Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

ĐÁNH VOI, ĐÁNH CẢ ĐỨA GIẮT VOI.

    Tháng Tư đã qua rồi mà trong lòng lão có khi cười khi khóc. Lão cười vì đất nước đang trên con đường đi lên của sự ấm no và hạnh phúc. Lão khóc vì thỉnh thoảng có người lại tìm thấy một chiếc lọ thủy tinh, trong đó có một mảnh giấy ghi tên người nằm dưới đất. Đó là một anh giải phóng quân đã có 50 năm nằm dưới đất lạnh lẽo; một bà mẹ và người cha suốt 50 năm ngóng tin con; một đơn vị từng là đồng độ của anh đã có 50 năm nhớ nhung và tìm kiếm.

Còn chúng ta, chúng ta đã trải qua 50 năm sống trong hòa bình, yên ổn sống, yên ổn làm giàu, có người trở thành người giàu “nứt đố đổ vách”. Năm mươi năm của một cuộc cạnh tranh giữa con người với con người, giữa quốc gia với quốc gia, giữa con người với thiên nhiên và tiến bộ khoa học kỹ thuật. 

Cũng trong năm mươi năm ấy, có những con người vẫn nuôi một ảo tưởng làm một việc gì đó để lại có được như những ngày với vai trò kẻ “rước voi về dày mả tổ” đồng thời với vai trò là kẻ chăn voi. Những kẻ rước voi về dày mả tổ, đã có từ thời xa xưa như Trần Ích Tắc phản bội nhà Trần (thế kỷ 13), cho đến thế kỷ 19 (1884) nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp; tiếp đến là giữa thế kỷ 20 như Ngô Đình Diệm, trở thành tổng thống bù nhìn của cái VNCH.

Đến hôm nay, đã 50 năm qua đi rồi, những kẻ từng rước voi đã phải bỏ nước để sống nhờ nơi đất khách quê người. Dẫu biết rằng “phục quốc” chỉ là mộng tưởng, chẳng bao giờ trở thành hiện thực, song chúng vẫn tự huyễn hoặc, huyễn hoặc từ đời mình đến đời con cháu mình. Nếu vào tháng Tư năm 1975 ấy, Việt Cộng không có lòng nhân từ để mở cho một hành lang an toàn thì liệu có chiếc máy bay nào an toàn để bay ra hạm đội 7, rồi đến hôm nay, sau 50 năm vẫn còn mộng tưởng “phục quốc”? 

Này, lão bảo cho mà biết, to lớn như con voi, dân Việt còn đánh cho đến nỗi voi phải cụp tai cuộn vòi mà chạy, chứ những kẻ giắt voi, chăn voi thì chả là cái đinh gỉ gì! Cứ ăn bám người ta rồi đến tháng Tư hàng năm lại giở trò hề “phục quốc”. Thử hỏi, suốt 50 năm qua, đã về “phục quốc” được mấy lần? Lần duy nhất, có vẻ “hoành tráng” lắm, nhưng rồi quân tướng, đứa thì rủ nhau vào trại giam của “Việt Cộng”, đứa thì theo sự chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, nằm úp mặt trên đất Lào để cho mối nó xông. Kể từ đó, bọn rước voi và chăn voi có còn dám vác mặt về?

Ngày nay, một số nước từng là kẻ thù của Việt Nam đã trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” rồi thì còn đâu chỗ dựa mà “phục quốc”. Thôi, an phận tay sai, an phận chư hầu, an phận kẻ tôi tớ chăn voi đi thôi, hãy nuốt hết miếng phó-mát thừa mà sống những ngày còn lại trên đất người.

Đụng vào Việt Nam thì voi cũng chết chứ đám rước voi và chăn voi thì có nghĩa lý gì!./.

Hình trong bài: Vào thời điểm này có ai còn nhớ vì sao những chuyến bay di tản vẫn được an toàn và còn nghĩ đến chuyện “phục quốc”?
Yêu nước ST.

HỌC LỊCH SỬ ĐỂ HIỂU THÊM LỊCH SỬ!

     Lời nhắc của Tổng Bí thư Lâm “học lịch sử để hiểu thêm lịch sử” thực sự là một gợi mở cần thiết. Nhìn lại giai đoạn thế giới rơi vào vòng xoáy Chiến tranh thế giới thứ hai, ta thấy rõ quy luật khắc nghiệt của thời cuộc: ai nắm bắt được cơ hội, đi đúng nước cờ thì mới giữ được sự tồn vong dân tộc.

Ở châu Âu, phe Trục với trụ cột là Đức quốc xã dưới quyền Hitler đã bùng phát sức mạnh quân sự, lấy danh nghĩa phục hưng dân tộc để chinh phạt cả lục địa. Ở châu Á, phát xít Nhật với sức mạnh quân sự hùng hậu đã đánh tan sự thống trị của thực dân phương Tây tại nhiều thuộc địa. Tại Việt Nam, tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp, dựng chính phủ Trần Trọng Kim tồn tại vỏn vẹn 5 tháng, rồi cũng nhanh chóng sụp đổ.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì bám trụ ở chiến khu Tân Trào, vừa chuẩn bị lực lượng, vừa chờ thời cơ. Nhật tuy đánh đuổi Pháp nhưng lại áp bức nhân dân Việt Nam vô cùng tàn bạo. Vì thế, Việt Minh xác định chỉ có con đường độc lập, tự chủ, chứ không thể dựa vào bất kỳ thế lực nào.

Điểm đáng chú ý là sự kiện “Con Nai” – nhóm sĩ quan Mỹ được cử nhảy dù xuống Tân Trào, hỗ trợ Việt Minh huấn luyện, trang bị vũ khí và đặc biệt là cứu chữa khi Bác Hồ lâm bệnh nặng. Nhờ đó, Người qua cơn hiểm nghèo. Đây cũng là minh chứng cho mối quan hệ phức tạp của thời cuộc: ngay cả những quốc gia sau này trở thành đối địch, thì trong khoảnh khắc lịch sử ấy, họ lại có chung lợi ích chống phát xít.

Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng sau hai quả bom nguyên tử. Thời cơ cách mạng xuất hiện. Việt Minh đã phát động Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền và ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trích dẫn những giá trị phổ quát trong Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Tuy nhiên, tình thế vẫn vô cùng phức tạp. Ở miền Bắc, quân Tưởng Giới Thạch tràn vào với mưu đồ đàn áp cách mạng, còn Pháp lại tìm cách quay trở lại. Để hóa giải thế gọng kìm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tạm thời giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập “Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin”, đồng thời chủ động ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, dùng “Pháp để đuổi Tưởng”. Đó là một nước cờ chiến lược, đầy bản lĩnh và sáng suốt.

Nhưng thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm. Chỉ một năm sau, chiến sự bùng nổ trở lại, mở đầu toàn quốc kháng chiến (1946). Sau 9 năm gian khổ, quân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm 1954, buộc Pháp rút khỏi miền Bắc, đặt nền móng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ góc nhìn lịch sử, có thể thấy bạn – thù nhiều khi chỉ là tương đối, phụ thuộc vào lợi ích chiến lược của từng giai đoạn. Nhưng bài học cốt lõi vẫn không thay đổi: chỉ khi dựa vào sức mạnh dân tộc, biết vận dụng thời cơ, kiên định mục tiêu độc lập thì mới có thể đi qua những bước ngoặt hiểm nghèo của lịch sử./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐOÀN ĐẠI BIỂU CẤP CAO 6 NƯỚC SẼ DỰ LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM QUỐC KHÁNH 2/9!

     Đoàn đại biểu cấp cao các nước: Belarus, Campuchia, Cuba, Lào, Nga và Trung Quốc sẽ tham dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025).

Thông tin trên được Thứ trưởng Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đưa ra trong buổi họp báo về Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm quốc gia (Đông Anh, Hà Nội) chiều 22/8.

Thứ trưởng cho biết, để chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm, Bộ Ngoại giao đã tham mưu cho cấp có thẩm quyền mời khách quốc tế tham dự. Đến thời điểm hiện tại, có 6 đoàn cấp cao, gồm Belarus, Campuchia, Cuba, Lào, Nga và Trung Quốc đã xác nhận sẽ đến dự lễ. Trong đó, một số đoàn sẽ tiến hành các hoạt động song phương.

Cùng với đó, đã có sự khẳng định của hơn 20 đoàn chính đảng, 8 đoàn Bộ Quốc phòng của các nước về việc tham dự Lễ kỷ niệm của Việt Nam.

Cũng theo Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng, Bộ Ngoại giao sẽ mời một số phóng viên quốc tế đến dự, tác nghiệp về Lễ kỷ niệm cũng như các hoạt động liên quan đến đại lễ. Đây sẽ là dịp để phóng viên nước ngoài tận mắt chứng kiến thành tựu của nhân dân ta và thông tin đến cộng đồng quốc tế.

Thứ trưởng cho biết đây là lần đầu tiên có Khối kiều bào tham gia diễu hành tại Lễ kỷ niệm. “Chúng tôi đã đến buổi tập luyện để thăm hỏi, động viên các kiều bào tham gia diễu hành. 50 kiều bào đều chia sẻ rất vui mừng, tự hào khi được tham gia diễu hành trong ngày lễ trọng đại của đất nước. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm là người dân Việt Nam dù đang sống xa Tổ quốc” - Thứ trưởng Ngoại giao cho hay.

Ngoài ra, trong dịp đại lễ này, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị Việt Nam cũng mời khoảng 100 đại biểu là bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam trong suốt 80 năm qua đến tham dự.

6 lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành.

Tại họp báo, Thiếu tướng Tống Văn Thanh, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã thông tin về chương trình diễu binh, diễu hành trong Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 sắp tới.

Theo đó, về tổ chức lực lượng, có 6 lực lượng tham gia diễu binh, diễu hành, gồm: Lực lượng rước đuốc Truyền thống và Tiêu binh Đài lửa; Lực lượng Pháo lễ; Lực lượng Không quân bay chào mừng; Lực lượng diễu binh, diễu hành; Lực lượng đứng làm nền và Lực lượng xếp hình, xếp chữ.

