Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VĂN HÓA LÀ NỀN TẢNG TINH THẦN XÃ HỘI!

     Đại hội đại biểu toàn quốc (gọi tắt là đại hội) lần thứ X của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam xác định “phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Ðảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo, xác định gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, “trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”. Như vậy có thể thấy, văn hóa được xem và đặt ngang hàng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của ĐCS Việt Nam về văn hóa và là sự tiếp nối, kế thừa những quan điểm, chủ trương, đường lối về văn hóa của Đảng.

Ngay từ năm 1943, tức 2 năm trước khi đất nước giành được độc lập, ĐCS Đông Dương đã quan tâm đến vấn đề văn hóa. Để chống lại chính sách văn hóa phản động của phát xít Nhật, Pháp và tay sai, Đảng ta đưa ra bản Đề cương văn hóa Việt Nam. Đề cương văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo và được thông qua trong hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp ở Võng La (Đông Anh, Phúc Yên).

Trong bản đề cương này, ĐCS Đông Dương xác định phạm vi văn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật. ĐCS Đông Dương chính thức thông qua Đề cương văn hóa Việt Nam, bày tỏ thái độ của mình đối với vấn đề văn hóa và khẳng định mặt trận văn hóa là một trong 3 mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa. Những người cộng sản Việt Nam không chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa…

Những năm qua, tỉnh Bình Phước luôn ưu tiên tập trung xây dựng và phát triển văn hóa, con người. Trong ảnh: Các đội hình của 16 đội đại diện cho 16 xã, thị trấn của huyện Bù Ðăng tham gia Hội thi giã gạo tại lễ hội “Vang mãi tiếng chày trên sóc Bom Bo” - Ảnh: Ðông Kiểm

Đề cương văn hóa Việt Nam khẳng định: “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội”. Đề cương cũng chỉ ra rằng cách mạng văn hóa có thể hoàn thành khi nào cách mạng chính trị thành công (cách mạng văn hóa phải đi sau cách mạng chính trị). Sau khi Đảng công bố bản đề cương này, cùng năm, Hội Văn hóa cứu quốc ra đời. Như vậy, Đề cương văn hóa Việt Nam là văn kiện chính thức đầu tiên của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ. Điều này khẳng định, ĐCS Việt Nam đã sớm quan tâm đến công tác văn hóa, văn nghệ.

Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập. Sáng 3-9, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ mới, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách liên quan đến văn hóa, đó là diệt giặc dốt và mở lại một chiến dịch giáo dục nhân dân.

Ngày 3-4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 44 thành lập “Ban Trung ương vận động Đời sống mới” với nhiều nhân vật, nhà văn hóa uy tín như Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hòe, Nguyễn Tấn Gi Trọng… Tháng 3-1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn cam go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tài liệu Đời sống mới để giải thích những vấn đề, chủ trương cũng như các biện pháp xây dựng một đời sống mới văn hóa. Tháng 7-1948, tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho hội nghị, trong thư có đoạn: “Trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng (…). Chúng ta cần phải xây dựng một nền văn hóa kháng chiến kiến quốc của toàn dân”. Người cũng nêu nhiệm vụ cụ thể của văn hóa là “chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng, chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ mà còn để lưu truyền cái lịch sử oanh liệt kháng chiến kiến quốc cho hậu thế”.

Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) xác định chủ trương tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng về khoa học, kỹ thuật, là chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới. Các Đại hội IV, V của Đảng tiếp tục kế thừa, thực hiện đường lối phát triển văn hóa mà Đại hội III của Đảng đã đề ra. Nhiệm vụ quan trọng của văn hóa trong giai đoạn này được xác định là tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, phát triển khoa học, văn hóa nghệ thuật, giáo dục…

Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có văn hóa. Ngày 28-11-1978, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW “Về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”. Đây có thể xem là nghị quyết chuyên đề đầu tiên về văn hóa trong giai đoạn đất nước đổi mới.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (được Đại hội VII thông qua) lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung xã hội chủ nghĩa, có tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân được nêu ra trước đây. Cương lĩnh chủ trương xây dựng nền văn hóa mới, tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng. Cương lĩnh khẳng định: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội VII, VIII, IX, X, XI và nhiều nghị quyết Trung ương đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Đây có thể xem là một nhận thức mới, một tầm nhìn mới của Đảng về văn hóa phù hợp với quy luật chung phổ quát của thế giới. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) ngày 14-1-1993 đã ra Nghị quyết “Về một số nhiệm vụ văn hóa, văn nghệ những năm trước mắt” với khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (tháng 7-1998) đã nêu ra 5 quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đề ra những nhiệm vụ cụ thể về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam. Để ngăn chặn, phòng chống văn hóa phẩm độc hại, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2008 “Về chống sự xâm nhập của các văn hóa phẩm độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”. Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (tháng 1-2004), Đảng xác định thêm phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế. Hội nghị Trung ương 10 khóa IX (tháng 7-2004) đặt vấn đề bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về vị trí của văn hóa và công tác văn hóa trong quan hệ với các mặt công tác khác.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu lên 8 phương hướng cơ bản, trong đó có việc kế thừa nội dung từ Cương lĩnh 1991 là “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã đề ra 5 quan điểm, 6 nhiệm vụ và 4 giải pháp quan trọng về xây dựng văn hóa và con người Việt Nam.

Có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với đường lối, quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Kể từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI là chủ trương, quan điểm nhất quán có tính kế thừa, bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam./.
Yêu nước ST.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!

     Hiện nay, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đòi hỏi phải có những biện pháp thiết thực để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đó, đặc biệt là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trong thời qua với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đó là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị; trong đó, Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những lực lượng tiên phong, đi đầu. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Thứ nhất, kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội bảo đảm thắng lợi sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng Quân đội đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm sự độc tôn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.
Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Đây là giải pháp quan trọng, làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tình đoàn kết quân dân; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Theo đó, các cơ sở giáo dục, đào tạo trong Quân đội cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị ở đơn vị cơ sở trong tình hình mới”; duy trì nghiêm chương trình, kế hoạch giáo dục chính trị hàng năm của các đối tượng, các chế độ đọc báo, nghe đài, xem thời sự, Ngày Đảng, Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần...
Thứ tư, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc.
Thứ năm, chủ động, tích cực và nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, “phi chính trị hóa” Quân đội, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, làm cho các tầng lớp nhân dân gắn bó và quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung quan trọng, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục; qua đó, khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Trong thời gian qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đã được tiến hành hiệu quả với nhiều nội dung, hình thức khác nhau. Trong thời gian tới, trước bối cảnh tình hình mới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đặt ra nhiều yêu cầu mới cao hơn. Do đó, những giải pháp như đã nêu là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần tiếp tục được vận dụng một cách sáng tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: MỘT CHUYẾN XE "CÔ ĐƠN" XUYÊN VÙNG RỪNG NÚI TRƯỜNG SƠN VÀO KHOẢNG NĂM 1966 - 1967!

         Máy bay không người lái của địch phát hiện ra chiếc xe này. Chiếc xe ấy cứ bon bon chạy, không nhanh, không chậm, có lẽ bởi vì chở theo một số lượng hàng hóa khá nặng. Quân địch điều khiển chiếc máy bay không người lái lặng lẽ đi theo chiếc xe ấy để có thể phát hiện ra điểm nhận hàng của quân ta. Một trên trời, một mặt đất cứ như vậy gần nửa tiếng đồng hồ…

Sau đó, một sĩ quan địch mới phát hiện ra rằng, đây chỉ là chiếc xe làm “mồi bẫy”, làm nhiệm vụ thu hút sự chú ý của máy bay không người lái và các thiết bị tuần thám. Trên thùng xe chỉ là những hộp đất đá, cây cối, không có vũ khí và lương thực… Chiếc xe “cô đơn” này giúp cho những đoàn gồm hàng chục chiếc xe khác, được ngụy trang kín đáo, chở hàng hóa đầy đủ đến được căn cứ ở những cung đường khác.

