Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Phẩm chất và khả năng cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Phẩm chất của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có trí tuệ, bản lĩnh, ý thức tổ chức kỷ luật cao. Giai cấp công nhân Việt Nam được trang bị lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đấu tranh giành chính quyền, mặc dù bị kẻ thù tìm mọi cách đàn áp, thủ tiêu những người cộng sản vẫn giữ được bản lĩnh vững vàng, lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi. Sau khi giành được chính quyền, Đảng phải chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành thắng lợi trước hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, đánh bại âm mưu, hành động xâm lược ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam.

Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng vẫn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước và đạt được thành tựu to lớn. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng đi đầu, xung kích trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phấn đấu đến 2025 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để. Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp bóc lột cùng bè lũ tay sai và bị bóc lột nặng nề. Ngay từ khi ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng đấu tranh chống giai cấp bóc lột và sớm tổ chức ra chính đảng của mình để lãnh đạo cách mạng, thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Khả năng của giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển mới về chất của giai cấp công nhân Việt Nam từ tự phát lên tự giác. Từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng vươn lên và phát triển mọi mặt, từng bước giác ngộ và hiện thực hoá sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Cũng từ đây, giai cấp công nhân Việt Nam - thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt Nam - bước lên vũ đài chính trị nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Giai cấp công nhân Việt Nam có khả năng đoàn kết, tập hợp rộng rãi các giai tầng trong xã hội, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ khi ra đời cho đến nay, lợi ích của giai cấp công nhân luôn gắn bó với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và toàn dân tộc. Làm cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân gắn bó hữu cơ với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mối quan hệ giai cấp và dân tộc là điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân tập hợp được rộng rãi các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động khác của cả dân tộc, xây dựng nên khối liên minh công nông và khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của mình.

Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam


Tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”[1]. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời, phát triển gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng: Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời muộn hơn giai cấp công nhân quốc tế.

Cùng với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam đã ra đời từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhưng do giai cấp công nhân Việt Nam được sinh ra ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, dưới ách thống trị của thực dân Pháp nên giai cấp công nhân phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng. Mặc dù sinh trưởng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, đa số là nông dân, nhưng lại được hình thành phát triển sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, được sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản, giai cấp công nhân Việt Nam sớm có chính Đảng của mình, luôn giữ vững được truyền thống, bản chất cách mạng, thống nhất về tư tưởng và tổ chức trong phạm vi cả nước.

Giai cấp công nhân Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm.

Ra đời, tồn tại và phát triển trong cuộc đấu tranh chống tư bản thực dân đế quốc và phong kiến, trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp để giành độc lập, chủ quyền, xóa bỏ ách áp bức bóc lột và thống trị thực dân, giai cấp công nhân Việt Nam đã từng bước thể hiện là lực lượng chính trị tiên phong để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân và phong kiến, mở đường cho sự phát triển của dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản. Phẩm chất chính trị nổi bật của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ thể hiện ở ý thức giai cấp và lập trường chính trị mà còn thể hiện tinh thần dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân, với dân tộc, có truyền thống yêu nước, đoàn kết và bất khuất chống xâm lược.

Giai cấp công nhân Việt Nam xuất thân chủ yếu từ nông dân.

Thành phần xuất thân của giai cấp công nhân chủ yếu từ giai cấp nông dân, nên có mối quan hệ tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, cơ sở thuận lợi để xây dựng khối liên minh công – nông - trí thức. Từ khi ra đời đến nay lợi ích của giai cấp công nhân luôn gắn bó với lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, làm cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp công nhân gắn bó hữu cơ với sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, quá trình trí thức hóa giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, từng bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.

Qua hơn 35 năm đổi mới, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã tăng nhanh về số lượng và chất lượng. Công nhân trí thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến, công nhân trẻ được đào tạo nghệ theo chuẩn nghệ nghiệp, học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực tiến sản xuất và thực tiễn xã hội. Trong môi trường kinh tế - xã hội đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giai cấp công nhân Việt Nam đứng trước thời cơ phát triển và cả những nguy cơ, thách thức trong phát triển.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về “tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2008, tr. 1. 

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong xây dựng hệ thống chính trị

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là thành tố của hệ thống chính trị, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong đó, việc thực hành dân chủ là một nội dung quan trọng, góp phần to lớn vào sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội ta. Dân chủ trong quân đội chính là sự giải phóng con người, sự đề cao con người lên trình độ làm chủ xã hội và làm chủ chính bản thân mình; được tổ chức, lãnh đạo chặt chẽ, luôn thống nhất với kỷ luật quân đội. Ở đó, quyền làm chủ thuộc về cán bộ, chiến sĩ, mỗi quân nhân và luôn có sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ, không có sự khác biệt, đối lập nhau về lợi ích, địa vị chính trị, đặc quyền, đặc lợi.