Lực lượng diễu binh, diễu hành gồm 4 khối Nghi trượng; 43 khối đại diện lực lượng vũ trang nhân dân (26 khối Quân đội, 17 khối Công an); các khối quân đội nước ngoài (dự kiến 4 khối), gồm: Trung Quốc, Nga, Lào, Campuchia; Lực lượng xe, pháo quân sự, xe đặc chủng Công an; Lực lượng diễu binh trên biển; 12 khối diễu hành quần chúng; 1 khối Văn hóa, Thể thao.

Lực lượng đứng làm nền gồm Tiêu binh Lễ đài và 29 khối đứng (18 khối lực lượng vũ trang và 11 khối quần chúng). Lực lượng xếp hình, xếp chữ có sự tham gia của 4.600 người.

Chương trình diễu binh, diễu hành bắt đầu bằng màn rước đuốc truyền thống, bắn Pháo lễ, Không quân bay chào mừng. Tiếp đó là lễ diễu binh, diễu hành các khối theo thứ tự lần lượt là: khối Nghi trượng; khối đi bộ; khối xe, pháo quân sự, xe đặc chủng Công an; lực lượng vũ trang trên biển (truyền hình ảnh về Ba Đình); các khối quần chúng; khối Văn hóa, Thể thao.

Thiếu tướng Tống Văn Thanh cho biết, từ đầu tháng 5, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo tổ chức huấn luyện các lực lượng tham gia A80, tổ chức hợp luyện 4 buổi, tổng hợp luyện 5 buổi (17/7, 5/8, 13/8, 16/8 tại TB4 và 21/8). Buổi Tổng hợp luyện tối 21/8 tại Quảng trường Ba Đình có chất lượng tốt, với sự tham gia của toàn bộ các khối, lực lượng (trừ khối Không quân, Pháo lễ) và 3 khối Quân đội các nước: Nga, Lào, Campuchia.

"Nhìn chung đến nay các khối, các lực lượng đều hoàn thành tốt chương trình huấn luyện, 100% cán bộ, chiến sĩ có nhận thức tốt, quyết tâm cao, phấn khởi thực hiện nhiệm vụ”, Thiếu tướng Tống Văn Thanh cho hay.

Cũng theo lãnh đạo Cục Tuyên huấn, buổi tổng hợp luyện lực lượng vũ trang lần thứ hai sẽ diễn ra từ 20 giờ ngày 24/8; sơ duyệt cấp Nhà nước từ 20 giờ ngày 27/8 và tổng duyệt cấp Nhà nước từ 6 giờ 30 phút ngày 30/8/2025 (thứ Bảy). Lễ chính thức diễn ra từ 6 giờ 30 phút ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử./.

Yêu nước ST.

THẾ GIỚI - VIỆT NAM: VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ QUÊN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA LIÊN XÔ NÓI CHUNG VÀ UKRAINA NÓI RIÊNG NHÉ RFA!

     Việt Nam có quên sự giúp đỡ của Liên Xô nói chung và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ nói riêng đối với Việt Nam trong kháng chiến và hậu chiến không? Chắc chắn là không và thực tế vẫn luôn là như vậy. Đến nay, mặc dù đã hơn 30 năm sau khi Liên Xô tan rã, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với hầu hết các quốc gia thuộc Liên Xô cũ trong đó có cả Nga và Ukraina. 

Riêng đối với Ukraine, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có hoạt động ủng hộ gì đối với Ukraine hay không? Câu trả lời là có, chứ không phải như anh em RFA hết gạo cắn xằng. Gần đây nhất, hồi năm 2022 khi xảy ra xung đột giữa Nga với Ukraine khi Nga tiến hành "chiến dịch quân sự đặc biệt" vào lãnh thổ Ukraine, Việt Nam khi đó đã thực hiện viện trợ nhân đạo đối với Nhân dân Ukraine số tiền 500.000 USD và nhiều thuốc men, lương thực, thực phẩm. Hehe, cái này báo chí và trang truyền thông của Đại sứ quán Ukraine tại Hà Nội đều có đưa tin công khai chứ có giấu giếm đâu nhể!

Vậy tại sao Việt Nam lại chưa bao giờ phát động quyên góp ủng hộ Ukraine như làm đối với Cuba? Hehe, đéo ai lại đi quyên góp ủng hộ một cường quốc cả, phỏng ạ? Mặc dù trong nhiều năm qua kinh tế Ukraine có suy giảm so với trước nhưng trên thực tế Ukraine vẫn là một cường quốc cả về kinh tế và quân sự. Kể cả khi xảy ra xung đột và ảnh hưởng do "chiến dịch quân sự đặc biệt" của Nga khiến sản xuất và xuất khẩu của Ukraine sụt giảm nhưng từ năm 2022 đến nay mỗi năm Ukraine vẫn xuất khẩu hàng chục triệu tấn ngũ cốc ra thị trường thế giới. Chưa kể, trong cuộc chiến vũ trang với Nga, Ukraine đã và đang tiếp tục nhận được sự hỗ trợ/viện trợ vô cùng lớn của Mỹ và phương tây. 

Còn Cuba thì sao? Hơn 60 năm chịu sự kìm kẹp của Mỹ và phương tây, đất nước và đời sống nhân dân Cuba trở nên kiệt quệ bởi lệnh cấm vận toàn diện từ năm 1962. Theo tính toán của Liên hợp quốc, chỉ riêng từ năm 2021 đến nay thiệt hại do lệnh cấm vận đối với Cuba đã lên đến 150 tỷ USD. Nếu tính từ năm 1962 đến nay thì con số thiệt hại trực tiếp phải lên đến hàng chục nghìn tỷ USD. Đất nước và đời sống nhân dân Cuba vô cùng thiếu thốn về mọi mặt. 

Rõ ràng tình trạng của nhân dân Cuba nên được ưu tiên ủng hộ hơn bất cứ quốc gia nào chứ không riêng so với Ukraine. Tuy vậy, tôi tin rằng, nếu khi nhân dân Ukraina cũng gặp hoàn cảnh khốn khó và bị cấm vận như nhân dân Cuba thì Nhà nước và Nhân dân Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng có những hình thức ủng hộ phù hợp, xứng đáng với những tình cảm mà nhân dân Ukraine đã dành cho Việt Nam trong lịch sử và hiện tại. Mặc dù thế, việc đem Ukraina ra để so sánh với Cuba về việc tại ủng hộ Cuba mà không ủng hộ Ukraina là một thể hiện của đầu óc ngu dốt hoặc nhân cách khốn nạn. 

Nhân thể kẻ già này xin hỏi: anh em RFA bị Mỹ cắt viện trợ rồi thì đã nhận được ủng hộ của ai chưa?
Khuyết danh ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: BABETTE - NGƯỜI CON GÁI NUÔI CỦA BÁC HỒ VÀ KÝ ỨC VỀ VIỆT NAM!

     Gần 80 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, người con gái nuôi của Người - bà Elisabeth Helfer Aubrac, tên thân mật là Babette - chuẩn bị trở lại Việt Nam dịp Quốc khánh 2/9 năm nay, khi đất nước kỷ niệm 80 năm ngày thành lập. Với bà, đó không chỉ là chuyến đi, mà là cuộc trở về nơi có một phần ký ức tuổi thơ, gắn bó với vị cha đỡ đầu kính yêu.

Mối gắn kết đặc biệt giữa cô bé Elisabeth và vị lãnh tụ Việt Nam

Trong căn hộ nhỏ ở quận 9 Paris, bà Elisabeth Helfer Aubrac nâng niu, gìn giữ nhiều kỷ vật về Việt Nam. Người phụ nữ Pháp đôn hậu sinh năm 1946 - đúng năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Pháp với tư cách thượng khách. Chính tình bạn giữa cha bà - ông Raymond Aubrac, nhà cách mạng nổi tiếng, người bạn thân thiết của Bác Hồ - đã mở ra mối gắn kết đặc biệt giữa cô bé Elisabeth và vị lãnh tụ Việt Nam.

Trao đổi với báo chí Việt Nam, bà kể: "Năm 1946, khi sang Pháp tham dự hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp cha tôi, cựu nghị sỹ Quốc hội Pháp. Cha tôi ngỏ ý mời Người đến thăm gia đình mình và nhận lời mời của cha tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển về ở trong căn nhà và khu vườn của chúng tôi từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9/1946. Ngày 15/8 năm đó, mẹ tôi đã sinh tôi, đặt tên là Elisabeth. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhà hộ sinh Port - Royal ở Paris thăm hai mẹ con, tặng quà và nhận làm cha đỡ đầu của tôi. Người gọi tôi theo cái tên thân mật Babette".

Từ ấy, mỗi dịp sinh nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi quà, thư tay hoặc ảnh kèm dòng nhắn gửi thân thương. Cô bé Babette cũng thường vẽ tranh, viết thư hồi âm cho cha nuôi. Dù bận trăm công việc, Người vẫn dành tình cảm cho cô con gái nuôi nhỏ bé nơi Paris xa xôi.

Một trong những kỷ vật mà bà trân trọng nhất là tấm lụa vàng Bác Hồ gửi tặng năm 1967, kèm lời nhắn để may áo cưới khi lập gia đình. Suốt mấy chục năm, tấm lụa vẫn giữ nguyên sắc vàng, mềm mại, bên trong kẹp mẩu giấy nhỏ ghi rõ "Làng lụa Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội". Bà còn giữ nhiều món quà khác: quả cầu nhỏ, đồng xu, bức ảnh có chữ ký của Người… "Ngay cả quả cầu ấy, tôi vẫn coi là biểu tượng cho trí tuệ, sự may mắn và niềm tin vào một tương lai tươi sáng", bà nói đầy tự hào.

Tiếp nối tình bạn Việt - Pháp

Elisabeth Babette lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ và sự nâng đỡ tinh thần từ người cha nuôi đặc biệt. Bà nói: "Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự vĩ đại của cách sống thấm đẫm nhân văn, với những điều giản dị. Người có sự gần gũi và thuyết phục được mọi người đối diện. Không giống phong cách của một nhà lãnh đạo hay chính trị gia hay nhà ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh gần gũi với mọi tầng lớp từ người công nhân hay người nông dân. Tôi luôn nhớ về Người mỗi ngày và tôi cảm thấy có sợi dây liên lạc gần gũi với nhân dân và đất nước của vị cha đỡ đầu đáng kính của tôi".