Và rồi, một chiếc F-4 Phantom được điều đến và khiến chiếc xe “cô đơn” ấy nổ tung và người lính lái xe ấy chắc chắn sẽ hy sinh. Trong giai đoạn đầu kháng chiến, có một số chiếc xe được làm những nhiệm vụ như vậy… Và mình tự hỏi rằng, những người lính lái xe Trường Sơn nghĩ gì khi họ đã được biết trước rằng, chắc chắn họ sẽ phải nằm lại… 

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. Chỉ cần trong xe có một trái tim”./.
Trích dẫn tư liệu từ tài liệu cựu chiến binh của The 2nd Air Division - Sư đoàn Không quân số 2 - U.S Air Force.
Yêu nước ST.

MỘT SỐ NGUY CƠ ĐE DỌA SINH HỌC THẾ KỶ XXI

MỘT SỐ KHIẾM KHUYẾT CỦA CÔNG ƯỚC CẤM VŨ KHÍ SINH HỌC BTWC!
     Nhận thức được mỗi đe dọa của vũ khí sinh học, Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí vi khuẩn (sinh học) và độc tố và phá hủy chúng (BTWC) đã được phê chuẩn bởi phiên họp thứ 26 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, được triển khai ngày 26 tháng 4 năm 1972 và phê chuẩn bởi 22 quốc gia thành viên, bao gồm Liên Xô. Ba quốc gia là nơi ký kết của Công ước: Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Nga. Đến cuối năm 2024 đã có hơn 180 quốc gia đã ký và phê chuẩn hoặc gia nhập, 4 quốc gia đã ký nhưng không phê chuẩn hiệp ước là: Ai Cập, Haiti, Somalia và Syria. 9 quốc gia không ký hoặc tham gia hiệp ước: Chad, Comoros, Djibouti, Eritrea, Israel, Kiribati, Micronesia, Nam Sudan và Tuvalu. 

Mặc dù Công ước đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thiết lập các điều ước không phổ biến vũ khí sinh học bao gồm những nội dung rất tích cực đó là: thứ nhất cấm sở hữu các tác nhân sinh học ngoại trừ ‘dự phòng, bảo vệ hoặc các mục đích hòa bình khác. Thứ hai, Cấm phát triển các công nghệ nhằm phân tán các tác nhân sinh học cho mục đích tấn công quân sự; và thứ ba là phá hủy các kho tác nhân sinh học hiện có. 

Tuy nhiên, rất nhiều các chuyên gia trên thế giới đều cho rằng, Công ước vẫn còn có những mặt hạn chế đáng kể đó là: thứ nhất công ước không xác định cụ thể các tác nhân hoặc độc tố nào bị cấm và số lượng nào sẽ vượt quá giới hạn cho phép và được coi là có nguy cơ sử dụng làm vũ khí sinh học. Thứ hai không có quy trình xác minh hoặc kiểm tra hiện hành để xác minh sự tuân thủ của các bên ký kết, đồng thời Công ước cũng không xác định rõ ràng các biện pháp trừng phạt các hành vi vi phạm hiệp ước. Và thứ ba là Công ước không có hiệu lực bắt buộc đối với các quốc gia không ký kết hiệp ước và phổ biến vũ khí sinh học.

Trong ba vấn đề nêu trên thì vấn đề thứ hai được coi là vấn đề có thiếu sót lớn nhất. Như vậy là, do không có cơ chế kiểm tra giám sát và chế tài trừng phạt do đó một chương trình nghiên cứu và sản xuất vũ khí sinh học tương đối dễ dàng có thể được giấu kín trong cơ sở hạ tầng công nghệ sinh học của một quốc gia và bất kể các quốc gia có phê chuẩn Công ước hay không thì việc lách luật có thể được thực hiện mà không có bằng chứng rõ ràng cụ thể. Hoàn toàn có khả năng rằng ngay cả một quốc gia nhỏ và tương đối nghèo cũng có thể tham gia thành công chương trình chiến tranh sinh học với một khoản đầu tư vốn nhỏ với vài chục nhà sinh học, tất cả đều có thể được bí mật đặt trong một vài tòa nhà. Trên thực tế, một chương trình vũ khí sinh học cũng có thể nằm trong phạm vi kỹ thuật và tài chính của một tổ chức khủng bố. Tóm lại, mức độ phổ biến vũ khí sinh học rất không chắc chắn, khó phát hiện và khó định lượng. Trường hợp COVID-19 và các phòng thí nghiệm sinh học ở một số nước hiện nay đang là những nghi vấn lớn.

Nhận rõ được các khiếm khuyết đó, từ khi Công ước bắt đầu có hiệu lực đến nay các thành viên của BWC đã nhiều lần tổ chức các hội nghị mà một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các cuộc họp này là để cộng đồng quốc tế giải quyết khuyết điểm thứ hai được đề cập ở trên, bao gồm một dự thảo Nghị định thư cho BTWC đã được phát triển, quy định cho việc thành lập một cơ quan quốc tế để giám sát sự tuân thủ của Công ước. Tuy nhiên, nhiều nước đã đơn phương bác bỏ và phớt lờ với lý do các điều khoản trong nghị định thư có thể làm cản trở cho việc phát triển công nghệ sinh học của các nước đó. Hiện nay, việc thực hiện BTWC được đảm bảo bằng một số biện pháp, bao gồm tuyên bố hàng năm của các nước tham gia về các hoạt động của họ liên quan đến các tác nhân sinh học gây bệnh, cũng như các nỗ lực tăng cường luật pháp quốc gia về cấm công việc bị cấm theo quy ước và ngăn chặn xuất khẩu bất hợp pháp các mầm bệnh và độc tố nguy hiểm./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA - CHO TƯỜNG GÓC TÍCH NƯỚC NHÀ VIỆT NAM"!

     Nối tiếp sự thành công và ủng hộ nhiệt tình của quý khán giả, đặc biệt là thế hệ trẻ dành cho dòng phim lịch sử nước nhà. Điện ảnh Quân đội Nhân dân đã tái hiện cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè năm 1972 trong dự án phim "Mưa Đỏ". Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai, với kịch bản do chính ông chấp bút!

Những nhà sáng tạo nội dung trẻ (Tiktoker) như Nguyễn Lạc Huy, Hà Pu, Hải Triều, David Vinh, Phạm Vinh và Đào Lê Phương Hoa đã tham gia dự án phim lịch sử Mưa đỏ của Điện ảnh Quân đội.

Dù chỉ đóng một vai ngắn, nhưng Phương Hoa - Tiktoker triệu view đã dành nhiều tâm huyết để hóa thân vào nhân vật. Cô chia sẻ: “Hoa sẽ quảng bá bộ phim tới nhiều khán giả để mọi người hiểu hơn về lịch sử đất nước, biết trân trọng hòa bình và cùng nhau làm những việc có ý nghĩa cho xã hội”.

Phim dự kiến hoàn thành vào tháng 7/2025 và ra mắt khán giả vào dịp Quốc khánh 2/9/2025, nhân kỷ niệm 80 năm thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN VỚI DÂN MỘT Ý CHÍ - NÉT ĐẸP MUÔN ĐỜI!

     Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, Quân đội nhân dân Việt Nam từ ngày thành lập đến nay được sự đùm bọc, chở che của nhân dân đã không ngừng lớn mạnh, trưởng thành, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, trở thành một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, xứng đáng với niềm vinh hạnh mà nhân dân ta gửi gắm: "Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu..."!

Đất nước sạch bóng thù 45 năm qua, cả nước đang hân hoan bước vào công cuộc đổi mới và hội nhập nhưng làm sao có thể quên được những mùa đông kháng chiến, các mẹ, các chị thức thâu đêm may áo rét gửi ra tiền tuyến. Mỗi vụ mùa, bà con nông dân ở miền xuôi cũng như miền ngược với khẩu hiệu "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" đã đổ mồ hôi và máu giành giật với kẻ thù từng hạt thóc để nuôi quân.

Máy bay Mỹ đánh phá đường giao thông, nhân dân sẵn sàng dỡ nhà để sửa đường cho xe ra tuyến lửa. Cán bộ, chiến sĩ ta, những thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, không ai là không thấm thía rằng hàng nghìn, hàng vạn chiến công lớn nhỏ của quân đội ta không chiến công nào mà không có sự đóng góp của nhân dân.

Chính những nghĩa tình sâu nặng đó đã hun đúc thêm ý chí trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Cũng do đó mà tên gọi "Bộ đội Ông Ké" trong những ngày tiền khởi nghĩa ở Chiến khu Việt Bắc đến tên gọi "Bộ đội Cụ Hồ" trong kháng chiến sau này, nhân dân ta từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược đã gửi gắm niềm tin yêu đối với quân đội là con em của mình với tên gọi trìu mến như vậy!

Quân đội ta được sinh ra và trưởng thành theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là đội quân chiến đấu với tinh thần quyết chiến, quyết thắng và cũng là đội quân công tác, phục vụ nhân dân với tất cả tấm lòng tôn trọng, tin tưởng và thương yêu nhân dân.

Những năm 60, 70 của thế kỷ XX khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang vào giai đoạn cam go, quyết liệt, bộ đội ta thường xuyên tổ chức những cuộc hành quân dã ngoại, đóng quân ở các bản làng. Với tinh thần "đi dân nhớ, ở dân thương", bộ đội ta mặc dù dọc đường hành quân gặp nhiều gian nan, vất vả, bước quân hành mỏi mệt nhưng luôn sẵn sàng giúp dân mọi việc lớn nhỏ, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật còn hơn cả ở trong doanh trại, nên đi đến đâu cũng được bà con chở che, giúp đỡ và quý trọng, tin yêu.

Còn trong cuộc sống đời thường, chính nhân dân là người giáo dục, rèn luyện phẩm chất của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hầu hết các đơn vị từ bộ đội chủ lực đến bộ đội địa phương, từ bộ binh đến các quân binh chủng đều thấm thía điều đó. Làm tốt công tác dân vận, sâu sát với dân, gắn bó máu thịt với nhân dân là sự sống còn, là bản chất cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ”. Có thể nói rằng làm tốt công tác dân vận là lẽ sống, là nhu cầu tự thân, là tình yêu đối với cha mẹ, đối với Tổ quốc, mãi mãi thiêng liêng!

Trong những năm qua, với chương trình "Chung tay xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", từ các đơn vị bộ đội chủ lực cho đến các đơn vị bộ đội biên phòng, hầu như không có đơn vị nào là không nhận đỡ đầu một xã hoặc một phường trong cuộc vận động đầy tính nhân văn này. Còn gì xúc động bằng khi các đơn vị nhận đỡ đầu là ban chỉ huy đều cụ thể hóa từng vấn đề trong nghị quyết lãnh đạo hằng năm, hằng quý của đơn vị, lên kế hoạch công tác hằng tháng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể của địa phương thực hiện chương trình hiệu quả.

Mặt khác từng đơn vị đóng góp tiền của, công sức trong việc mở đường, xây mới trường học, trạm xá và các công trình phúc lợi khác. Nhờ đó nhiều xã, phường nhanh chóng về đích trong cuộc vận động. Cũng từ đó mà hằng năm cứ đến Ngày Quốc phòng toàn dân, Biên phòng toàn dân là bà con các xóm lại nô nức đến thăm hỏi, tặng quà và giao lưu văn nghệ với các đơn vị bộ đội, làm cho ngày hội mãi mãi lắng đọng tình đoàn kết quân dân một ý chí.

Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí là sức mạnh to lớn, là nét đẹp muôn đời, mãi mãi tô thắm lời dạy sáng ngời của Bác Hồ kính yêu: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công", đập tan mọi âm mưu chia rẽ, phá hoại của các thế lực thù địch, đưa đất nước ta tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH, ÁNH SÁNG VÀ NIỀM TIN YÊU!

         Với bề dày kinh nghiệm lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng gần ba nhiệm kỳ, lại chiêm nghiệm sâu sắc giá trị, ý nghĩa của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thấy rõ sự cần thiết phải phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công” trong bối cảnh mới, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết, khái quát luận điểm nổi tiếng “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” và luận điểm này đã trở thành phương châm chỉ đạo hành động của Đảng ta: Chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường củng cố mối đoàn kết, nhất trí cao trong Đảng vì “đoàn kết làm nên sức mạnh chiến thắng”!

Ý tứ sâu xa và tầm nhìn chiến lược của luận điểm nổi tiếng nêu trên chắc chắn cán bộ, chiến sĩ và mọi người dân Việt Nam đều đã rõ. Hơn tất cả mọi điều muốn nói, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải đề cao vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì “có đoàn kết, nhất trí cao, mọi việc lớn nhỏ, dù khó khăn đến mấy cũng vượt qua, dành thắng lợi”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 95 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự thật ấy cho dù kẻ thù của cách mạng đã và đang tìm mọi cách ngăn cản, chống phá, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hạ thấp uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; cản trở sự phát triển của cách mạng Việt Nam.

Sức sống mới, sự lan tỏa và chiều sâu của câu nói “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” đặt trong bối cảnh lịch sử mới, rồi đem nó soi dọi vào lịch sử Đảng 95 năm qua mới cảm nhận triết lý nhân sinh sâu sắc của nó. Đúng là, trước khi Đảng ta chưa ra đời, ở nước ta “tình hình đen tối như không có đường ra”. Tình cảnh dân tộc ta thật đau thương, nhân dân ta một cổ hai tròng, lúc đầu là sự thống trị tàn ác của thực dân Pháp, rồi sau đó, lại thêm sự áp bức, bóc lột dã man của phát xít Nhật. Với thân phận là người dân nô lệ, nhân dân ta chỉ biết kêu Trời, kêu Phật, bởi nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo đã bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. 

Thế rồi, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, sau nhiều năm bôn ba, tìm đường cứu nước, đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga về Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đề ra đường lối cách mạng vô sản; xây dựng quyết sách đấu tranh cách mạng, bắt đầu từ Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt… Đảng đã ra đời, quy tụ, tập hợp và lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết chiến đấu, triệu người như một, đã vượt ngàn chông gai, quyết tâm làm cách mạng. Súng đạn, sự bao vây, chống phá của quân xâm lược và sự tàn ác của bè lũ phản động đã không cản được Cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh 1930-1931; Phong trào Dân chủ Đông Dương 1936-1939… Đi theo cách mạng, nhiệt tâm ủng hộ Đảng, ủng hộ Cụ Hồ làm cách mạng để giành độc lập, nhân dân ta từ Nam ra Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược; không quản giàu nghèo, trai gái, nam nữ, dân tộc hay tôn giáo, đã đi theo Đảng, chung sức đồng lòng, kết thành một khối thống nhất, lấy “gan vàng chọi với súng đạn”, quyết không sợ vũ khí tối tân của địch. 