Thực tiễn ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân đã được nâng cao; các thiết chế dân chủ ngày càng được hoàn thiện; sự đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị được tăng cường; niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được củng cố vững chắc, tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tuy nhiên, còn một bộ phận quân nhân chưa nhận thức đúng vai trò, nội dung, cách thức thực hiện dân chủ cơ sở; việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở ở một số cơ quan, đơn vị còn biểu hiện dân chủ hình thức, cá biệt có đơn vị còn xảy ra mất đoàn kết...

Từ thực tế trên, để việc phát huy dân chủ ở đơn vị cơ sở trở thành động lực góp phần xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó tập trung thực hiện một số giải pháp như: Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền tạo chuyển biến về nhận thức cho bộ đội về Quy chế Dân chủ cơ sở; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế dân chủ phù hợp với pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu của đơn vị; tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức đảng các cấp trong thực hiện dân chủ và duy trì kỷ luật tại đơn vị cơ sở; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng quân nhân; thường xuyên đổi mới phương pháp, tác phong công tác của cán bộ ở đơn vị cơ sở.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm các quyền công dân và quyền con người trong quá trình mở rộng và phát huy dân chủ

 


Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân”[1].

Để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm các quyền công dân, quyền con người trong quá trình mở rộng và phát huy dân chủ ở Việt Nam cần: Củng cố cơ sở pháp lý về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng; hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia công việc của Nhà nước; ban hành Luật về trưng cầu ý dân; không ngừng nâng văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ và năng lực thực hành dân chủ của quần chúng nhân dân lao động.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIItập 2, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 336.

Nâng cao trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân


Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thể của nền dân chủ. Suy đến cùng, nhân dân là người quyết định đến chất lượng, hiệu quả thực thi dân chủ. Thực tế trong đời sống dân chủ ở nước ta thời gian qua cho thấy, ở một số nơi, ý chí và năng lực thực hành dân chủ, thái độ đối với các thể chế, cơ chế dân chủ của một bộ phận nhân dân và công chức nhà nước còn hạn chế. Bởi vậy, nâng cao trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân là vấn đề cơ bản và cấp thiết. Để nâng cao trình độ văn hóa dân chủ của nhân dân cần thực hiện đồng bộ, hệ thống các biện pháp sau:

Trước hết, phải chú ý nâng cao trình độ học vấn chung của toàn dân, đẩy mạnh xoá nạn mù chữ, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học tuỳ theo đặc điểm dân cư, trong đó chú ý đến đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường giáo dục pháp luật để nhân dân hiểu rõ nội dung các bộ luật, các quyền dân chủ, các quy chế dân chủ, các chế độ quy định của nhà nước và tổ chức chính trị, xã hội.

Giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, thái độ ứng xử đúng đắn trong các quan hệ xã hội; đoàn kết, tôn trọng cộng đồng, chuẩn mực xã hội; có thái độ rõ ràng trước đúng, sai, phải, trái. Nâng cao năng lực thực hành dân chủ của người dân thông qua việc tổ chức cho nhân dân tham gia vào các sinh hoạt dân chủ ở cộng đồng dân cư, ở các tổ chức đoàn thể, thực hiện các hương ước, quy chế dân chủ, các quyền lợi, nghĩa vụ công dân. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phê phán cái sai, biểu dương, bảo vệ các nhân tố tích cực, người tốt, việc tốt trong đời sống dân chủ xã hội.

Các cơ quan chức năng như cơ quan bảo vệ pháp luật: công an, toà án, viện kiểm soát, các tổ chức thanh tra phải thật sự gương mẫu, công tâm, khách quan, nghiêm túc trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật, đến quyền dân chủ của nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Các sinh hoạt dân chủ phải được tổ chức đúng nguyên tắc, thủ tục, quy chế, thực sự dân chủ, chống dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, trù dập người phê bình, lợi dụng dân chủ để mưu đồ cá nhân, cục bộ, loại bỏ người ngay thẳng, trung thực, dám tố cáo đấu tranh chống tiêu cực. Tạo môi trường văn hoá dân chủ trong tranh luận, thảo luận.

Từng bước hình thành tập quán dân chủ của mỗi người dân và cộng đồng trong ứng xử các quan hệ xã hội ở các môi trường xã hội: gia đình, đơn vị, cơ quan, khu dân cư, ngoài xã hội, nơi công cộng. Đấu tranh phê phán các quan điểm dân chủ sai trái như các quan điểm dân chủ tư sản, dân chủ siêu giai cấp, vô tổ chức, vô kỷ luật, vô chính phủ, độc đoán gia trưởng, cực đoan. 