Tình bạn giữa Raymond Aubrac và Hồ Chí Minh cũng để lại dấu ấn sâu đậm. Ông Aubrac luôn sát cánh cùng nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến, có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới của Việt Nam và việc vun đắp tình hữu nghị và hợp tác Việt - Pháp. Ông là người đã giúp đỡ ký kết Bản thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống Việt Nam (1967); kêu gọi chấm dứt việc ném bom xuống các đê sông Hồng (1972); đại diện Tổng Thư ký Liên hợp quốc thực hiện chương trình trợ giúp của Liên hợp quốc cho Việt Nam thống nhất (1976); yêu cầu McNamara chấp thuận chuyển giao cho Việt Nam sơ đồ các bãi mìn ở vĩ tuyến 17 (1979) và thực hiện nhiều chương trình hợp tác kỹ thuật giúp Việt Nam của Liên hợp quốc, FAO và Pháp từ 1976… Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh - phần thưởng cao quý mà bà Elisabeth thay mặt gia đình nhận tại Hà Nội.

Không chỉ giữ gìn kỷ niệm gia đình, bà Elisabeth cùng chồng còn nhiều lần sang Việt Nam giảng dạy tại Trung tâm Pháp - Việt về quản lý. Mỗi chuyến trở lại, bà đều xúc động trước những đổi thay trên dải đất hình chữ S, điều mà theo bà, là giấc mơ Bác Hồ luôn ấp ủ.

Trở lại Việt Nam lần này, Elisabeth mang theo ký ức về Bác Hồ và tình bạn Việt - Pháp, để một lần nữa sống lại trên mảnh đất bà coi là quê hương thứ hai./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY 22/8/1945: SÓNG CÁCH MẠNG CUỒN CUỘN, NHIỀU TỈNH ĐỒNG LOẠT GIÀNH CHÍNH QUYỀN!

     Tại Yên Bái, Ban Cán sự Đảng tỉnh Yên Bái tổ chức cuộc mít-tinh quần chúng ở sân Căng thị xã Yên Bái thu hút gần một vạn người tham dự. Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Yên Bái làm lễ ra mắt nhân dân; đồng chí Ngô Minh Loan là Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Phúc là Phó Chủ tịch.

Đồng chí Nguyễn Phúc thay mặt Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, công bố chính sách của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi nhân dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết ủng hộ, giúp đỡ chính quyền cách mạng sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của đế quốc và các thế lực phản động, vượt qua mọi khó khăn gian khổ quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng, từng bước xây dựng cuộc sống mới.

Tại Cao Bằng, buổi sáng, Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh và thị xã tổ chức cuộc tuần hành trên đường phố để biểu dương lực lượng cách mạng, sau đó họp mít-tinh tại chùa Phố Cũ tuyên bố xóa bỏ chính quyền của Nhật và bọn tay sai, thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời thị xã.

Nhân dân thị xã Cao Bằng nhiệt liệt chào đón chính quyền cách mạng và Ủy ban nhân dân lâm thời của tỉnh, thị xã ra mắt toàn dân. Đồng thời, ta cử một đoàn đại biểu thay mặt Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh giao thiệp với quân đội Tưởng theo quy chế Đồng minh, nhằm bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nền độc lập tự do mà nhân dân ta vừa giành được.

Tại Hưng Yên, hàng vạn quần chúng được vũ trang súng, dao, mác, gậy mang theo cờ và biểu ngữ, rầm rập tiến vào tỉnh lỵ trong khí thế hừng hực của cách mạng, địch không dám chống cự, ngụy quyền nhanh chóng tan rã…

Đoàn người khổng lồ diễu hành qua dinh tỉnh trưởng rồi tiến vào sân vận động thị xã Hưng Yên tổ chức mít-tinh lớn, tuyên bố xóa bỏ chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng.

Tại Huế, bừng bừng khí thế, sắc đỏ cách mạng phủ khắp các cơ xưởng hỏa xa, Sở Công chánh… công nhân đồng loạt đứng lên giành quyền làm chủ, xóa bỏ ách thống trị thực dân, phát-xít.

Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban khởi nghĩa, nhân dân đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình thị uy. Tối hôm đó, Ủy ban khởi nghĩa gửi tối hậu thư buộc Bảo Đại thoái vị, trao chính quyền cho nhân dân và bảo đảm an toàn cho Hoàng tộc.

Trước tình thế không thể đảo ngược, Bảo Đại triệu tập “Nội các lâm thời” thông qua dự thảo thoái vị và tuyên bố giải tán. Đúng 18 giờ, trên Đài phát thanh Huế vang lên lời tuyên bố của Bảo Đại.

Đêm 22/8/1945, thành phố ngập tràn khí thế cách mạng; các đội tự vệ truy bắt Việt gian, bao vây bọn phản động, nhân dân náo nức chờ giờ vùng dậy.

Tại Khánh Hòa, mờ sáng, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc trang bị giáo mác, gậy gộc, tên, ná, từ Cà Rôm, Hiệp Mỹ, Hiệp Thạnh, Trại Cá, Trà Long, Khánh Cam, Hòa Do, Mỹ Ca, Cồn Ké, theo đường số 1 đổ về Đá Bạc.

Đồng bào làm nghề biển Cam Ranh, Thịnh Xương, Cồn Sung, Bình Ba, Bình Hưng trên hàng chục chiếc thuyền lớn nhỏ giương cờ đỏ sao vàng cùng tiến về Đá Bạc, bao vây chiếm Nha đại diện hành chính và các công sở ngụy quyền.

Viên kiểm lý Tôn Thất Ẩn giao nộp ấn tín, hồ sơ cho cách mạng. Các tên Việt gian phản động đều bị tự vệ bắt giữ. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện do đồng chí Nguyễn Xuân Cúc làm Chủ tịch ra mắt quần chúng, tuyên bố xóa bỏ chính quyền bù nhìn, công bố 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh.

Tại Tân An, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng giành thắng lợi. Buổi sáng, 4.000 quần chúng với tầm vông, giáo mác, khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng từ các quận Châu Thành, Thủ Thừa, tiến về sân đá bóng thị xã, trước dinh Tỉnh trưởng, tham gia cuộc mít-tinh chào mừng cách mạng. Trước đông đảo quần chúng, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ra mắt nhân dân.

Tại Sài Gòn, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Trọng và Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Lê Minh Xuân trực tiếp chỉ huy lực lượng đến tước vũ khí của lính bảo an tỉnh, thu hơn 140 súng. Thanh niên Tiền phong thiết lập trật tự chung toàn thị xã. Tên tỉnh trưởng Thạch trên đường từ Sài Gòn về bị ta đón lõng và bắt giam./.
Ảnh 1: Thanh niên Tiền phong tại Sài Gòn biểu dương lực lượng trong những ngày Cách mạng Tháng Tám 1945. 
Ảnh 2: Tranh sơn dầu tái hiện buổi mít-tinh mừng chiến thắng vào chiều 22/8/1945 của Tỉnh ủy và nhân dân Tân An (trưng bày tại Di tích Nhà Tổng Thận (tỉnh Long An cũ).

Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: SAO KHÔNG BẮN?!!!

     Vụ thông chốt kinh hoàng ở Hà Nội để lại nhiều bình luận đại ý “Sao chiến sĩ CSCĐ không nổ súng?”.

Phải nói thẳng “Không thể bắn và không được bắn”.

Cảnh sát làm việc có nguyên tắc, không phải lúc nào cũng rút súng ra được.

Và khi nhiều người dân đang đứng chờ xem tổng duyệt, việc nổ súng là rất rủi ro. Các chiến sĩ CSCĐ không rút súng ra là ĐÚNG.

CSGT, CSCĐ hay các lực lượng vũ trang khác mặc quân phục là để thể hiện vai trò đại diện của luật pháp. Luật pháp nghiêm minh, nên bộ quân phục cũng mang tính trấn áp bằng hình ảnh bên ngoài. Tính trấn áp ấy để ngăn chặn manh động gây hậu quả lớn hơn. Kỳ vọng của trấn áp này là để tội phạm biết sợ mà dừng tay. Nhưng bọn tội phạm không biết sợ thì sao? Thì rủi ro dồn hết về lực lượng Cảnh sát.

Việc chiến sĩ CSCĐ bị tông trúng, không thể đặt câu hỏi kiểu “Tại sao không làm thế này, không làm thế kia?”. Đơn giản, các chiến sĩ đang làm nhiệm vụ theo phân công, chỉ đạo, phải đứng theo vị trí, theo đội hình. Và khi đứng giữa tội phạm với nhân dân, mặc định các chiến sĩ cảnh sát phải lựa chọn lao vào tội phạm để tránh thương vong cho dân. Hai đứa manh động cố ý thông chốt là đồng nghĩa cố ý đâm thẳng vào đội hình. Do đó, hành vi này không thể xem là tai nạn, mà là tội ác có chủ đích.

Như vậy, nếu không tông phải chiến sĩ CSCĐ này, chúng cũng tông người khác.

Qua sự việc này, cho thấy phải trấn áp mạnh tay với đua xe, thông chốt và… ma tuý./.
Khuyết danh ST.

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2025

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: TÌNH YÊU VỚI BÁC HỒ VỚI VIỆT NAM!

     Mặc áo cờ đỏ sao vàng, tay ôm 5 điều Bác Hồ dạy, du khách Hàn Quốc bật khóc nức nở khi được trải nghiệm khoảnh khắc "gặp" Bác trên Quảng trường Ba Đình năm 1945!

Trong khán phòng của trải nghiệm VR, nơi hàng trăm người Việt Nam đang lặng im lắng nghe giọng Bác Hồ cất lên, tiếng khóc nức nở bỗng vang thành tiếng. Cả khán phòng quay lại. Người bật khóc không phải một cụ già nhớ về ký ức cũ, cũng không phải một thanh niên lần đầu được “chạm” vào lịch sử, mà là một du khách ngoại quốc.