Tinh thần đoàn kết, nhất trí cao đã làm nên sức mạnh thần kỳ, đã kết nối toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành một khối thống nhất, tạo nên làn sóng vô cùng mạnh mẽ, đã nhấn chìm lũ cướp nước và bán nước. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là minh chứng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng là hạt nhân đoàn kết; là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc cách mạng “đổi đời”; xóa bỏ tệ nạn người áp bức, bóc lột người; nhân dân ta đã rũ hết “bùn nhơ”, đứng dậy làm chủ nhân đất nước hòa bình, độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Thử thách lớn nhất đối với dân tộc ta là thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, vì chúng quyết cướp nước ta một lần nữa. Hơn 9 năm trời “nếm mật nằm gai”, nhân dân ta kiên gan, bền chí đi theo Đảng, đã chuyển lên Chiến khu Việt Bắc xây dựng căn cứ địa cách mạng để trường kỳ kháng chiến. Ở những thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc”, quân và dân ta tuyệt đối tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, đã “thắt lưng, buộc bụng”, chịu đói, chịu rét, nhưng quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, sẵn sàng “cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh”. Trải qua các chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947, Biên giới 1950; Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954; thậm chí đã kéo pháo vào trận địa rồi lại kéo pháo ra, quyết “đánh chắc, tiến chắc, chắc thắng”.
 
Vào những thời điểm khó khăn, gian khổ ấy, ý Đảng - lòng dân đã hòa quện chặt vào nhau, thành một khối thống nhất; không có thế lực thù địch nào có thể ngăn đường, cản lối chúng ta đi tới; mọi sự xuyên tạc, bóp méo sự thật không thể chặn đà tiến quân của cách mạng. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm nên “thiên sử vàng”, một lần nữa khẳng định rõ ý chí, quyết tâm không gì ngăn cản được của một dân tộc dạn dày, gan góc; một lòng một dạ đi theo Đảng làm cách mạng.

Sức mạnh của tinh thần đoàn kết “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định là ý chí, quyết tâm của một dân tộc và nó đã tái khẳng định trong cuộc kháng chiến kéo dài 21 năm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Rồi chính tinh thần ấy lại được nhân lên, tạo thành sức mạnh vĩ đại để nhân dân ta theo Đảng tiến hành công cuộc đổi mới đất nước gần 40 năm qua, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức bởi sự chống phá quyết liệt của “thù trong, giặc ngoài”, đã giành được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ có tinh thần đoàn kết, nhất trí cao trong Đảng mà nhân dân ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế to lớn như ngày nay. 

Ai đó, các thế lực thù địch, phản động nào đó, đã và đang cố tình bôi đen sự thật về Việt Nam cốt để nói xấu, hạ thấp uy tín, vị thế của Đảng ta, không ngoài mục đích cản trở Đảng ta thực hiện sứ mệnh lịch sử thiêng liêng: xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng; phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. 

Trước đây, trong bão táp cách mạng, địch chống phá trăm bề, quân và dân ta lại khó khăn, thiếu thống nhưng nhờ tinh thần đoàn kết, nhất trí cao, quân và dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thách thức; phá bỏ được mọi rào cản để làm nên những kỳ tích vĩ đại; đã kiến tạo và xây dựng nên giang sơn gấm vóc kỳ vĩ này. 

Giờ đây, sau 40 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chúng ta đã có tất cả và hiện thực hóa trách nhiệm trước dân tộc, trước các anh hùng liệt sĩ và các bậc hiền nhân là làm thăng tiến đất nước ta, biến ước mơ, khát vọng của cả một dân tộc thành hiện thực. 

Áp lực mới trên con đường đi tới, đòi hỏi chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước để sớm về đích tất cả các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã vạch ra, chuẩn bị kỹ cho Đại hội XIV thành công. 

Cán bộ, chiến sĩ toàn quân ta tin tưởng sâu sắc rằng, trong kháng chiến chống quân xâm lược Pháp và Mỹ - mọi công việc đều khó khăn, thách thức. Hơn thế, kẻ thù xâm lược nước ta lại mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần về kinh tế, quân sự… nhưng cuối cùng, chúng đã chịu thất bại thảm hại. Rõ ràng, đánh thắng địch thì nhất định chúng ta phải mạnh hơn địch. Lịch sử cách mạng Việt Nam - lịch sử Quân đội ta đã ghi nhận điều ấy và chúng ta đang phát huy bài học kinh nghiệm quý báu này hiệu quả.

Ngày nay, thời cuộc đã đổi khác, đặc biệt là môi trường toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; Việt Nam đang chịu tác động từ nhiều phía của tình hình thế giới, khu vực…; dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang tiến hành cuộc cách mạng về thể chế với quyết tâm tinh gọn bộ máy và kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đập tan sự chống phá vô cùng quyết liệt của các thế lực thù địch. 

Chúng ta tin tưởng rằng, với kinh nghiệm, sự sáng suốt và tài tình thao lược của mình, nhất định Đảng sẽ dẫn dắt quân và dân ta giành được những thành tựu mới vĩ đại hơn. Đó là một điều chắc chắn. Bài học kinh nghiệm về 95 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” là đất nước phát triển./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRỒNG RAU XANH HỒI SINH VÙNG ĐẤT KHÔ CẰN ABYEI!

         Giữa vùng đất khô cằn Abyei, khu vườn tăng gia tập trung của Đội Công binh số 3 Việt Nam giống như một “ốc đảo” xanh tươi với những luống rau xanh mướt, giàn cà chua, bầu, bí, mướp... quả sai trĩu cành!

Khu vực Abyei, vùng đất nằm giữa Sudan và Nam Sudan, có điều kiện khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Mùa khô mang đến nền nhiệt cao luôn ở mức gần 40 độ C, nắng cháy rát, độ ẩm thấp, trong khi đất đai lại cằn cỗi, bạc màu, điều kiện canh tác khó khăn. Tuy nhiên, vượt qua mọi thử thách, những người lính công binh Việt Nam đã biến điều không thể thành có thể, tạo nên những vườn rau xanh tốt ngay giữa lòng chảo khô cằn của châu Phi, cung cấp nguồn rau xanh hằng ngày cho bộ đội.

Ngay khi đặt chân đến Abyei làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, Đội Công binh Việt Nam đã xác định việc tăng gia sản xuất không chỉ giúp cải thiện bữa ăn mà còn nâng cao đời sống tinh thần, bảo đảm sức khỏe cho bộ đội. Nguồn thực phẩm do Liên hợp quốc cung cấp rất hạn chế rau xanh, chỉ gồm một số loại như khoai tây, cà chua, hành tây, cải bắp, cải thảo, nên tự chủ về nguồn rau xanh là yêu cầu bắt buộc. 

Các cán bộ, nhân viên mang theo hạt giống từ Việt Nam, trong đó chú trọng lựa chọn những giống cây có khả năng chịu hạn tốt như rau muống, mồng tơi, cải xanh, cà chua, bí đỏ, bí xanh, mướp… Đồng thời chủ động quy hoạch lại khu tăng gia tập trung rộng hơn 250 mét vuông, khai thác nguồn nước thải đã qua xử lý để tươi tiêu và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện năng suất cây trồng. Nước thải sinh hoạt vốn đã qua hệ thống máy và hoá chất xử lý nên sẽ làm tăng độ chua của đất, do không có vôi để khử nên khi xử lý là không hề đơn giản.