Thực tiễn lịch sử chứng minh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân đã không ngừng đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản. Từ ba cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của  công nhân ở Liông Pháp (1831, 1834), Xilêdi Đức (1844), phong trào Hiến chương ở Anh (1835-1848), đến Công xã Pari 1871. Đặc biệt, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã chứng minh lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đúng đắn.

Hiện nay, các thế lực thù địch và cơ hội cho rằng, các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân đã trung lưu hóa, không còn bị bóc lột như trước nữa, cho nên giai cấp công nhân không còn sứ mệnh lịch sử toàn thế giới. Thực tế cho thấy, ở những nước tư bản phát triển, đời sống của một bộ phận giai cấp công nhân đã được cải thiện. Song, điều đó không có nghĩa giai cấp công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột hoặc bị bóc lột không đáng kể. Tình trạng công nhân thất nghiệp, thiếu nhà ở, nghèo khổ, mù chữ vẫn là một thực tế mà chủ nghĩa tư bản không thể nào khắc phục nổi. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn diễn ra với nhiều nội dung, hình thức phong phú khác nhau.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đến mọi mặt của đời sống xã hội, không ít kẻ cơ hội hoặc chống cộng đã công khai cho rằng, thời đại ngày nay là thời đại của “văn minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó trí thức chứ không phải giai cấp công nhân mới là lực lượng tiên phong có vai trò lãnh đạo cách mạng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đó là những quan điểm sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Chúng ta luôn khẳng định trí thức có vai trò rất quan trọng trong mọi thời đại, là lực lượng xã hội đi đầu trong việc phát hiện các lý thuyết khoa học và công nghệ; nâng cao trình độ dân trí trong xã hội, chuyển giao khoa học công nghệ mới. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, trí thức có vai trò rất quan trọng, song trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân. Bởi vì, trí thức chưa bao giờ là một giai cấp, mà chỉ là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không thuần nhất về nhiều mặt. Họ không đại biểu cho một phương thức sản xuất mới, không phải là lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trong xã hội. Trí thức luôn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng của giai cấp đã đào tạo và nuôi dưỡng. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Mặc dù trong chủ nghĩa tư bản họ là tầng lớp lao động làm thuê, nhưng là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản nuôi dưỡng sử dụng, trong đó có bộ phận được chế độ tư bản chủ nghĩa ưu đãi, nên lợi ích của tầng lớp trí thức gắn liền với giai cấp tư sản. Trong thực tiễn cách mạng trên thế giới, chưa bao giờ trí thức lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng xã hội nào. Họ có đấu tranh chống bọn tư sản, nhưng cuộc đấu tranh đó cũng không vượt khỏi khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của nhà nước tư bản. Vì vậy, những cuộc đấu tranh của họ không bao giờ đi đến mục tiêu cuối cùng là giải phóng toàn thể nhân dân lao động trên thế giới.

Khả năng cách mạng quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

 


Trong xã hội, giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản phù hợp và thống nhất với lợi ích của quần chúng nhân dân lao động và các giai tầng xã hội khác. Chỉ có họ mới có khả năng đại biểu cho quyền lợi, bảo vệ lợi ích chính đáng của toàn bộ quần chúng lao động; có khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, giác ngộ về địa vị sứ mệnh lịch sử của mình và lôi cuốn, tập hợp, tổ chức quần chúng tham gia vào cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Có khả năng lãnh đạo và đi tiên phong trong các cuộc đấu tranh của quần chúng lao động và toàn dân tộc chống áp bức, bóc lột cũng như trong sự nghiệp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khả năng đoàn kết thống nhất toàn thể giai công nhân các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng.

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2025

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THIẾT KẾ LẠI THỂ CHẾ PHÂN QUYỀN


Để hiện thực hóa mô hình phân quyền bổ trợ, cần tái cấu trúc toàn diện hệ thống pháp luật và thiết kế thể chế đa cấp, theo ba định hướng lớn:

(1) Sửa đổi Luật Tổ chức chính quyền địa phương theo hướng phân tầng rõ ràng giữa các cấp chiến lược – hành chính tổng hợp – phục vụ dân sinh. Luật cần khẳng định rõ nguyên tắc bổ trợ, quyền tự chủ và năng lực điều hành độc lập của địa phương trong giới hạn luật định, thay vì tổ chức đồng dạng theo đơn vị hành chính như hiện nay.

