm. Họ quy giản chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào một số nguyên lý, quy luật, phạm trù. Không ít người cho rằng triết học Mác - Lênin đúc kết lại chỉ có 2 nội dung: “Vật chất có trước, ý thức có sau và không làm không ăn”, hoặc quy toàn bộ nội dung của triết học Mác - Lênin về hệ thống nguyên tắc phương pháp luận: “Khách quan toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển”,… Đó là sự vi phạm nguyên tắc khách quan, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên, đặt cơ sở nền tảng, định hướng cho mọi nguyên tắc khác và mọi sự xem xét cải tạo xã hội của triết học Mác - Lênin. Hậu quả của tình trạng này sẽ làm suy giảm nghiêm trọng uy tín, sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo điều kiện để các thế lực thù địch tấn công xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin. Hay tình trạng nói không đi đôi với làm, thậm chí nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo đang là hiện tượng khá phổ biến ở một số cán bộ, đảng viên hiện nay. Đây là sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa giải thích thế giới và cải tạo thế giới của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là những biểu hiện của tình trạng “tự diễn biến”, tự làm mất đi bản chất cách mạng khoa học, tước bỏ sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn. 

Kiên quyết, chủ động tích cực vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Nhận rõ bản chất âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngay từ khi chủ nghĩa Mác mới ra đời, giai cấp vô sản và những người cộng sản đã tổ chức đấu tranh làm thất bại những đòn tiến công hiểm độc của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, nội dung, hình thức, lực lượng, phương tiện, thủ đoạn chống phá của chúng đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là không giống nhau. Do vậy, để đấu tranh có hiệu quả với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch hiện nay, trước hết chúng ta cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các lực lượng phản động sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Để chủ động đối phó với tình hình trên, chúng ta cần sớm xây dựng các lực lượng chuyên trách, trở thành lực lượng thường trực, những “quả đấm thép” làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng lý luận. Lực lượng này cần được tuyển chọn kỹ cả về phẩm chất và năng lực, khả năng chuyên môn và bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận và trình độ ngoại ngữ, được tổ chức chặt chẽ, đủ sức làm tham mưu cho Đảng, Nhà nước trong việc định ra những chủ trương, chính sách, kế hoạch cơ bản lâu dài, chủ động làm thất bại sự chống phá của các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có khả năng thường xuyên nắm chắc âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, từ đó trực tiếp triển khai các chiến dịch nhằm đập tan sự chống phá của các chuyên gia lý luận tư sản và các thế lực thù địch; đồng thời có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng các lực lượng đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong phạm vi toàn quốc. 

Trên cơ sở lực lượng phong phú, cần đa dạng hóa hình thức đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài những bài luận chiến, những công trình khoa học được in ấn trên các báo, tạp chí, sách chuyên khảo, cần tăng cường sử dụng đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử, mạng internet, các trang mạng xã hội, như facebook, các blog cá nhân,… để đăng tải, phát hành nhanh chóng, kịp thời, sâu rộng các công trình nghiên cứu đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, cần coi nội dung đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch là một bộ phận cơ bản, không thể thiếu trong các giáo trình các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, trong điều kiện cho phép, chủ động mời các nhà lý luận tư sản tham gia các hội thảo, các buổi giao lưu, trao đổi về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và xúc tiến việc cử cán bộ tham gia các hội thảo quốc tế, giảng dạy về các lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị nhằm tăng cường bản lĩnh, khả năng đấu tranh trực diện với các học giả tư sản trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.