Nhằm bảo đảm tăng gia hiệu quả, đơn vị khoán chỉ tiêu sản phẩm cho từng phân đội để đưa vào đánh giá thi đua hằng tháng. Các sản phẩm thu được sẽ được nhập tập trung đưa vào bếp ăn thường xuyên của đơn vị và cho các phân đội đi công tác lẻ mang theo.

Ngoài tăng gia tập trung ở doanh trại, các bộ phận công tác xa đơn vị, dài ngày như hiện nay ở doanh trại Ghana cũng chủ động canh tác tại diện tích nhỏ quanh lán trại để chủ động nguồn rau xanh. Các bộ phận này đang thi công doanh trại thông minh cho đơn vị Ghana cách căn cứ Highway, nơi đóng quân của Đội Công binh số 3 khoảng 35km. 

Để chống chọi với cái nắng gay gắt, khu tăng gia tập trung được dựng mái che nhằm bảo vệ cây trồng khỏi ánh nắng trực tiếp. Đất khô cằn được cải tạo bằng cách gom nhặt cỏ cây chặt nhỏ và ngâm ủ, tận dụng rác thải hữu cơ từ bếp ăn làm phân xanh, thu gom phân gia súc tại địa bàn để tăng độ màu mỡ. Bên cạnh đó, thay vì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, các chiến sĩ công binh đã tự chế thuốc trừ sâu từ các nguyên liệu tự nhiên, vỏ cam, ớt, hành, tỏi được giã nhuyễn và pha loãng để xua đuổi côn trùng, vừa giúp bảo vệ cây trồng, vừa bảo đảm thân thiện với môi trường. 

Là một trong những thành viên được giao trực tiếp chăm sóc vườn tăng gia, Đại úy QNCN Trần Ngọc Sơn chia sẻ: Ở đây đất chủ yếu là sét bùn nghèo chất dinh dưỡng, khi mưa thì bó gốc, khi khô thì rắn mặt nên cây trồng chậm phát triển. Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã làm hệ thống mái che để giảm thiểu tối đa những tác hại trực tiếp của mưa, nắng, đồng thời gom cỏ cây thân mềm chặt nhỏ ra để ngâm ủ và trộn lẫn với đất để tạo độ xốp và tăng chất dinh dưỡng. Với đặc thù mùa khô các loại cỏ cây bị chết vàng úa nên các loại côn trùng có hại như ruồi vàng, bọ xít, bọ cánh cứng… không có nơi trú ngụ nên thường tập trung vào phá hoại các loại cây ăn quả ngay khi mới thụ phấn. Để bảo vệ vườn rau, ngoài việc phun thuốc, chúng tôi đã phải căng thêm lưới che chắn, sử dụng túi nilon để bao bọc.

Nhằm tiết kiệm nước tưới, bộ đội công binh đã áp dụng mô hình luân canh, xen canh nhằm tối ưu hóa diện tích đất trồng. Những loại cây có thời gian sinh trưởng ngắn được trồng đan xen với cây dài ngày, giúp tăng sản lượng và bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh. Điển hình như các loại cải xanh, mồng tơi, rau muống, bầu canh, mướp, bí xanh và một số loại đậu được lựa chọn vì khả năng chịu hạn tốt, dưới những tán cây dài ngày là các loại rau gia vị như thìa là, mùi tàu, rau mùi, rau húng... Trong số các loại rau mang từ Việt Nam, cải bẹ Đông Dư là giống phát triển rất tốt, đơn vị ăn không hết, nên phải ủ muối dưa ăn dần.

Toàn bộ lượng rau xanh sau khi thu hoạch được đã giúp cải thiện và nâng cao chất lượng bữa ăn, giảm bớt sự phụ thuộc vào thực phẩm nhập khẩu. Ngoài ra, việc tăng gia sản xuất còn rèn luyện tính kỷ luật, tinh thần lao động và đoàn kết trong đơn vị, giúp các chiến sĩ có thêm nghị lực để hoàn thành nhiệm vụ. Mỗi phân đội giao cho một người chuyên chăm sóc vườn tăng gia, ngoài ra khi cần sẽ huy động thêm nhân lực vào các giờ nghỉ và ngày nghỉ.

Nhờ sự kiên trì và sáng tạo, công tác tăng gia tại căn cứ Highway đã đạt được nhiều kết quả ấn tượng, dần trở thành một mô hình đáng học hỏi với địa phương và đơn vị bạn, đặc biệt là đã tạo một không gian xanh mát giữa khung cảnh khô cằn của vùng Abyei khắc nghiệt.

Câu chuyện về những người lính công binh nơi vùng đất khắc nghiệt này chính là minh chứng sống động cho tinh thần bền bỉ, sáng tạo, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua của bộ đội Việt Nam. Không chỉ hoàn thành sứ mệnh gìn giữ hòa bình, họ còn mang đến màu xanh và sức sống mới cho mảnh đất tưởng chừng như không thể trồng trọt, góp phần lan tỏa hình ảnh tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ - dù ở bất kỳ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vẫn luôn vững vàng và toả sáng./.


Yêu nước ST.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật thời gian tới

 


Một là, quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Cần quán triệt đầy đủ và sâu sắc hơn nữa các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp theo Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật, hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,… gắn với chủ động phòng ngừa các nguy cơ đe dọa xâm hại an ninh quốc gia, đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Trong đó, hoàn thiện đồng bộ thể chế, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là một trong những đột phá chiến lược; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng, an ninh và liên quan đến quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.

Hai là, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật. Tham mưu cho các cơ quan, ban, ngành trong việc soạn thảo, ban hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp. Tham mưu, đề xuất sửa đổi, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về an ninh, trật tự trong hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực pháp luật, quản lý hoạt động của các cơ quan, tổ chức nước ngoài,… và kiên quyết loại bỏ những chương trình, dự án có dấu hiệu vi phạm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Tham mưu nội dung về bố trí, sử dụng nhân sự đối với các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, pháp luật và đại biểu các cơ quan dân cử có chức năng xây dựng, sửa đổi pháp luật. Chủ động kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền loại bỏ các yếu tố có thể trở thành điều kiện để các thế lực thù địch gia tăng hoạt động móc nối, tác động, can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật ở nước ta. Đồng thời, các cơ quan tư pháp, cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cần chú trọng nắm tình hình những yếu tố liên quan tới dấu hiệu “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “chệch hướng tư tưởng” của một số cán bộ, đảng viên trong nội bộ, vấn đề “dân chủ nghị trường”, “phản biện chính sách” để kịp thời tham mưu lãnh đạo các cấp có các biện pháp phòng ngừa, răn đe, chấn chỉnh, xử lý, tránh gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị nội bộ, ảnh hướng đến công tác xây dựng pháp luật.