(2) Xây dựng Luật Phân quyền riêng biệt, nhằm xác lập hệ thống nguyên tắc, tiêu chí và cơ chế phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương. Luật này cần quy định cụ thể quyền tài chính địa phương, quản lý nhân sự, thẩm quyền tổ chức bộ máy, và đặc biệt là cơ chế điều phối đa cấp (multi-level governance), giúp tránh tình trạng xung đột ngành dọc – ngang hiện nay.

(3) Chuyển từ kiểm soát hành vi sang giám sát kết quả, thông qua việc áp dụng các chỉ số hiệu quả thực thi công vụ và năng lực điều hành địa phương, như: PAPI, SIPAS, DDCI… Trung ương cần chuyển từ vai trò “duyệt việc” sang đánh giá đầu ra, từ đó thiết lập cơ chế thưởng – phạt công bằng, minh bạch và theo hiệu suất công vụ.

OECD (2020) đã cảnh báo:“Tái cấu trúc tổ chức mà không đổi mới về quyền tự chủ và trách nhiệm sẽ chỉ dẫn đến tái sản xuất mô hình tập quyền truyền thống, dù trong vỏ bọc cải cách mới”10. Do đó, cải cách cần được tiến hành đồng bộ giữa thiết kế thể chế, luật hóa quyền hạn, và chuẩn hóa năng lực địa phương, thay vì tiếp tục chỉnh sửa rời rạc về mặt tổ chức hoặc địa giới hành chính.

Chính quyền địa phương là một cấu phần thiết yếu trong kiến trúc quyền lực nhà nước hiện đại, nơi mà quyền lực nhà nước được cụ thể hóa và thực thi sát nhất với đời sống công dân. Với vị thế là cấp gần dân nhất, chính quyền địa phương chính là nơi hội tụ giữa tính thống nhất quốc gia và tính đa dạng lãnh thổ, giữa quyền lực trung ương và bản sắc cộng đồng, giữa hiệu quả quản trị và chất lượng dân chủ.

Do mang tính chất lưỡng diện đặc trưng – vừa là thiết chế hành chính theo trục dọc, vừa là thiết chế dân chủ theo trục ngang – việc tổ chức chính quyền địa phương không thể chỉ dựa vào nguyên lý hành chính – mệnh lệnh, mà cần đặt trên nền tảng của phân quyền thực chất, với sự phân tầng rõ ràng về chức năng giữa các cấp. Nghiên cứu này khẳng định rằng, để chính quyền địa phương thực sự trở thành thiết chế đại diện – tự chủ – trách nhiệm, cần phải thiết kế lại hệ thống theo nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity) – một nguyên lý nền tảng trong quản trị đa tầng hiện đại.

Theo đó, chính quyền trung ương giữ vai trò kiến tạo thể chế và giám sát chiến lược, còn chính quyền địa phương được trao quyền tự chủ tương ứng với năng lực và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Đây chính là lối đi mà nhiều quốc gia tiên tiến đã lựa chọn thành công, như: Đức, Nhật Bản, Thụy Điển và các nước thành viên EU. Ngược lại, mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện hành ở Việt Nam vẫn mang đậm tính tập quyền, song trùng và cào bằng, làm suy giảm hiệu quả quản trị, gia tăng gánh nặng bộ máy và hạn chế sự tham gia dân chủ thực chất. Do đó, cải cách chính quyền địa phương không thể dừng lại ở việc tinh giản hình thức tổ chức mà phải hướng đến cải cách thể chế toàn diện, được kiến tạo trên ba trụ cột cốt lõi:

(1) Phân quyền theo nguyên tắc bổ trợ, bảo đảm quyền lực được thực hiện ở cấp gần dân nhất, tránh dồn tích quyền lực không cần thiết tại trung ương.

(2) Bảo đảm quyền tự chủ về tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự, tạo điều kiện để chính quyền địa phương có đủ năng lực và động lực quản trị hiệu quả.

(3) Thiết lập cơ chế giải trình hai chiều hiệu quả, vừa từ địa phương lên trung ương, vừa từ chính quyền đến công dân, thúc đẩy dân chủ thực chất và kiểm soát quyền lực tại chỗ.

        Chỉ khi được thiết kế và vận hành trên nền tảng đó, chính quyền địa phương mới có thể phát huy vai trò như một thiết chế hiện đại, dân chủ và gần dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự hiệu lực, hiệu quả và phục vụ trong thế kỷ XXI.

PHÂN LOẠI MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ĐỂ ÁP DỤNG PHÂN QUYỀN LINH HOẠT

 

Một nguyên tắc then chốt trong thực hiện phân quyền bổ trợ là không áp dụng mô hình tổ chức “đồng phục” mà thay vào đó, cần phân loại địa phương dựa trên chức năng, điều kiện và năng lực thể chế thực tế. Trên cơ sở đó, có thể xác lập ba nhóm chính quyền địa phương, tương ứng với các đặc trưng quản trị khác nhau:

(1) Chính quyền đô thị: cần cơ chế điều hành tập trung, linh hoạt và chuyên nghiệp hóa cao, có khả năng xử lý các vấn đề phức tạp của đô thị hóa và cung ứng dịch vụ công cường độ cao.