Anh mặc chiếc áo đỏ rực, in ngôi sao vàng năm cánh. Trên tay anh, một tấm bảng gỗ khắc dòng chữ giản dị bằng tiếng Việt: “5 điều Bác Hồ dạy”. Anh ôm chặt như báu vật.

Khi giọng Bác vang lên trầm hùng: “Hỡi đồng bào cả nước…”, đôi vai anh run rẩy, khóc nấc lên như một đứa trẻ. Nước mắt chảy dài, ướt đẫm khuôn mặt. Không kìm được, anh úp mặt vào tấm bảng, để nước mắt thấm xuống từng thớ gỗ.

Có cụ bà run run rút khăn lau nước mắt theo, có em nhỏ ngơ ngác siết chặt lá cờ trong tay, còn những người trẻ tuổi lặng lẽ cúi đầu để mặc cho cảm xúc dâng lên cùng tiếng khóc ấy.

Người đàn ông ấy xưng tên là Dragon Kim, một du khách Hàn Quốc có tình yêu đặc biệt dành cho Việt Nam. Anh kể, sau 8 năm sống tại Việt Nam, học tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa Việt Nam, anh đã đặt khắc tấm bảng gỗ ấy.

“Tôi khắc để mỗi ngày đều nhớ. 5 điều Bác Hồ dạy không chỉ cho thiếu nhi Việt Nam, mà còn cho tất cả chúng ta. Tôi muốn sống đúng như vậy", Dragon Kim nói trước khi bắt đầu phần trải nghiệm./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH!

     Đây là hồi ức của bác sĩ Nguyễn Thị Bảo về những giây phút cuối cùng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Sự ra đi của ông đột ngột nhưng giản đơn đúng phong cách của con người chiến trận. Trích từ "Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Nhà lãnh đạo lỗi lạc, một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.344-347.

Chúng tôi là những người được sống và công tác cùng anh Thanh tới khi anh mất. Hàng năm cứ mỗi lần đến viếng mộ và thắp hương bàn thờ anh thì niềm thương, nỗi nhớ cứ dâng trào trong chúng tôi. Anh Thanh – một vị tướng thao lược, nhưng rất giản dị, gần gũi với những người cộng sự. Từ các đồng chí bí thư, bảo vệ, lái xe, bác sĩ đến đồng chí nấu ăn, ai ai cũng thương quý anh như người ruột thịt trong một gia đình. Năm nay, càng gần tới ngày giỗ lần thứ 30 của anh (6/7/1967 - 6/7/1997) trong mỗi chúng tôi càng gợi lại bao kỷ niệm sâu sắc, bao bài học về anh mà trong đó kỷ niệm về những ngày trước và sau giây phút anh ra đi tại Viện Quân y 108 cứ đọng lại mãi trong ký ức chúng tôi rõ mồn một. 

Hồi đó, tôi là bác sĩ thuộc Ban quân y thủ trưởng, phụ trách sức khỏe các gia đình có cán bộ đi B. Trưa ngày 5 tháng 7 năm 1967, tôi đến nhà chị Cúc (vợ anh Nguyễn Chí Thanh), thấy chị ngồi ăn cơm một mình, tôi hỏi nhỏ:
 - Sao chị không chờ anh về ăn cùng?
 - Anh đi ăn cơm khách – chị khẽ trả lời và kéo tôi ngồi xuống ăn cơm cùng. (Từ thời kỳ chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, gia đình anh chị và chúng tôi gắn bó như anh chị em ruột thịt, gặp bữa cơm nếu chưa ăn là ngồi vào ăn luôn). Chị em tôi ăn sắp xong thì anh Thanh ở ngoài bước vào trong bộ lễ phục trắng, quân hàm Đại tướng với dáng đường bệ và vui vẻ. Nhìn thấy tôi, anh khen: “Cô Bảo ở nhà chăm sóc sức khỏe chị và các cháu tốt anh mừng”. Rồi anh ngồi xuống cạnh chị Cúc, anh nói khẽ: “Chiều nay, Cúc đi ăn cơm khách với anh nhé!”. Với nét mặt hơi buồn, chị không trả lời thành tiếng, đầu chị nghiêng nghiêng không ra vẻ gật, cũng không ra vẻ lắc từ chối, đôi mắt chị nhìn anh trìu mến. Tôi thầm đoán là anh lại sắp vào B mà chuyến này đi với bao gian nguy trọng trách nên chị buồn lo. AnhThanh đứng dậy và nói: “Hai chị em tiếp tục ăn đi, anh lên nhà nghỉ trưa một tí đã”. Tôi nhìn theo bước chân nhanh nhẹn của anh đang đi trên cầu thang mà lòng mừng vui về sức khỏe của anh không hề suy suyển sau chuyến đi B dài vừa qua. 
Anh Nguyễn Chí Thanh đi B từ 1964, cuối tháng 6 năm 1967 anh được Trung ương và Bác Hồ triệu tập ra hội nghị để báo cáo tình hình miền Nam và nhận thêm chỉ thị mới. Còn một ngày trước khi lên đường mà bao nhiêu công việc dồn dập: trưa 5/7/1967, ăn cơm chia tay với Bác Hồ, nghe Bác dặn dò thêm; chiều đồng chí Võ Nguyên Giáp mời ăn cơm và trao đổi thêm nhiệm vụ. Sau bữa cơm về nhà muộn, anh còn làm việc với đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu, rồi đồng chí Vũ Tuân bên Văn phòng Trung ương sang gặp làm việc thêm. Khoảng hơn 11 giờ đêm anh mới được nghỉ và bắt đầu nói chuyện với chị Cúc, dặn dò các con trước khi đi xa. Anh Thanh còn nhắn bác Diệp nấu ăn lên dặn: chị chuẩn bị hai cốc cà phê vào lúc 4 giờ sáng (6/7/1967), một cốc cho anh và một cốc cho bác sĩ Thuận đi theo anh vào B. 
Gần 1 giờ sáng anh mới đi ngủ. Khoảng 3 giờ sáng anh Chắt bảo vệ đến nhà dưới đánh thức bác sĩ Thuận – người phụ trách sức khỏe riêng của anh Thanh, thấy anh Thanh kêu đau tức ngực và nóng ran trong bụng như có cào xé, bác sĩ Thuận đo huyết áp: 140/80; mạch 80 và khuyên anh nằm yên để mời kíp cấp cứu Viện Quân y 108 đến nhà. Anh bảo bác sĩ Thuận đi gọi điện báo cáo Trung ương tình trạng anh bị ốm bất ngờ. Bác sĩ Thuận đưa anh lên xe ô tô. Trên xe với tư thế nằm, anh vẫn nói chuyện với anh Chắt bảo vệ và anh Thuận. Xe đến phòng cấp cứu Viện Quân y 108, bác sĩ Thuận đề nghị đưa cáng ra khiêng anh vào giường. Anh Thanh đùa: “Chú Thuận chúa hình thức, quan trọng hóa”, rồi anh ngồi dậy đi thẳng vào buồng cấp cứu. Ở đó đã có Viện trưởng Nguyễn Thế Khánh và bác sĩ Phạm Tử Dương ra đón ngay. Anh Thanh vừa ngồi xuống giường, rồi nằm xuống, tự nhiên anh phát ra một tiếng “ặc”, mặt và toàn thân tím ngắt. Các bác sĩ xoa bóp ngoài lồng ngực, tiêm các thuốc trợ tim, điều trị cấp cứu tích cực, nhưng không kết quả. 
Thế là các nhà chuyên môn phải chuyển anh lên phòng mổ can thiệp ngoại khoa mổ lồng ngực, kích thích trực tiếp vào tim do Giáo sư Phạm Gia Triệu và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản thực hiện nhiệm vụ này. Ngay sau đó, các đồng chí Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Tôn Thất Tùng và bao nhiêu chuyên gia tim mạch trong và ngoài quân đội đến đầy đủ để tham dự cấp cứu anh. Nhưng tim anh vẫn chỉ co bóp rời rạc. 
Đến 9 giờ sáng ngày 6/7/1967 tim anh ngừng đập và anh đã tắt thở hoàn toàn, với chẩn đoán cuối cùng: nhồi máu cơ tim (gây cơn đau ngực, lan xuống động mạch chủ bụng) gây chết đột ngột (mort subite). Đúng 9 giờ sáng ngày hôm đó, xe đón chị Cúc có tôi đi cùng xuống Viện Quân Y 108, chúng tôi nhập vào đoàn y tế vừa cấp cứu anh xong, cùng các bạn bè thân thiết, các đồng chí tổ chức Trung ương chuyển linh cữu anh Nguyễn Chí Thanh đến đặt tại Hội trường Viện Quân y 108. 
Hôm sau, 7 tháng 7 năm 1967, linh cữu anh được chuyển về hội trường Câu lạc bộ quân nhân Hoàng Diệu để tổ chức lễ viếng và truy điệu. Hồi đó, đang thời kỳ máy bay giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, nên không có truyền tin rộng rãi, chỉ có một bài xã luận báo Nhân Dân ca tụng về tài năng, đạo đức, công lao đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Lễ tang anh, người đến viếng rất đông, ai ai mắt cũng đỏ hoe vì quá thương tiếc anh. Đặc biệt, khi Bác Hồ đến viếng, Bác lau nước mắt thì nhiều người khóc nấc lên. Để tránh bom đạn giặc Mỹ, lễ đưa tang anh Nguyễn Chí Thanh rất muộn, đến nghĩa trang Mai Dịch thì trời tối hẳn. Đêm 7 tháng 7 năm 1967, tức là đêm 30 tháng 5 Đinh Mùi không có trăng, chỉ có ánh sao lờ mờ, nên tang lễ anh càng đượm buồn. Sau lễ an táng anh, mọi người ra về với lòng tiếc thương vô hạn, thầm hứa noi gương học tập ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần cách mạng triệt để của anh, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp anh đang tiến hành dang dở. 
Nguyễn Thị Bảo.
Đại tá, bác sĩ, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa A3 Viện Quân Y 108./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC KHÔNG LÊN ÁN NGA CỦA MỸ?