Ba là, chú trọng công tác vận động quần chúng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, hoạt động, phương thức, thủ đoạn, sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong xây dựng pháp luật ở nước ta. Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần phối hợp chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong quần chúng nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Đại hội XIII của Đảng. Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là phổ biến rộng rãi các dự thảo luật đang được xây dựng, định hướng dư luận xã hội về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của các văn bản luật đối với xã hội, với người dân; đồng thời, vạch trần âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch lợi dụng quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Chú trọng việc tổ chức tập huấn, tọa đàm, sinh hoạt chính trị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên làm việc tại các cơ quan lập pháp, tư pháp; cơ quan tiếp nhận, thụ hưởng các chương trình, dự án hợp tác với nước ngoài về xây dựng pháp luật; cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật; cơ quan tiến hành hợp tác quốc tế về xây dựng pháp luật; luật sư trong các liên đoàn luật sư, hội luật gia... Tích cực phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong xây dựng pháp luật.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật, đặc biệt là về hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật. Các cơ quan, ban, ngành hữu quan cần thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong xây dựng pháp luật. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức nước ngoài, nhất là các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và trong nước đã, đang hoặc chuẩn bị đầu tư thực hiện các dự án, chương trình về xây dựng pháp luật của Việt Nam. Các cơ quan chức năng cần phối hợp, tham gia thẩm định các dự án, chương trình có dấu hiệu phức tạp trong việc hỗ trợ xây dựng pháp luật, cảnh báo, khuyến nghị kịp thời âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch đến các cơ quan, đơn vị hoạch định chính sách. Quản lý chặt chẽ công tác hợp tác quốc tế trong xây dựng pháp luật, các hội nghị, hội thảo quốc tế, các chương trình tài trợ, dự án liên quan đến xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư và các tổ chức nghề nghiệp, nhất là số đối tượng khoác áo “cấp tiến” trong nước có mối quan hệ, tiếp xúc với cá nhân, tổ chức nước ngoài; các đối tượng xấu, có quan điểm sai trái, thù địch./.

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2025

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ ÂM MƯU "PHI CHÍNH TRỊ HOÁ QUÂN ĐỘI" CỦA KẺ THÙ!

         Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
      Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta cần nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của kẻ thù là nhằm chuyển hướng chính trị của Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản. Từ đó, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các bước tiếp theo giống như kiểu “Cách mạng Hoa hồng”, “Cách mạng Đường phố”, “Cách mạng Cam”,... mà chúng đã thành công ở hàng loạt nước trên thế giới./.

Yêu nước ST.

“Lũy tre biên thùy” ở biên giới Lai Châu

 


 Phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp góp tiền mua tre về trồng dọc theo đường biên giới và bàn giao cho nhân dân quản lý, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống là cách làm của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Huổi Luông, BĐBP Lai Châu được chính quyền địa phương đánh giá cao. Phên dậu biên cương được “xây” bằng những cây tre thân thuộc với tinh thần đoàn kết gắn bó quân và dân nơi biên giới.

Mô hình “Lũy tre biên thùy” đã được triển khai thí điểm tại bản Hồ Thầu (xã Huổi Luông, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). Đây là mô hình trồng tre Bát Độ dọc theo đường biên giới với chiều dài gần 3km. “Nhóm tác giả” của “Lũy tre biên thùy” là các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Huổi Luông - những người luôn trăn trở với các dự án giúp dân phát triển kinh tế.

Nói về ý tưởng trồng tre,Trung tá Lê Văn Quyết, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Huổi Luông cho biết: Dọc tuyến biên giới do Đồn Biên phòng Huổi Luông quản lý, địa hình hiểm trở, nhân dân sống thưa thớt, còn nhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc, đồi cây tạp... Sau nhiều lần khảo sát và họp bàn kỹ lưỡng, Đồn Biên phòng Huổi Luông nhận thấy, giống tre Bát Độ lấy măng dễ thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết trên địa bàn huyện Phong Thổ. Chưa kể chi phí trồng, chăm sóc cây tre không cao, thời gian cây trưởng thành và cho thu hoạch măng khoảng 2 năm, mang lại giá trị kinh tế cho bà con trên địa bàn.

Đồn Biên phòng Huổi Luông phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Phong Thổ, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Lai Châu, UBND xã Huổi Luông triển khai thí điểm mô hình trồng tre Bát Độ trên biên giới với tên gọi mô hình “Lũy tre biên thùy”. Tre Bát Độ cho năng suất măng cao, cây ít bị sâu bệnh, dễ trồng, phù hợp với các loại thổ nhưỡng, khí hậu. Đây là thực phẩm an toàn với người tiêu dùng, vì thế được bà con hào hứng đón nhận.

Sau khi trồng, tre được bàn giao lại cho các hộ dân tham gia ở bản Hồ Thầu, xã Huổi Luông chăm sóc, quản lý và khai thác để làm mô hình sinh kế cho người dân. Thực hiện mô hình này, Đồn Biên phòng Huổi Luông đã lựa chọn kỹ lưỡng chừng 3.600 cây tre để trồng thử nghiệm trên địa bàn. Tổng kinh phí triển khai mô hình là 90 triệu đồng.

Chia sẻ về mô hình này, Trung tá Lê Văn Quyết cho hay: "Những mầm tre được trồng dọc theo theo tuyến biên giới, tương lai sẽ “nở cành xanh ngọn” trở thành “phên dậu xanh” bền vững. Hình ảnh cây tre nơi biên giới Việt có ý nghĩa lớn về văn hóa, thể hiện hình ảnh thân thuộc, gắn liền với đời sống của mỗi người dân Việt Nam, đại diện cho tinh thần kiên cường, bất khuất, dẻo dai, đoàn kết gắn bó của dân tộc. Đặc biệt, cây tre cũng như ngoại giao Việt Nam, là sự kết hợp hài hòa giữa “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.

Hơn nữa, việc trồng tre làm hàng rào biên giới "mềm" chi phí thấp hơn nhiều so với đầu tư xây dựng hệ thống hàng rào cứng nên vừa tạo nguồn sinh kế mới cho người dân địa phương, vừa góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc, chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho đồn Biên phòng và nhân dân xã Huổi Luông, bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu. Đối với công tác quản lý, bảo vệ biên giới, việc trồng tre giúp nhân dân dễ nhận biết đường biên giới, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ biên giới".

Ngay từ khi đề xuất, mô hình “Lũy tre biên thùy” được cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương ủng hộ, nhất là bà con bản Hồ Thầu đồng lòng, hồ hởi vào cuộc. Người dân tin tưởng với sự chung tay, đồng hành của cán bộ, chiến sĩ Biên phòng thì nhất định mô hình sinh kế này sẽ thành công. Hàng tre được ươm trồng nhanh chóng, hình thành hàng rào "mềm" dọc đường biên. Hằng ngày, các hộ dân trong bản Hồ Thầu đều đặn lên nương rẫy, đến chăm sóc hàng tre được bộ đội giao, đồng thời trực tiếp tham gia bảo vệ đường biên, mốc giới.

"Trồng tre để phát triển kinh tế là một hướng đi mới, không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân, mà còn góp phần đẩy mạnh phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới" theo Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ" - Ông Lê Văn Dung, Bí thư Đảng ủy xã Huổi Luông cho biết.

Với chăm sóc chu đáo, lũy tre Hồ Thầu đang co lớn từng ngày. Không bao lâu nữa, khu vực đồi trọc này sẽ được phủ màu xanh bạt ngàn. Tre Bát Độ có thể thu hoạch sau 2-3 năm trồng. Trung bình năm đầu tiên cho thu hoạch từ 11-23kg măng/bụi, đến năm thứ 6 cho 20-25kg măng/bụi, sang năm thứ 7-8 có thể cho 30-40kg măng/bụi...

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả của mô hình “Lũy tre biên thùy”, Đồn Biên phòng Huổi Luông tiếp tục nghiên cứu tham mưu cho Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh; Huyện ủy, UBND huyện Phong Thổ mở rộng mô hình trên các đoạn biên giới thuộc huyện Phong Thổ và tuyến biên giới tỉnh Lai Châu để mô hình phát triển bền vững, thực sự trở thành “Lũy thép biên thùy” trên biên giới Lai Châu.

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống

 


An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm mới xuất hiện trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và đã trở thành vấn đề toàn cầu của mọi quốc gia, dân tộc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Những vấn đề ANPTT ngày càng đa dạng, phức tạp, tác động mạnh mẽ” và đề ra nhiệm vụ “sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức ANPTT và an ninh truyền thống”.