(2) Chính quyền nông thôn: ưu tiên ổn định tổ chức, tăng cường phân quyền dân sinh và phát triển bền vững, chú trọng đến nông nghiệp, bảo vệ môi trường và an sinh cơ sở.

(3) Chính quyền khu vực động lực (vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp – công nghệ cao, vùng biên giới…): cần áp dụng mô hình “bán tự trị” hoặc “khu vực đặc quyền quản trị”, với cơ chế đặc thù về ngân sách, tổ chức bộ máy và nhân sự.

Mô hình phân loại này chỉ hiệu quả khi được đặt trên nền tảng chuẩn hóa năng lực thể chế. Chỉ những địa phương đáp ứng được các chuẩn mực về năng lực điều hành, tài chính công và đội ngũ cán bộ, mới được trao quyền cao hơn – tương tự như mô hình “autonomy by qualification” đã áp dụng tại Indonesia 

CHUYỂN TỪ MÔ HÌNH TẬP TRUNG SANG PHÂN QUYỀN THỰC CHẤT THEO NGUYÊN TẮC BỔ TRỢ

 

Trong bối cảnh yêu cầu cải cách thể chế ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trước những giới hạn về hiệu quả vận hành, tính linh hoạt và trách nhiệm giải trình trong mô hình tổ chức chính quyền địa phương hiện nay, Việt Nam cần chuyển mạnh sang tiếp cận quản trị theo hướng phân quyền thực chất, dựa trên nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity) – một nguyên lý đã chứng minh giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn tại nhiều quốc gia, như: Đức, Thụy Điển, Nhật Bản và đặc biệt là trong thiết kế quản trị đa tầng của EU.

Nguyên tắc bổ trợ, được định nghĩa tại Điều 5(3) của Hiệp ước Maastricht (EU, 1992), xác lập rằng:“Việc ra quyết định cần được thực hiện ở cấp gần dân nhất có thể, và cấp cao hơn chỉ can thiệp khi mục tiêu chính sách không thể đạt được một cách hiệu quả ở cấp thấp hơn”.

Nói cách khác, bổ trợ là nguyên tắc phân quyền theo chiều từ dưới lên, trong đó chính quyền trung ương chỉ can thiệp khi cấp địa phương không đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ công. Mô hình này giúp duy trì tính thống nhất quốc gia, nhưng đồng thời tối đa hóa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của địa phương, theo nguyên lý: “giao quyền đến nơi có năng lực thực hiện tốt nhất”.

Tư tưởng này hiện đã được khơi dậy mạnh mẽ trong định hướng lãnh đạo cao cấp, thể hiện qua phương châm của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Địa phương quyết – Địa phương làm – Địa phương chịu trách nhiệm”. Đây là chỉ dấu chính trị – thể chế rõ ràng, cho thấy Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển tiếp từ mô hình quản lý tập quyền sang mô hình quản trị phân quyền trách nhiệm. Trong mô hình mới, trung ương giữ vai trò kiến tạo thể chế, giám sát và đánh giá kết quả, trong khi địa phương là trung tâm thực thi, sáng tạo và chịu trách nhiệm chính trị – hành chính trước người dân và pháp luật.

HƯỚNG TỚI MỘT CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH THỂ CHẾ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

 


Trong bối cảnh yêu cầu quản trị hiện đại, minh bạch và dân chủ hóa đời sống công ngày càng tăng cao, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam cần được thiết kế lại theo hướng toàn diện và hệ thống hơn. Trọng tâm là xây dựng một chiến lược cải cách thể chế chính quyền địa phương với ba trụ cột cốt lõi:

(1) Luật hóa rõ ràng nguyên tắc phân quyền và phân trách nhiệm giữa trung ương và địa phương, trong đó bảo đảm tính tự chủ thể chế của địa phương về tổ chức bộ máy, tài chính và nhân sự, tương xứng với chức năng được giao.

(2) Cải cách tài chính địa phương, chuyển từ mô hình phụ thuộc vào chuyển giao ngân sách sang mô hình quản lý tài chính dựa trên năng lực huy động – chi tiêu có trách nhiệm, mở rộng quyền định đoạt nguồn thu và cơ chế phân bổ chi tiêu tại địa phương.