     Phải chăng gió đã đổi chiều: Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump hai lần không bỏ phiếu ủng hộ dự thảo Nghị quyết và Tuyên bố chung của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược”.

Lần thứ nhất trong tháng 2/2025, Mỹ không bỏ phiếu ủng hộ dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc do Ukraina và một số nước đệ trình “lên án Nga xâm lược Ukraina”. Mỹ đệ trình bản dự thảo nghị quyết khác chỉ yêu cầu “nhanh chống chấm dứt cuộc chiến Ukraina”.

Lần thứ hai Mỹ ủng hộ Tuyên bố chung của một số thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc án “Nga xâm lược Georgia” trong cuộc chiến tranh 5 ngày đầu tháng 8 năm 2008. Ủng hộ Tuyên bố chung này có đại diện của 5 thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc gồm Đan Mạch, Pháp, Hy Lạp, Anh và Slovenia cùng với Latvia (quốc gia sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thành viên HĐBA vào năm sau). 

Khách quan mà xét, việc Mỹ phản đối Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược Ukraina” hay Mỹ không ủng hộ Tuyên bố chung của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc “lên án Nga xâm lược Gruzia” là hoàn toàn đúng bản chất của hai cuộc chiến này.

Về cuộc chiến Ukraina, chính Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio khẳng định đó là cuộc chiến tranh uỷ nhiệm giữa hai siêu cường hạt nhân, trong đó Mỹ viện trợ quân sự cho Ukraina để tiến hành cuộc chiến tranh uỷ nhiệm chống Nga. Cuộc chiến này do chính quyền của Đảng Dân chủ châm ngòi dưới thời Tổng thống Joe Biden. 

Còn cuộc chiến Nga-Gruzia khởi đầu bằng hành động của Gruzia được chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama- cũng là người của Đảng Dân chủ “chống lưng” tấn công lực lượng gìn giữ hoà bình của Nga ở Nam Osechia, buộc Nga phải đáp trả./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỐN NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VIẾT TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP!

     Đêm thu trong căn gác vừa là phòng ăn vừa là nơi tiếp khách ở 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi trước máy đánh chữ soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

Sau khi Hà Nội giành được chính quyền từ quân Nhật trong Tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng từ chiến khu Tân Trào đi bộ về Hà Nội. Những cán bộ cốt cán của Trung ương Đảng tạm trú tại nhà 48 Hàng Ngang, là nhà của ông bà Trịnh Văn Bô, một tư sản yêu nước có đóng góp nhiệt thành cho cách mạng. Chủ nhà dành riêng cho khách tầng gác hai, tầng ba dành cho Bác làm việc. Không thích một mình nên Bác chọn ở cùng với cộng sự.

Tầng gác hai vốn là phòng ăn và nơi tiếp khách, không có bàn viết. Chiếc máy chữ đặt ở bàn vuông nhỏ kê góc buồng. Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm một góc nghỉ ngơi, người nằm đi văng, người ngủ trên mấy chiếc ghế ghép, Bác nằm trên chiếc ghế xếp bằng vải vẫn dựng góc buồng.

Căn gác là nơi Thường vụ Trung ương Đảng họp bàn việc sớm công bố danh sách Chính phủ lâm thời và ra mắt nhân dân - những việc phải làm ngay trước khi quân Tưởng Giới Thạch kéo vào giải giáp quân Nhật. Thường vụ quyết định ngày ra mắt Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa. Ngoài đường lối, chính sách của Chính phủ, cần chuẩn bị cả lời thề trước nhân dân. Việc hệ trọng cần làm ngay là soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 28/8/1945, trong căn buồng thiếu ánh sáng, Hồ Chủ tịch cặm cụi viết, lúc thì đánh máy. Ngoài chủ nhà, những người giúp việc không ai biết ông cụ là ai, vẫn tưởng "ông với các bác ở quê ra chơi". Đến anh lái xe hôm đi đón đoàn ở làng Gạ ven đô về 48 Hàng Ngang tới hôm 2/9 mới biết Chủ tịch nước là ông cụ mấy ngày trước mình đón về.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung viết Tuyên ngôn độc lập những ngày cuối tháng 8 giữa Thủ đô. Nhưng từ giữa tháng 5 khi còn ở Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, Bác đã nói với trung úy John, báo vụ của Cơ quan tình báo chiến lược Mỹ OSS điện về Côn Minh, Trung Quốc, đề nghị thả dù cho một cuốn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ.

Thời gian này để phối hợp với quân Đồng minh, Việt Minh tiếp nhận một số binh sĩ Mỹ đến khu giải phóng hợp tác chống Nhật, chủ yếu là kỹ thuật viên hỗ trợ thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện. Đầu tháng 8, tại nơi được chọn làm sân bay ở xóm Lũng Cò, xã Minh Thanh, Tuyên Quang, một bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ được máy bay của Không đoàn 14 thả xuống.

10h30 ngày 29/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thiếu tá tình báo Archimedes L.A. Patti - Trưởng ban Đông Dương của OSS tại 48 Hàng Ngang. Patti đến Hà Nội để làm nhiệm vụ giải cứu tù binh và chuẩn bị cho việc giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Cùng tiếp có ông Trường Chinh.

Trong cuốn Tại sao Việt Nam - Khúc dạo đầu của chim hải âu Mỹ, Patti kể cụ Hồ hôm ấy "khỏe mạnh, sôi nổi", trao đổi một số kế hoạch sắp tới, trong đó có tổ chức ngày lễ Độc lập 2/9. Nhưng một trong những lý do ông muốn gặp Patti liên quan đến bản Tuyên ngôn độc lập đang soạn thảo sẽ được công bố vài ngày nữa.

Bản thảo được đưa tới, Patti nhận ra đó là tài liệu đánh máy bằng Tiếng Việt. Nhiều chữ bị xóa đi, được viết đè lên bằng bút mực với ghi chú bên lề. Nghe phiên dịch, thiếu tá tình báo "vô cùng ngạc nhiên" khi Hồ Chủ tịch đã đưa vào một số câu trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, nhưng đã đảo trật tự và thay thế một số từ, đem lại một ý nghĩa mới.

Trong mấy câu đầu, người phiên dịch nói lên một số danh từ "rất quen thuộc và giống lạ lùng như Tuyên ngôn của nước Mỹ". Nghe tiếp câu sau "Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ", Patti chặn người phiên dịch, kinh ngạc quay sang hỏi cụ Hồ liệu "thực có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn" của Việt Nam không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi dựa vào ghế, hai tay úp vào nhau, như đang suy tưởng rồi cười nhã nhặn hỏi lại thiếu tá Mỹ: "Tôi không thể dùng được câu ấy à?".

Patti bình tĩnh lại, nhờ người phiên dịch đọc lại đoạn đó một lần nữa. "Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ đã được tạo hóa trao cho những quyền không thể chuyển nhượng lại được, trong đó có quyền tự do, quyền sống và được hưởng hạnh phúc". Patti cố nhớ lại, mới nhận ra các danh từ đã được chuyển vị trí, trật tự quyền tự do (liberty) và quyền sống (life) đã thay đổi.

"Đúng! Không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do", Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời.

Hồ Chủ tịch mời Patti dự lễ Độc lập 2/9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phía bên kia nhận lời, nhưng cũng tỏ ý có thể không đến dự được vì một vài lý do tế nhị. Thiếu tá tình báo Mỹ trở thành người nước ngoài đầu tiên được nghe bản thảo Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sáng 30/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Trường Chinh mời ông Võ Nguyên Giáp cùng một số người đến trao đổi, góp ý cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Tuyên ngôn thảo xong, Bác đọc để tập thể thông qua.

Tướng Giáp sau này vẫn hoài niệm sáng ấy thấy "niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng", nhưng là "những giờ phút sảng khoái nhất" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 26 năm trước tại Hội nghị Versailles, Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã tới và nêu lên những bức thiết về dân sinh dân chủ cho người dân thuộc địa, nhưng những yêu cầu tối thiểu đã không được chấp nhận. Người thanh niên ấy nhận rõ không thể trông chờ vào tư bản mà phải tự trông cậy vào dân tộc mình. Và giờ phút ấy là thành quả của 80 năm đấu tranh.

Ngày 31/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn độc lập và hỏi tình hình chuẩn bị tổ chức cuộc mít tinh ngày 2/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội. Ông cụ xem sơ đồ địa điểm tổ chức, nhắc ban tổ chức đôi điều chú ý, trong đó có nơi vệ sinh cho đồng bào, dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho người dân nhất là các cụ già, cháu nhỏ bị ướt.

Giữa những ngày bộn bề cuối tháng 8, khi đã ấn định được Lễ Độc lập diễn ra ngày 2/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần tìm cho mỗi người một bộ quần áo thật tươm tất lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cán bộ từ chiến khu trở về, kể cả Bác đều mặc đồ đã cũ sờn, có nhiều miếng vá.

Là hiệu buôn, bấy giờ trong tủ ông bà Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ có nhiều vải vóc. Bà Minh Hồ đã lựa mấy xúc vải kaki để may quần áo cho cán bộ, đồng thời lấy cả chục bộ đồ mới cho anh em mặc tạm trong lúc chờ đồ may. Ai mặc vừa bộ nào thì lấy bộ đó. Riêng cụ Hồ vừa ốm sốt nhiều ngày lại đi bộ từ chiến khu về nên sút cân, không hợp bộ nào trong số quần áo may sẵn.

Sát ngày đại lễ, ông bà mang vài loại vải đã chọn riêng tới, nhưng Bác nói chỉ cần mặc tươm tất, không cần len dạ đắt tiền, không cà vạt cổ cồn. Cuối cùng, ông chủ hiệu may Phú Thịnh có tiếng ở Thủ đô nhận may riêng cho Bác hai bộ, kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường có thể mở khuy cho thoải mái, đi giày dép đều được. Bác mặc thử, liền ưng.