ANPTT dùng để chỉ các mối đe dọa, thách thức phi truyền thống đối với an ninh quốc gia, dân tộc, cộng đồng và sự ổn định của mỗi con người, có nguồn gốc phi quân sự từ các tác nhân, chủ thể phi nhà nước. ANPTT có thể khiến một quốc gia, thể chế, chế độ lung lay, bất ổn, sụp đổ, tiêu vong mà không cần bất kỳ một hoạt động chiến tranh quân sự nào. Các mối đe dọa ANPTT có đặc điểm là bột phát, đột ngột, không rõ ràng, phi chính thức nhưng lại dễ bùng phát và lan tỏa.

Quán triệt sâu sắc nhận thức và tư duy mới về an ninh quốc gia nói chung, ANPTT nói riêng của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã xác định, ứng phó hiệu quả với các thách thức ANPTT là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở khu vực biên giới (KVBG) nói riêng và toàn quốc nói chung. Từ đó, cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, toàn quân đã chủ động đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch và các đối tượng cơ hội chính trị, giảm thiểu tác động, đe dọa của vấn đề ANPTT trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở KVBG. Đặc biệt là BĐBP, với vai trò chuyên trách của mình trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này một cách đồng bộ, sáng tạo và hiệu quả.

Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến chuyển phức tạp và khó lường như hiện nay, mặc dù vùng DTTS nói chung và KVBG nói riêng đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, đầu tư phát triển toàn diện, nhưng khu vực này vẫn tồn tại những bất cập cần tháo gỡ như: Chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn giữa vùng DTTS, biên giới với các vùng kinh tế phát triển của cả nước; hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở còn yếu kém; hệ thống chính sách an sinh xã hội, giáo dục, y tế hoạt động hiệu quả chưa cao; hệ thống chính trị cấp cơ sở và nguồn nhân lực tại chỗ chưa tương xứng với yêu cầu công việc và nhiệm vụ được giao; vấn đề biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan cũng sẽ tác động lên mọi mặt đời sống, xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, địa bàn vùng DTTS nơi biên giới là nơi xa xôi cách trở, đường biên giới kéo dài nên có nhiều điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm về ma túy, mua bán người hoạt động; đối tượng phạm tội nguy hiểm lẩn trốn; các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy và phong tục tập quán lạc hậu chưa được xóa bỏ... làm gia tăng nguy cơ mất an ninh, an toàn cho đồng bào sinh sống ở KVBG. Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng vận động và tác động của các yếu tố ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, đáng lưu ý là những xu hướng sau:

Một là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh chính trị, thể hiện chính ở yếu tố dân tộc - tôn giáo, tiềm ẩn những nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về an ninh chính trị, xã hội ở KVBG và có xu hướng gia tăng cả về tính chất và mức độ của các nguy cơ. Ở vùng DTTS, tính chất đa tộc người và cư trú phân tán, đan xen giữa các dân tộc dễ tạo ra những điều kiện, nguyên nhân có thể dẫn tới những xung đột, mâu thuẫn giữa các dân tộc do chưa hiểu biết về phong tục, tập quán hoặc va chạm nhau về quyền lợi kinh tế, đặc biệt giữa các DTTS với dân tộc Kinh.

Cùng với đó, các thế lực thù địch thường xuyên và gia tăng lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, đời sống khó khăn, trình độ kinh tế và dân trí thấp của đồng bào các DTTS, để chống phá, gây mất ổn định chính trị-xã hội, tiến tới thực hiện âm mưu chiến lược là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Sự phát triển của các tôn giáo lớn và sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới trong đồng bào DTTS những năm gần đây làm rạn nứt khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, tiềm ẩn những nguy cơ gây bất ổn an ninh chính trị; tình trạng truyền đạo trái pháp luật, đơn thư khiếu nại vượt cấp, nêu ra các yêu sách không chính đáng, gây mâu thuẫn với chính quyền, gây chia rẽ giữa người theo đạo và người không theo đạo.

Hai là, xu hướng vận động của yếu tố an ninh, trật tự, an toàn xã hội thể hiện ở hiện tượng kích động, đòi ly khai dân tộc trong vùng DTTS ở KVBG đã và đang nổi lên như là một thách thức lớn đối với an ninh quốc gia nói chung và an ninh biên giới quốc gia nói riêng. Xu hướng này được chuyển hóa thành nhiều cách tiếp cận để đạt được mục đích như chuyển khẩu hiệu từ thành lập, phục hồi “vương quốc”, “xứ tự trị” sang “nhà nước” (quốc gia - dân tộc) cho đồng bào DTTS theo tiêu chí mà Liên hợp quốc công nhận để tìm kiếm sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, trên các diễn đàn quốc tế để gây áp lực với Nhà nước ta.

Các tổ chức phản động sẽ tiếp tục tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai dân tộc, lôi kéo, tập hợp quần chúng gây ra các vụ phá rối an ninh, bạo loạn; tiến hành các hoạt động phục hồi, thành lập cái gọi là “nhà nước”, như: “Nhà nước Đề Ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krom” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc với yêu sách có quyền sở hữu, kiểm soát đất đai, lãnh thổ và tài nguyên trên lãnh thổ, bao gồm một số nơi ở KVBG.

Hoạt động của các tổ chức phản động này núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi “quyền tự quyết” của các DTTS, tuyên truyền rằng, các DTTS ở Việt Nam có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của mình, có quyền thành lập nhà nước riêng. Các tổ chức này có xu hướng liên kết với nhau và liên kết các tổ chức phản động người Việt lưu vong nhằm tạo ra một lực lượng thống nhất để quốc tế hóa vấn đề dân tộc nói chung và hoạt động ly khai trong DTTS ở Việt Nam nói riêng.

Ba là, xu hướng liên quan đến tập quán du canh, du cư, di cư tự do sẽ có chiều hướng gia tăng, phức tạp cả về số lượng người di cư, hướng di cư... trong thời gian tới, cũng gây áp lực và tạo nguy cơ tác động lớn đến ANPTT trong vùng DTTS ở KVBG, gây khó khăn trong công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu, nảy sinh mâu thuẫn giữa các cộng đồng DTTS tại chỗ với dân di cư tự do, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng DTTS.

Các đối tượng xấu tiếp tục lợi dụng hoạt động di dân tự do tại KVBG Việt - Lào và các vùng khác dọc biên giới để truyền đạo trái pháp luật; mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; tàng trữ chất nổ, vũ khí quân dụng; mua bán người; xuất, nhập cảnh trái phép; phá rừng... làm cho tình hình tội phạm phức tạp, gây tâm lý bất an, lo lắng trong đồng bào vùng DTTS ở KVBG.

Xác định được rõ những xu hướng này, trong thời gian tới, Quân đội nói chung và BĐBP nói riêng cần chủ động, tích cực hơn nữa trong ngăn ngừa, ứng phó với các thách thức ANPTT, đặc biệt chú trọng đến những vấn đề nổi cộm ở vùng DTTS và KVBG. Theo đó, cần tập trung làm tốt những nội dung sau:

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, chủ động và phối hợp để chuẩn bị tốt các phương án ứng phó với các mối đe dọa ANPTT ở KVBG. Qua việc nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động chính trị, kinh tế toàn cầu, những vấn đề ANPTT; phát huy đầy đủ năng lực nội sinh; từ đó, xác định từng nhóm giải pháp đúng đắn, phù hợp nhằm ứng phó với các mối đe dọa ANPTT trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội trong vùng đồng bào DTTS ở KVBG.