(3) Xây dựng cơ chế giải trình hai chiều, bao gồm cả giải trình dọc (từ địa phương lên trung ương) và giải trình ngang (từ chính quyền tới công dân), qua đó, thúc đẩy dân chủ thực chất, tăng cường kiểm soát quyền lực và nâng cao chất lượng phục vụ công.

Chỉ khi tổ chức lại chính quyền địa phương trên nền tảng này, Việt Nam mới có thể hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và gần dân, đồng thời, nâng cao năng lực quản trị đa tầng, khả năng thích ứng chính sách và tính cạnh tranh thể chế trong một thế giới đang chuyển động nhanh chóng.

“SỐNG CHIẾN ĐẤU, LAO ĐỘNG VÀ HỌC TẬP THEO GƯƠNG BÁC HỒ VĨ ĐẠI” – LỜI HIỆU TRIỆU TRƯỜNG TỒN

        Câu khẩu hiệu “Sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” không chỉ là lời kêu gọi mà còn là lý tưởng sống cao đẹp mà cả dân tộc Việt Nam hướng tới suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Chiến sĩ ra trận lấy tấm gương của Bác làm động lực chiến đấu; học sinh đến lớp lấy Bác làm hình mẫu học tập và rèn luyện; cán bộ, công chức soi mình vào đạo đức của Bác để phục vụ nhân dân tốt hơn. Bác chính là ngọn đuốc soi đường cho mọi hành động của chúng ta.

Sống theo gương Bác là sống trung thực, giản dị, yêu nước, thương dân. Chiến đấu theo gương Bác là không lùi bước trước khó khăn, luôn vì lý tưởng cao cả. Lao động theo gương Bác là làm việc trách nhiệm, sáng tạo, không ngừng nâng cao hiệu quả. Học tập theo gương Bác là cầu tiến, không ngừng rèn luyện, hoàn thiện mình.

      Ngày sinh Bác là dịp để chúng ta ôn lại lời hiệu triệu ấy và biến nó thành hành động cụ thể trong từng công việc, từng ngày sống. Để mỗi bước đi của chúng ta đều có hình bóng Bác dõi theo, và mỗi hành động của ta đều góp phần hiện thực hóa ước mơ của Người: Một nước Việt Nam hùng cường, nhân văn và hạnh phúc./.

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC TRONG THỜI ĐẠI CHUYỂN ĐỔI SỐ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

         Thời đại mới đặt ra nhiều thách thức, từ chuyển đổi số, toàn cầu hóa đến biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền. Trong bối cảnh ấy, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng trở nên thiết thực hơn bao giờ hết.

Học Bác là học cách tư duy độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong ứng xử. Trong thời đại số, điều đó có nghĩa là mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải không ngừng học hỏi, cập nhật tri thức mới, sử dụng công nghệ thông minh để phục vụ công việc và cộng đồng.

Làm theo Bác là sống giản dị, liêm khiết, trách nhiệm và hành động vì lợi ích chung. Trong không gian mạng, điều ấy thể hiện qua việc lan tỏa điều tích cực, phản bác các thông tin sai trái, không để bị lôi kéo vào các trào lưu độc hại, vô bổ.

Học theo Bác cũng là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, dù đi đến đâu, làm gì cũng không quên cội nguồn, giữ vững bản lĩnh chính trị, tinh thần yêu nước và lòng nhân ái.

        Kỷ niệm ngày sinh Bác, mỗi người trong chúng ta – nhất là người trẻ – hãy biến mạng xã hội thành nơi lan tỏa giá trị của Bác, lan truyền sự tử tế, và hành động thiết thực vì một Việt Nam văn minh, hội nhập, phát triển bền vững

BÁC HỒ VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

       Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người từng khẳng định: “Còn non, còn nước, còn người – Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay” – nhưng muốn vậy, cán bộ, đảng viên phải là người có phẩm chất, đạo đức tốt.

Bác chỉ rõ: cán bộ là “gốc của mọi công việc”. Cán bộ mà hư hỏng thì công việc không thể thành công. Vì vậy, Người luôn yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; phải “trung với nước, hiếu với dân”, không được sa vào chủ nghĩa cá nhân, tham lam, lười biếng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng không hề giáo điều, mà vô cùng thực tế. Người dạy rằng, đạo đức không phải là thứ cao siêu, mà là cách ứng xử hằng ngày, từ lời ăn tiếng nói đến việc làm. Mỗi người cán bộ phải “nói đi đôi với làm”, không được nói một đằng làm một nẻo.

Ngày nay, trong công cuộc xây dựng Đảng, tư tưởng đạo đức của Bác vẫn là kim chỉ nam để chúng ta nâng cao chất lượng cán bộ, chống lại sự tha hóa, suy thoái đạo đức.

     Kỷ niệm ngày sinh Bác, mỗi cán bộ, đảng viên hãy tự soi mình theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, rèn luyện, sửa mình và hành động vì lợi ích của nhân dân, đất nước

DI CHÚC THIÊNG LIÊNG – LỜI DẶN DÒ CUỐI CÙNG CỦA BÁC HỒ VỚI TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN

      Bản Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại không chỉ là văn kiện lịch sử quý giá mà còn là bản tổng kết cuộc đời, tư tưởng và tình yêu bao la của Người dành cho dân tộc Việt Nam.

Trong Di chúc, Bác không nói nhiều về bản thân, mà dành toàn bộ tâm trí để căn dặn Đảng ta phải chăm lo cho nhân dân, đặc biệt là những người có công, thương binh, liệt sĩ, đồng bào nghèo và thế hệ trẻ. Người viết: “Đầu tiên là công việc đối với con người”, bởi với Bác, con người là trung tâm của cách mạng.

Bác căn dặn Đảng phải giữ gìn sự đoàn kết, trong sạch, không ngừng học tập, đổi mới để xứng đáng là người lãnh đạo và là đầy tớ trung thành của nhân dân. Người cũng dành sự quan tâm sâu sắc đến thanh niên – những người sẽ gánh vác vận mệnh nước nhà trong tương lai.

Lời dặn cuối cùng trong Di chúc là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những điều Bác viết vẫn còn nguyên giá trị và là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng. Kỷ niệm ngày sinh Bác, đọc lại Di chúc, chúng ta càng thấy rõ hơn trách nhiệm với Đảng, với dân, với đất nước.

        Hãy biến lời dặn của Bác thành hiện thực bằng những hành động cụ thể, để đất nước ta ngày một phát triển như Người hằng mong muốn.

HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

       Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam, mà còn là người thầy mẫu mực, dạy cho cả dân tộc ta về đạo lý làm người, về lý tưởng sống, về khát vọng độc lập, tự do.

Người dạy chúng ta phải yêu nước, thương dân, sống liêm khiết, giản dị, có trách nhiệm với cộng đồng và Tổ quốc. Từng lời dạy của Bác – từ “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” đến “Dĩ công vi thượng” – đã trở thành chuẩn mực đạo đức cách mạng.

Là người thầy, Bác không bao giờ lên lớp bằng cách áp đặt, mà luôn lấy bản thân làm gương. Người dạy bằng chính cuộc sống thanh bạch, bằng từng việc nhỏ: từ cách ứng xử đến phong cách làm việc. Người dạy chúng ta yêu lao động, kính trọng nhân dân, sống có tình nghĩa và không ngừng học tập.

Không chỉ dạy dân tộc mình, Hồ Chí Minh còn là người thầy của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Những bài học về tinh thần độc lập, về ý chí chiến đấu và lòng nhân ái của Người đã lan tỏa tới nhiều quốc gia, dân tộc đang đấu tranh vì tự do.

      Kỷ niệm ngày sinh Bác, mỗi người dân Việt Nam hãy biết ơn và học theo Người – không chỉ bằng việc làm lớn lao, mà bắt đầu từ cách sống tử tế, hành động có trách nhiệm, và không ngừng học hỏi. Bởi như lời Người từng dạy: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.”

TƯ TƯỞNG “LẤY DÂN LÀM GỐC” – CỘI NGUỒN CỦA MỌI THÀNH CÔNG CÁCH MẠNG

          Một trong những giá trị lớn nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc chính là tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Người từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhân dân là chủ.” Câu nói ấy không chỉ là khẩu hiệu, mà là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động cách mạng.

Với Bác, mọi việc của Đảng, Chính phủ đều phải vì dân, do dân và dựa vào dân. Người dạy rằng: “Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.” Trong suốt cuộc đời mình, Bác luôn sống giữa lòng dân, hiểu dân, tin dân và phục vụ nhân dân vô điều kiện.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Bác không phải lý thuyết trừu tượng, mà được thể hiện qua từng hành động cụ thể: từ việc đi thăm nông dân gặt lúa, ăn cơm cùng công nhân, đến việc tiếp thu góp ý của người dân trong việc xây dựng chính sách. Chính vì lẽ đó, Bác được toàn dân yêu kính, tin yêu và gọi Người là “Bác Hồ của chúng ta”.

Ngày nay, việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là đem tinh thần “lấy dân làm gốc” vào từng chủ trương, hành động của các cấp, các ngành. Mỗi cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, học dân và vì dân mà hành động, để dân thực sự là chủ nhân của đất nước.

        Kỷ niệm ngày sinh Bác, mỗi chúng ta hãy tự hỏi: đã sống vì dân, gần dân và vì lợi ích của nhân dân như Bác dặn chưa? Bởi chính từ lòng dân, sức dân sẽ làm nên mọi thắng lợi

MÔ HÌNH PHÂN CẤP – PHÂN QUYỀN BỔ TRỢ (SUBSIDIARITY)

 

Đây là mô hình lý tưởng, được nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia dân chủ hiện đại tôn vinh như một nguyên lý nền tảng của nhà nước phục vụ và dân chủ đa tầng. Theo nguyên tắc bổ trợ, mọi chức năng công quyền nên được giao cho cấp thấp nhất có đủ năng lực thực hiện và chỉ khi cấp đó không thể đáp ứng thì cấp cao hơn mới can thiệp. Nguyên tắc này là cơ sở của nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, nổi bật là Hiến chương châu Âu về tự trị địa phương và Hiệp ước Liên minh châu Âu (Treaty of Lisbon).

Theo Ủy ban Vùng (Committee of the Regions), nguyên tắc bổ trợ không chỉ là một kỹ thuật hành chính, mà là một quan điểm triết lý sâu sắc nhằm bảo vệ tính tự trị chính trị của chính quyền địa phương, thúc đẩy trách nhiệm, sự tham gia và hiệu quả chính sách công. Mô hình bổ trợ thể hiện một bước tiến lý luận vượt bậc, đặt niềm tin thể chế vào năng lực quản trị địa phương, coi địa phương là chủ thể đồng hành chứ không chỉ là cấp dưới hành chính. Mô hình này đang ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các hệ thống đa cấp hiện đại, đặc biệt là ở châu Âu và một số bang ở Hoa Kỳ, Canada, Australia…

Nhìn chung, các mô hình phân quyền – phân cấp phản ánh một chuỗi tiến hóa từ kiểm soát hành chính tập trung đến tự chủ chính trị – thể chế. Việc lựa chọn mô hình phù hợp không chỉ phụ thuộc vào năng lực thể chế hiện tại mà còn thể hiện tầm nhìn phát triển nhà nước, giữa một bên là quản lý thống nhất và bên kia là dân chủ hiệu quả, linh hoạt và gần dân.


MÔ HÌNH PHÂN CẤP – PHÂN QUYỀN ĐIỀU CHỈNH LINH HOẠT (REGULATORY DECENTRALISATION)

 


     Trong mô hình phân cấp phân quyền điều chỉnh linh hoạt (Regulatory Decentralisation)., chính quyền trung ương ban hành khung pháp lý, các chuẩn mực chính sách và mục tiêu vĩ mô, trong khi địa phương được quyền tự quyết về cách thức thực hiện, tổ chức bộ máy và huy động nguồn lực tùy theo điều kiện thực tiễn. Đây là hình thức phân quyền mềm, theo nguyên tắc “trung ương kiến tạo – địa phương linh hoạt”, thường thấy tại các quốc gia có truyền thống pháp quyền và năng lực thể chế cao như Phần Lan, Thụy Điển, Hà Lan.

            Ưu điểm nổi bật là tạo không gian sáng tạo, thích ứng cao cho địa phương mà vẫn bảo đảm kiểm soát chiến lược từ trung ương. Theo OECD (2017), việc thiết kế phân quyền theo mô hình điều chỉnh linh hoạt có thể tối ưu hóa hiệu quả thực thi chính sách công, đồng thời hạn chế nguy cơ phân tán quyền lực và mất kiểm soát trong điều hành quốc gia.

MÔ HÌNH PHÂN CẤP – PHÂN QUYỀN SONG TRÙNG GIÁM SÁT (DUAL ACCOUNTABILITY OR OVERSIGHT)

 


Mô hình này về cơ bản kế thừa cấu trúc song trùng nhưng điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ: chính quyền địa phương chịu sự giám sát đồng thời từ cả cơ quan dân cử địa phương (HĐND) và các cơ quan trung ương (Chính phủ, bộ, ngành). Đây là mô hình thường xuất hiện trong các quốc gia đang chuyển đổi thể chế, nơi mà quyền lực hành pháp địa phương chưa được xác lập rõ ràng.

Ưu điểm của mô hình là tăng cường kiểm soát quyền lực từ hai phía, tránh nguy cơ lạm quyền địa phương. Tuy nhiên, nếu không có ranh giới phân định rõ ràng, mô hình này dễ rơi vào tình trạng “trách nhiệm vòng tròn”, nơi không có thiết chế nào thực sự chịu trách nhiệm cuối cùng. Theo Loughlin, Hendriks và Lidström, đây là một mô hình chưa hoàn thiện về thể chế, dễ bị lạm dụng để né tránh trách nhiệm chính trị hoặc hành chính, đặc biệt trong các hệ thống có văn hóa quản lý mệnh lệnh – hành chính nặng nề.