Ngày 2/9/1945, trên lễ đài ở quảng trường Ba Đình, trước 500.000 đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được trong những quyền sống, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, vẫn nhớ rõ "cụ già hôm ấy gầy gò, trán cao, mắt sáng, đội chiếc mũ đã cũ". Bộ quần áo vải kaki mà 24 năm làm Chủ tịch nước, trong những ngày lễ lớn của dân tộc, những chuyến viếng thăm nước ngoài, Bác đều mặc, "trên ngực không một tấm huy chương, y như ngày ra mắt đồng bào"./.
--------------------
Tư liệu lược trích:
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Những năm tháng không thể nào quên, trong Tổng tập Hồi ký, NXB Quân đội nhân dân 2018
- Sách Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập, NXB Văn hóa thông tin, lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ BÀI HỌC VỀ XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” HIỆN NAY!

     Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20, mở ra kỷ nguyên “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” ở nước ta. Thắng lợi vĩ đại này không phải từ ưu thế vũ khí hay sự hỗ trợ của liên minh quốc tế, mà chính từ sức mạnh nội sinh của dân tộc-sức mạnh hội tụ, đoàn kết lòng dân, được Đảng tổ chức, lãnh đạo và phát huy tối đa; chuyển hóa lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập và khát vọng tự do, dân chủ của toàn dân thành một thế trận chính trị, tinh thần thống nhất, toàn diện và chủ động.

Đây là minh chứng điển hình cho nghệ thuật tổ chức lòng dân thành sức mạnh chiến lược. Mỗi người dân, tổ chức, lực lượng và cộng đồng đều trở thành một mắt xích trong cuộc tổng khởi nghĩa. Đảng không chỉ tuyên truyền, vận động, khơi dậy lòng dân mà còn kiến tạo một kết cấu chính trị có khả năng quy tụ, định hướng và tổ chức, điều phối mọi nguồn lực xã hội, tạo nên “thế trận lòng dân”, sức mạnh toàn dân, chỉ đạo đồng loạt hành động đúng thời điểm quyết định để giành thắng lợi. Bài học lớn được đúc rút là chỉ khi nhân dân được đặt ở trung tâm, được dẫn dắt bằng lý tưởng cao đẹp, được tổ chức, hướng dẫn bằng phương pháp khoa học thì cách mạng mới giành thắng lợi. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, bài học ấy vẫn giữ nguyên giá trị, cần được nhận thức, vận dụng và phát huy ở tầm cao mới, nhất là trong tư duy chiến lược xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong tình hình mới.

Một là, lòng dân là tài sản quốc gia, cần được bảo vệ như nguồn lực chiến lược quan trọng nhất, cần lập thành thế trận liên hoàn, vững chắc, tạo sức mạnh to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, lòng dân không chỉ là niềm tin vào Đảng, biểu hiện cảm xúc mang tính đạo đức xã hội, mà chính là nguồn lực chiến lược, tài sản quốc gia có giá trị sống còn trong mọi giai đoạn lịch sử. Chỉ trong vòng 15 ngày, toàn dân từ Bắc chí Nam đã nhất tề đứng dậy giành chính quyền, chấm dứt gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và hơn 1.000 năm chế độ phong kiến, thiết lập nền dân chủ cộng hòa đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Thắng lợi đó không đến từ sức mạnh vũ khí hay nguồn viện trợ bên ngoài, mà từ “thế trận lòng dân” vững chắc, nhân dân trở thành trung tâm và chủ thể hành động của cách mạng.

Trong bối cảnh hiện nay, bài học về lòng dân càng trở nên cấp thiết. Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, thế giới nhiều biến động, những hình thái xâm lăng không chỉ mang dáng dấp xe tăng, đại bác mà còn ẩn mình trong các “cuộc chiến không khói súng”: Chiến tranh nhận thức, thao túng thông tin, tấn công mạng, xâm nhập hệ giá trị văn hóa-tư tưởng; nguy cơ “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra hằng ngày, nhất là trên không gian mạng. Thêm vào đó, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ deepfake, thuật toán phân cực dư luận đặt ra những thách thức chưa từng có đối với việc quản lý và giữ vững lòng dân. Nếu không tổ chức lòng dân thành thế trận liên hoàn, đa tầng, tích hợp, thông minh, thích ứng nhanh thì rất dễ bị phân hóa, chia rẽ, thậm chí bị lôi kéo, thao túng. Vì vậy, lòng dân phải được xem là tài sản quốc gia, được bảo vệ như biên giới lãnh thổ, được đo lường, theo dõi, tổ chức và dẫn dắt một cách khoa học. Xây dựng “thế trận lòng dân liên hoàn” chính là cách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ gốc, ngay trong nhân tâm.

Hai là, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí chiến đấu của toàn dân là nền tảng tư tưởng-chính trị để tổ chức và vận hành “thế trận lòng dân”.

Trong mọi cuộc cách mạng, yếu tố quyết định không phải là vũ khí mà là sức mạnh chính trị, tinh thần được hun đúc từ chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý chí chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do. Đây chính là nền tảng tư tưởng, chính trị, văn hóa tạo nên tính chính danh, tính bền bỉ và sức bùng nổ của mọi phong trào cách mạng. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chứng minh điều đó trong điều kiện hết sức khó khăn.

Hiện nay, bên cạnh thuận lợi và thời cơ, chúng ta đối mặt với nhiều nguy cơ: Sự phai nhạt bản sắc văn hóa, phân hóa tư tưởng xã hội, mất phương hướng giá trị ở một bộ phận thanh niên, xu hướng thực dụng gia tăng. Do đó, việc phát huy và hiện đại hóa chủ nghĩa yêu nước trở thành yêu cầu cấp thiết. Chủ nghĩa yêu nước phải được chuyển hóa thành hành vi công dân, năng lực sáng tạo, trách nhiệm xã hội, bản lĩnh quốc gia trong hội nhập toàn cầu. Lòng tự hào dân tộc cần thể hiện bằng hành động cụ thể: Bảo vệ sự thật, đấu tranh chống tin giả; gìn giữ ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam trên không gian số; khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo trong thế hệ trẻ.

Để đạt được điều đó, các cấp, các ngành cần triển khai một hệ sinh thái tinh thần quốc gia, trong đó chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi, được giáo dục xuyên suốt từ gia đình-nhà trường-xã hội, gắn với chương trình chuyển đổi số quốc gia và các chính sách phát triển. Cần tạo dựng những không gian thể hiện lòng yêu nước hiện đại như bảo tàng số, nền tảng AI kể chuyện lịch sử, mạng xã hội lan tỏa tinh thần dân tộc, cơ sở dữ liệu quốc gia ghi nhận sáng kiến công dân. “Thế trận lòng dân” vì thế sẽ không chỉ dừng lại ở những phong trào truyền thống mà còn chuyển hóa thành năng lực chính trị-xã hội có thể huy động trong mọi tình huống.

Ba là, kết hợp chặt chẽ “thế trận lòng dân” với quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân để kiến tạo thế trận tổng hợp vững chắc bảo vệ Tổ quốc.

Một quốc gia chỉ có thể tự bảo vệ vững chắc trước mọi nguy cơ nếu xây dựng được một thế trận tổng hợp: Lòng dân là nền móng tinh thần, quốc phòng toàn dân là cánh tay hành động, an ninh nhân dân là vành đai bảo vệ từ bên trong. Đây là sự thống nhất biện chứng giữa 3 trụ cột chiến lược: “Thế trận lòng dân”-quốc phòng toàn dân-an ninh nhân dân; trong đó, “thế trận lòng dân” giữ vai trò định hướng và lan tỏa nguồn lực; quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân là khả năng huy động, phối hợp lực lượng để phát hiện, xử lý, vô hiệu hóa các nguy cơ từ bên ngoài và bên trong.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám là minh chứng tiêu biểu. Khi thời cơ đến, chính sự phối hợp giữa lực lượng chính trị (Việt Minh), lực lượng vũ trang cách mạng và hàng triệu quần chúng nhân dân có tổ chức đã nhanh chóng giành chính quyền trên phạm vi cả nước.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây là quan điểm, chủ trương xuyên suốt, thể hiện tư duy chiến lược của Đảng. Khi được tổ chức bài bản, “thế trận lòng dân” trở thành lớp “lá chắn mềm” nhưng bền vững, góp phần giữ vững ổn định xã hội, tạo đồng thuận và củng cố niềm tin, là điều kiện thiết yếu để phát huy hiệu quả thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Bốn là, xây dựng “hệ sinh thái lòng dân” phù hợp thời kỳ cách mạng mới.

Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh một chân lý: Lòng dân là cội nguồn sức mạnh, là nền tảng quyết định thắng lợi. Trong Cách mạng Tháng Tám, dù chưa có chính quyền hợp pháp nhưng Đảng ta đã tổ chức thành công một "hệ sinh thái lòng dân", kết hợp nhịp nhàng giữa yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và cách mạng, tổ chức và tự giác.

Ngày nay, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ, đồng thời cũng nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, cơ hội triệt để lợi dụng những khoảng trống trong nhận thức, việc thực hiện chính sách và diễn biến tâm lý xã hội để chống phá cách mạng Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng và phát triển một hệ sinh thái lòng dân hiện đại, tích hợp, thích ứng, vượt khỏi giới hạn tổ chức hành chính truyền thống, hướng tới cấu trúc liên thông đa trục.

Trên nền tảng chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, cần hình thành giá trị chung, niềm tin bền vững, bản lĩnh quốc gia. Thông qua trục thông tin, truyền thông, dư luận, cần kiến tạo không gian đối thoại tích cực, định hướng nhận thức xã hội. Trục kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo sẽ chuyển hóa lòng dân thành động lực phát triển. Trục ngoại giao và bản sắc văn hóa góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước ra thế giới. Khi được tổ chức đồng bộ, "hệ sinh thái lòng dân" Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ trở thành sức mạnh mềm vững chắc, tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGÀY QUỐC KHÁNH RỰC RỠ TRONG KÝ ỨC ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP!

     Những ngày cuối tháng 8/1945, Hà Nội rộn rã như trái tim của một đất nước vừa hồi sinh. Từ căn gác ở số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh miệt mài bên bàn ăn, khi viết tay, khi gõ máy chữ, hoàn thiện Tuyên ngôn Độc lập - văn kiện đánh dấu sự thay đổi vĩ đại trong lịch sử dân tộc.

Ngoài phố, cờ đỏ sao vàng rợp trời, tiếng hát cách mạng vang từ sáng đến khuya. Quân dân thủ đô gấp rút chuẩn bị cho ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, bảo vệ chính quyền vừa giành được. Bên trong căn phòng, từng câu chữ Bác Hồ viết ra mang theo hơi thở của lịch sử, chuẩn bị cho khoảnh khắc long trọng nhất vào ngày 2/9.

Khi Tuyên ngôn kết thúc, toàn quảng trường vang lời thề độc lập: "Không đi lính cho Pháp, Không làm việc cho Pháp, Không bán lương thực cho Pháp, Không đưa đường cho Pháp!".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem đó là ngày "chế độ thực dân Pháp bị đưa ra cho toàn dân Việt Nam công khai xét xử", chấm dứt vĩnh viễn ách nô lệ.

Ngày 2/9, theo Đại tướng, mở ra cho dân tộc một “Kỷ nguyên Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”. Với mỗi người dân, giá trị ấy trở thành lời thề sắt son, quyết giữ gìn dù phía trước còn muôn vàn thử thách./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TẦM VÓC VĨ ĐẠI, Ý NGHĨA TO LỚN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9!

     Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc khánh 2-9 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi đã trở thành thiên anh hùng ca bất hủ, khẳng định chân lý và niềm tin bất diệt: Một dân tộc có thể đất không rộng, người không đông, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn thô sơ, phương tiện quân sự thiếu thốn trăm bề, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức của một Đảng cách mạng chân chính, sự chung sức “trên dưới đồng lòng, nhất hô bá ứng” thì dân tộc ấy vẫn có thể làm nên những sự kiện lịch sử vĩ đại có tầm vóc và đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới như một địa chỉ đỏ, một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa điển hình ở khu vực và trên thế giới.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cột mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 càng làm sáng ngời chân lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin về chiến tranh, quân đội trong thời đại ngày nay: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”, “Chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công”. Quan điểm của Đảng, chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Không một quân đội nào, không có khí giới nào có thể đánh gục ngã được tinh thần hy sinh của cả dân tộc; nhất là ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân ta”.
Thực tiễn quá trình đấu tranh gian khổ chống ách đô hộ của thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, đặc biệt là quyết định táo bạo đầy sáng suốt trong thay đổi phương châm tác chiến ở tầm chiến lược: “Lựa tình thế, chớp thời cơ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là minh chứng sinh động nhất về bản chất cách mạng, tiến bộ, chính nghĩa và nhân văn sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám. Thực tiễn đấu tranh cách mạng đó đã bác bỏ mọi quan điểm sai trái, bôi đen của các thế lực thù địch, phản động về sự kiện lịch sử này, càng khẳng định rõ bản chất cách mạng của Đảng ta: Đảng của dân, do dân, dựa vào dân và vì dân, lãnh đạo nhân dân chiến đấu vì hòa bình, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Qua đó càng làm sáng ngời mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân - Đảng hết lòng vì dân, dân một lòng tin và theo Đảng, càng thấm đẫm tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc quý báu của thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám trong thời đại ngày nay.
Thắng lợi vang dội của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đã một lần nữa khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần quyết tử “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam anh hùng. Bản lĩnh Việt Nam, tầm vóc và tinh thần Cách mạng Tháng Tám mãi âm vang, trường tồn, bất diệt, mãi là nguồn động lực to lớn khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; truyền cảm hứng, cổ vũ và lan tỏa các giá trị truyền thống cao đẹp cho các thế hệ trên hành trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 🇻🇳 PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ🇻🇳

     Sáng 20 tháng 8, tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ kỷ niệm trọng thể 80 năm thành lập Chính phủ (28/8/1945 – 28/8/2025) và Hội nghị gặp mặt các thế hệ Lãnh đạo công tác tại Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và có bài phát biểu quan trọng tại Lễ kỷ niệm.

Xin trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư:
"Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo công tác tại Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ qua các thời kỳ,

Thưa các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ và quý vị đại biểu,

Hôm nay, trong không khí thiêng liêng của mùa thu lịch sử, khi cả dân tộc hướng về kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng ta thật xúc động và tự hào được sum họp nơi đây để dự Lễ kỷ niệm 80 năm thành lập Chính phủ, được cùng các đồng chí Lãnh đạo công tác tại Chính phủ qua các thời kỳ nhìn lại chặng đường vẻ vang của dân tộc, tri ân sâu sắc những cống hiến to lớn, quan trọng của các đồng chí đi trước, cùng nhau khẳng định ý chí tiến lên vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi trân trọng gửi tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Chính phủ các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ và các đồng chí đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và những lời chúc sức khỏe, chúc thọ các đồng chí để các đồng chí tiếp tục chứng kiến sự phát triển của đất nước.

Thưa các đồng chí,

Tám mươi năm trước, trong những ngày lịch sử long trời lở đất, dưới ngọn cờ của Đảng, toàn dân tộc vùng lên làm chủ vận mệnh của mình. 

Chính quyền cách mạng non trẻ ra đời giữa muôn vàn khó khăn: thù trong, giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt hoành hành, ngân khố trống rỗng. 

Thế nhưng, chính trong khắc nghiệt ấy đã rèn đúc nên bản lĩnh thép của một Chính phủ của dân, do dân, vì dân. Những người nông dân, công nhân, trí thức được giác ngộ đã "xắn tay áo" dựng xây Nhà nước mới trên nền tảng độc lập dân tộc và khát vọng tự do, hạnh phúc. 

Từ buổi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ấy, biết bao thế hệ cán bộ lãnh đạo Chính phủ, từ Trung ương tới cơ sở, đã bước vào giai đoạn thử thách, giai đoạn cam go, mọi cái đều bỡ ngỡ, gian nan. 

Các đồng chí vừa là người điều hành quốc gia, vừa là người lính nơi tuyến đầu quản trị, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân; vừa là kiến trúc sư thiết kế thể chế, vừa là người thợ cả dựng lên những thiết chế đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt.

Lịch sử đã chứng kiến hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại, nơi ý chí của dân tộc kết tinh thành sức mạnh vô song. 

Trong những năm tháng ấy, các thế hệ lãnh đạo Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ đã gánh trên vai cả một "cỗ máy" quốc gia vận hành trong chiến tranh: chuyển hóa nguồn lực ít ỏi thành sức mạnh toàn dân; tổ chức sản xuất, hậu cần; điều phối chính sách, giữ vững kỷ cương; huy động trí tuệ, tài lực và lòng dân, sức dân cho tiền tuyến. 

Từ "hạt gạo chia đôi", từ "bát cơm sẻ nửa", Chính phủ của chúng ta đã hiện thực hóa tinh thần "dĩ bất biến, ứng vạn biến": kiên định mục tiêu độc lập tự do, nhưng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong mọi sách lược. 

Đó là những năm tháng mà mỗi văn bản chỉ đạo, mỗi quyết định điều hành đều in đậm dấu ấn trách nhiệm với sinh mệnh quốc gia; nơi mà mỗi tấc đất giải phóng, mỗi nhà máy, công trường, làng xóm, thôn bản, những mái trường, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng, được khôi phục sau các trận bom của kẻ thù đều có bóng dáng của những người "đầu tàu gánh vác" trong bộ máy Chính phủ.

Ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, các đồng chí lại đứng trước một sứ mệnh vô cùng nặng nề, trọng đại: hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục hậu quả đổ nát, đưa cả dân tộc bước vào thời kỳ kiến thiết, phát triển. 

Đó là giai đoạn mà từng đồng vốn, từng ký gạo, từng mét vải đều quý như vàng; mỗi quyết sách đều là sự cân nhắc đầy trăn trở giữa nhu cầu bức thiết và nguồn lực hạn hẹp. 

Giữa bộn bề thiếu thốn ấy, các thế hệ lãnh đạo Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ đã kiên trì tìm đường đổi mới quản trị, thí điểm những cơ chế mới, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực xã hội. 

Khi Đổi mới được khởi xướng, chúng ta một lần nữa đi đầu trong đột phá tư duy: chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt nền móng cho một thời kỳ phát triển mới, nơi pháp luật, thị trường và kỷ cương quản trị trở thành bệ đỡ cho sáng tạo và khởi nghiệp.

Trong tiến trình cách mạng, để có ngày hôm nay, chúng ta không thể không nhắc tới công lao, đóng góp của các thành viên Chính phủ. 

Từ Ủy ban Cách mạng tiền Chính phủ trước khởi nghĩa như: Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời hình thành từ trước tháng 8/1945 (nền móng của mô hình Chính phủ sau này), đến Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Sau đó chúng ta có Chính phủ chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Cũng trong giai đoạn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ năm 1946 đến năm 1976), chúng ta biểu dương, đánh giá cao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (từ năm 1969 đến năm 1976), đã trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam, cùng đồng hành với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 

Tiếp đó là Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay, như trong báo cáo của đồng chí Thủ tướng, cũng đã chỉ rất rõ những thành tựu trong những giai đoạn Chính phủ kể trên.

Từ những bước đi đầu tiên đầy thận trọng cho tới những cải cách thể chế ngày càng hoàn thiện, bộ máy Chính phủ qua các thời kỳ đã bền bỉ đắp nền cho sự chuyển mình của đất nước. 

Mỗi kế hoạch 5 năm, mỗi chương trình mục tiêu quốc gia, mỗi dự án hạ tầng chiến lược là một viên gạch trong đại công trình dựng xây Tổ quốc; mỗi nỗ lực giảm nghèo, mở rộng an sinh, phổ cập giáo dục và bảo hiểm y tế, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là một cầu nối để không ai bị bỏ lại phía sau. 

Trên mặt trận đối ngoại, Chính phủ đã cùng toàn hệ thống chính trị kiên định đường lối độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; mở rộng quan hệ đối tác; đưa Việt Nam trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. 

Những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, những kết nối hạ tầng chiến lược, những tuyến cao tốc, cảng biển, sân bay, những khu công nghiệp, khu công nghệ cao mọc lên là bằng chứng sống động của một Việt Nam đổi thay từng ngày.

Kính thưa các đồng chí,

Đằng sau những con số tăng trưởng là mồ hôi, trí tuệ và tâm huyết của biết bao nhà quản trị quốc gia từ Trung ương đến địa phương. 

Đằng sau sự chuyển mình của nền kinh tế là những đêm trắng họp bàn, là những bản thảo viết đi viết lại, là những cuộc đối thoại bền bỉ với doanh nghiệp và người dân để tìm ra lời giải hài hòa lợi ích. 

Đằng sau sự thịnh vượng đang đến gần là những hy sinh lặng lẽ của nhiều thế hệ cán bộ giữ mình trong sạch, thượng tôn pháp luật, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, trước hết. 

Hôm nay, tôi xin thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với các thế hệ Lãnh đạo Chính phủ và các Cơ quan thuộc chính phủ qua các thời kỳ, những người đã góp mồ hôi, xương máu, tuổi trẻ và cả tính mạng của mình để xây nền hành chính, quản trị quốc gia; xin trân trọng tưởng nhớ những đồng chí đã đi xa, những người anh hùng, liệt sĩ, các bậc tiền bối đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc.

Tri ân là để khắc ghi, và khắc ghi là để tiếp bước. Truyền thống quý báu của Chính phủ có thể gói gọn trong mấy chữ: bản lĩnh-kỷ cương- đoàn kết-liêm chính-hành động-sáng tạo-hiệu quả-vì dân. Bản lĩnh để đứng vững giữa đổi thay; kỷ cương để hệ thống vận hành thông suốt; đoàn kết là sức mạnh; liêm chính để giữ lòng dân; hành động để biến nghị quyết thành hiện thực; sáng tạo để vượt qua thách thức; hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; và vì dân, để mọi chính sách đều tìm về mục tiêu tối thượng là hạnh phúc, ấm no của mỗi người dân Việt Nam.

Thưa các đồng chí,

Mỗi dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện trong đại của dân tộc, Ban chấp hành Trung ương đều tổ chức các cuộc gặp gỡ để thăm hỏi, ghi nhận, tri ân những người có công với nước, đã có những đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước; để ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, của đảng, của nhân dân, để lắng nghe ý kiến của các đồng chí nhằm tiếp tục lãnh đạo điều hành đất nước, đưa đất nước tiếp tục được trường tồn vĩnh cửu trong hòa bình và phát triển. 

Năm nay, Lãnh đạo Đảng tổ chức các cuộc gặp với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đảng, nhà nước, các đồng chí lão thành cách mạng, các mẹ Việt Nam anh hùng, những người có công và thân nhân người có công với đất nước, với cách mạng; tướng lĩnh, sỹ quan, cựu chiến binh, những người chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân, các thế hệ lãnh đạo chính phủ, đại biểu quốc hội qua các thời kỳ, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sỹ, các doanh nghiệp, đại diện những người lao động, đại diện các tôn giáo, các dân tộc, đại diện các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế... cuộc gặp hôm nay nằm trong chuỗi các sự kiến đó và Tôi được biết đây là lần đầu tiên Chính phủ tổ chức cuộc gặp gỡ với thành phần như hôm nay.

Kính thưa các đồng chí,

Nhìn lại để đi tới, tri ân để tiếp bước. Mỗi chặng đường chúng ta đi qua đều thấm đẫm dấu ấn của đoàn kết, trí tuệ và kỷ luật; của kiên định mục tiêu, linh hoạt sách lược; của ý Đảng hòa quyện lòng dân. Chúng ta tự hào về truyền thống, chúng ta tôn vinh thành quả 80 năm qua và trong thời điểm bước ngoặt hiện nay, chúng ta càng cần hành động trên tinh thần cách mạng tấn công như các bậc tiền bối đã từng làm.

Trước những mái đầu bạc phơ mà tinh anh, sáng suốt; trước những trái tim đã trải qua bao gian lao mà vẫn cháy bỏng yêu nước thương dân, chúng tôi luôn trân trọng và càng thấy trách nhiệm nặng nề. 

Mỗi đồng chí là một pho sử sống, là một tấm gương để thế hệ hôm nay và mai sau học hỏi, để vững bước tiến vào tương lai.

Tôi mong và tin rằng, các đồng chí, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, sẽ tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ hiện nay: góp ý thẳng thắn, xây dựng, truyền cảm hứng, nâng đỡ lớp trẻ, lan tỏa những giá trị tốt đẹp. 

Xin các đồng chí tiếp tục giữ gìn sức khỏe, tiếp tục viết, tiếp tục trao đổi, tiếp tục lắng nghe và truyền lại "nghệ thuật quản trị quốc gia" đã được rèn đúc qua cả một đời cống hiến. 

Xin các đồng chí hãy tiếp tục là "ngọn lửa ấm" để mỗi người cán bộ hôm nay, trong những lúc khó khăn nhất, vẫn nhớ đường, vững bước.

Xin kính chúc các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí Nguyên lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, Cơ quan ngang bộ và Cơ quan thuộc chính phủ qua các thời kỳ, các vị đại biểu sức khỏe, trường thọ, hạnh phúc, sống vui, sống khỏe để chứng kiến những thành tựu của Cách mạng, của dân tộc Việt Nam khi đất nước tròn 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và tròn 100 năm ngày Quốc khánh.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!"
Yêu nước ST.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2025

VỀ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ: ĐỒ PHẢN BỘI!

     Tháng 2/1991, tạp chí National Geographic đăng bức ảnh một đại tá quân đội Xô viết cầm quốc kỳ Liên Xô đang giận dữ hét câu "Đồ phản bội" vào mặt một người đàn ông mặc áo da màu đen. Chú thích ảnh như sau:" Hét vào mặt: một đại tá quân đội Xô viết cầm cờ đỏ đối mặt với người biểu tình ủng hộ dân chủ tại cuộc diễu hành nhân Ngày quốc tế lao động ở Quảng trường Đỏ năm 1990".

Tác giả bức ảnh là nhiếp ảnh gia kỳ cựu Steve Raymer. 

Thời điểm bức ảnh được chụp, mình đang chuẩn bị bảo vệ tốt nghiệp, chẳng đi chơi được đâu dù vẫn đang ở Moskva. Đó là thời kỳ Liên Xô rất loạn lạc, lực lượng theo phe dân chủ, muốn lật đổ chế độ tự do tung hoành, biểu tình hô vang các khẩu hiệu chống Chính quyền Xô viết. Hôm 1/5/1990, giữa dòng người diễu hành qua Quảng trường Đỏ đã xuất hiện nhiều kẻ như thế!

Đừng quên hôm qua 19/8/2025, tròn 34 năm ngày xảy ra Chính biến ở Liên Xô với hậu quả dẫn đến sự sụp đổ của LX cuối năm 1991.

Nhân dịp này, một cư dân trên mạng Nga là SAM88 bình luận: "Tôi nghĩ khá dễ hiểu, tại sao một đại tá đã nghỉ hưu của Quân đội Liên Xô, một cựu chiến binh của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, người đã bảo vệ Liên Xô khỏi kẻ thù dưới lá cờ Đỏ, sau những tiếng hô (chống Đảng, chống Chính quyền) như vậy lại vô cùng phẫn nộ và liền có ngay hành động bảo vệ Tổ quốc Xô viết và lá cờ Đỏ như thế.

Nói chung, độc giả thân mến, ngay cả Gorbachev, người thực sự đã trở thành kẻ phản bội Tổ quốc và người dân của mình, đã mở đường cho chủ nghĩa chống Xô viết khi cho phép thực hiện các cuộc tấn công như vậy vào Liên Xô và lịch sử của nó. Thật không may, chủ nghĩa chống Liên Xô vẫn chưa biến mất ở Nga ngay cả ngày nay...

Những người chống Liên Xô thuộc mọi tầng lớp và cấp bậc, bao gồm cả "giới tinh hoa", tiếp tục viết lại lịch sử Xô viết, bóp méo và phỉ báng nó.

Theo tôi, bức ảnh một đại tá với Cờ đỏ, đối đầu với một người đàn ông mặc áo khoác da, vẫn còn phù hợp cho đến ngày nay theo nhiều cách.

Tại sao?

Bởi vì trong xã hội chúng ta ngày nay, tôi tin chắc rằng, vẫn còn rất nhiều người mà đối với họ lá Cờ đỏ - lá cờ đã cùng ông cha ta xông lên trong các trận đánh trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại – vẫn là thiêng liêng! Đối với họ, lá Cờ đỏ vẫn là hiện thân của những thành tựu xã hội vĩ đại dành cho nhân dân, là hiện thân của công bằng đích thực!!!

Cũng như trong xã hội chúng ta ngày nay vẫn có những người mà biểu tượng chính là kẻ trong bức ảnh kia, mặc áo da đen… Những kẻ ngay trong thời kỳ cải tổ Gorbachev đã rời khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Liên Xô, nhanh chóng “đổi màu” thành “dân chủ” và những người ủng hộ quan hệ thị trường tư bản chủ nghĩa, trong khi không quên chỉ trích và bôi nhọ Liên Xô – đất nước mà họ đã nợ rất nhiều trong cuộc đời mình"

Chí lý!

Thật đáng buồn, ở ta hiện cũng đang có những kẻ như thế, dù họ đã từng được Chế độ đãi ngộ và trọng dụng vào những vị trí khá cao. Cứ vào mỗi dịp đất nước có lễ trọng, là họ lại ngoi lên, như sợ người đời quên lãng, gửi "tâm thư" đề xuất nọ ý kiến kia một cách hết sức vô lý và ngớ ngẩn. Đó là những tiếngsủa vô cùng lạc lõng trong lúc đoàn người vẫn đồng lòng tiến về phía trước!
Yêu nước ST.