Mặt khác, cần tích cực phối hợp với các cấp, các ban, ngành, lực lượng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tiếp tục thực hiện tốt công tác tư tưởng, giáo dục, tuyên truyền nhằm tạo nên sự thống nhất rộng rãi trong nhận thức xã hội về những nội dung, những biểu hiện mới của các yếu tố ANPPT. Trên cơ sở đó, chỉ rõ những tác động chung, cũng như những tác động mang tính đặc thù đối với từng lĩnh vực của vùng DTTS ở KVBG.

Từ đó, làm rõ những thuận lợi cơ bản, những khó khăn chủ yếu và các giải pháp trước mắt, cũng như lâu dài để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và sự ổn định, phát triển của từng địa phương trước các mối đe dọa ANPTT trong thời kỳ mới hiện nay. Tập trung bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đồng bào DTTS thường xuyên, liên tục; tăng cường trang bị phương tiện hiện đại, đáp ứng yêu cầu ứng phó với những thách thức ANPTT trong thời gian tới.

Đồng thời, chủ động xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án mang tính chiến lược để ngăn chặn, đối phó với các thách thức từ ANPTT; trọng tâm là xây dựng và cụ thể hóa các chiến lược, như: Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược bảo đảm an ninh mạng; Chiến lược phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; Chiến lược bảo vệ môi trường; Chiến lược phòng, chống và kiểm soát ma túy, mua bán người... Việc chuẩn bị tốt các phương án ứng phó được biểu hiện cụ thể trong hành động thực tiễn, cũng như trong việc thực hiện nghị quyết, chủ trương của Đảng và trong các đề án, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, việc chủ động ứng phó trước các mối đe dọa ANPTT phản ánh qua sự cố gắng của Đảng bộ, chính quyền, các lực lượng vũ trang và nhân dân; cùng sự tích cực hợp tác quốc tế và phối hợp hành động tại các diễn đàn quốc tế, khu vực và với láng giềng... nhằm tiếp thu kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước; hợp tác xây dựng các đề án, phương án ứng phó với những thách thức ANPTT vùng DTTS ở KVBG...

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 07 THÁNG 02 NĂM 1958!

     “Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”!

Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc tế, ngày 7/2/1958. Đây là giai đoạn Người có nhiều hoạt động đối ngoại, viếng thăm các nước. Qua đó, Người thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam trong đối ngoại, tố cáo những âm mưu chia cắt, cô lập đất nước ta lâu dài và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta.

Câu nói trên đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt nam. Quán triệt và thực hiện quan điểm của Người, hoạt động đối ngoại của nước ta không ngừng mở rộng và phát triển, đã tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cho cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đặc biệt, quan điểm đó của Người đã mở đường cho chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại, Việt nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

Thực hiện lời dạy trên của Người, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang quán triệt sâu sắc đường lối phát triển đất nước, đường lối quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc phù hợp với khả năng và bản chất nhân văn, nhân đạo của một quân đội cách mạng. Quán triệt, thực hiện quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, quân đội cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó nhận rõ đối tượng tác chiến; không ngừng chăm lo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới./.
Môi trường ST.

Giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới bằng thế trận lòng dân

 


Trong những năm qua, cấp ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng Bình Thạnh, BĐBP Long An luôn tập trung triển khai đồng bộ và toàn diện các biện pháp công tác Biên phòng, gần dân, bám địa bàn, thực hiện phương châm “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Qua đó, góp phần củng cố “thế trận lòng dân” nơi biên cương, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Chúng tôi có mặt tại Đồn Biên phòng Bình Thạnh trong một buổi tuần tra, bảo vệ biên giới. Đây là một trong những hoạt động góp phần giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được đơn vị duy trì thực hiện. Trong năm 2025, đơn vị đã chức được trên 300 tổ với hơn 1.000 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia tuần tra, bảo vệ biên giới; phối hợp với công an, quân sự xã Bình Thạnh tổ chức 64 tổ với 320 lượt cán bộ, chiến sĩ tuần tra, kiểm soát, kiểm tra lưu trú ban đêm trên địa bàn. Qua đó, kịp thời phát hiện, bắt giữ 1 vụ/2 đối tượng có hành vi xuất nhập cảnh trái phép, bắt giữ 1 đối tượng nghi vấn có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Đồn Biên phòng Bình Thạnh đứng chân trên địa bàn xã Bình Thạnh, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, quản lý đoạn biên giới dài trên 9km đường bộ. Trong những năm qua, đoạn biên giới do đồn quản lý, phụ trách luôn được giữ vững, cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức quần chúng địa phương luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo, điều hành địa phương.

Xác định rõ việc củng cố vững chắc “thế trận lòng dân” trên địa bàn biên giới có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, thời gian qua, cấp ủy, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng Bình Thạnh tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, tích cực vận động nhân dân chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định về biên giới, lãnh thổ, quy định của địa phương.

Với nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền, vận động phong phú, đa dạng, phù hợp với tình hình thực tế địa bàn, Đồn Biên phòng Bình Thạnh đã góp phần nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân trên địa bàn đóng quân, từ đó, nhân dân nhận biết và hiểu rõ những vấn đề cơ bản trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò, sức mạnh của nhân dân, về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Qua đó, tạo sự tin tưởng vững chắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, của cấp ủy, chính quyền địa phương, phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, vai trò của quần chúng nhân dân trong tham gia bảo vệ biên giới, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc.

Ông Nguyễn Ngọc Minh (ấp Sậy Giăng, xã Bình Thạnh) chia sẻ: "Được cán bộ đồn Biên phòng thường xuyên tuyên truyền về các quy định của Nhà nước và của địa phương, bản thân và gia đình tôi đã biết và hiểu rõ về trách nhiệm của công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ biên giới, từ đó, chúng tôi luôn tích cực, tự giác phối hợp cùng với BĐBP trong tham gia giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn".

Trong năm 2023, Đồn Biên phòng Bình Thạnh đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, Hiệp định về quy chế biên giới giữa Việt Nam - Campuchia, các văn bản có liên quan đến công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được 63 cuộc/896 người nghe, tuyên truyền nhỏ lẻ được 372 lượt người nghe. Phối hợp với Đài Phát thanh huyện Mộc Hóa và xã Bình Thạnh tuyên truyền thông tin đại chúng được 28 buổi, mỗi buổi 30 phút về các văn bản liên quan đến công tác phân giới cắm mốc, Luật Biên phòng Việt Nam... Đơn vị cũng tham mưu cho UBND huyện Mộc Hóa tổ chức gặp gỡ, đối thoại, giải quyết tốt những vấn đề phát sinh vướng mắc, khó khăn với các hộ dân trên địa bàn đóng quân.

Bên cạnh đó, đơn vị đã tham mưu cho UBND xã Bình Thạnh thực hiện tốt Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 9/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới. Trong 6 tháng đầu năm, đơn vị đã phối hợp tổ chức tuyên truyền cho 316 lượt người về thực hiện phong trào; phát trên 300 tờ rơi tuyên truyền về Luật Biên phòng Việt Nam, các quy định về quy chế biên giới, lãnh thổ.

Trung tá Phạm Khắc Thụ, Chính trị viên Đồn Biên phòng Bình Thạnh cho biết: "Cấp ủy, Ban Chỉ huy đồn luôn xác định rõ tầm quan trọng trong xây dựng, củng cố và phát huy “thế trận lòng dân” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Vì vậy, thời gian qua, đơn vị đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp cơ bản, trong đó, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đến mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định về biên giới, lãnh thổ, quy định của địa phương. Từ đó, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao từ quần chúng nhân dân, nhận thức của người dân được nâng lên, là yếu tố quan trọng giúp đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao".