Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020


Vạch trần, đấu tranh với những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội
Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai.
Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
Những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội không thể xem thường
Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.
Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.
Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.
Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.
Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.
Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội
Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.
Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.
Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.
Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.


Những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội không thể xem thường


Những biểu hiện mới của chủ nghĩa cơ hội không thể xem thường

Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.
Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm.
Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta.
Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi.
Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm./.

Những suy diễn, võ đoán có dụng ý xấu trước thềm đại hội đảng


Những suy diễn, võ đoán có dụng ý xấu trước thềm đại hội đảng

 

Hơn 90 năm kể từ khi ra đời đến nay, Đảng ta đã trải qua 12 kỳ đại hội. Mỗi kỳ đại hội diễn ra trong bối cảnh lịch sử khác nhau của đất nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, lịch sử dân tộc ta sang một trang mới.

Có thể nói bước ngoặt lịch sử giai đoạn mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng (từ ngày 15 đến 18-12-1986): Đại hội khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước. Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, gần 35 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu đổi mới to lớn, đặc biệt từ khi Đảng lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới hội nhập và phát triển.
Nhưng có một điều, dường như đất nước càng phát triển, càng đổi mới thì những thế lực thù địch, phản động, những người bất mãn với chế độ… lại càng cay cú và cực đoan, cho dù trong số họ có không ít người đang được sống, được thụ hưởng thành quả sau gần 35 năm đất nước đổi mới. Họ hô hào tập hợp lực lượng, gồng mình kéo bè kéo cánh nhằm phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Đặc biệt, trước mỗi kỳ đại hội đảng, họ luôn tìm kiếm, bới móc và hả hê trước những khuyết điểm, thiếu sót của cán bộ, chính quyền các cấp. Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, họ lại tung ra những luận điệu mang nặng tính suy diễn, võ đoán về công tác chuẩn bị tổ chức đại hội của Đảng, về tương lai sau đại hội của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các đồng chí trong Trung ương Đảng.
Những suy diễn, võ đoán ấy của họ thường chĩa mũi nhọn vào những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Họ bóp méo thành quả của cuộc chiến chống tiêu cực của Đảng. Mặc dù trước những vụ việc tiêu cực xảy ra, Đảng ta đã kiên quyết xử lý, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chống tham nhũng không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, họ cho rằng đó thực chất là các cuộc đấu đá phe phái, loại trừ những người không thuộc phe cánh của mình. Đối với những cán bộ lãnh đạo cấp cao, những đảng viên có uy tín trong Đảng, chủ yếu là những cán bộ cấp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, họ tập trung bôi nhọ, hạ uy tín. Những hoạt động của các đồng chí cán bộ lãnh đạo tới các địa phương, trước nhân dân thì họ nói rằng đó là chuyến du hành khoe khoang thành tích, đánh bóng tên tuổi, gây áp lực để được lựa chọn vào vị trí cao hơn trong đại hội sắp tới.
Tập trung suy diễn, võ đoán nhiều nhất là nhân sự cấp cao trước Đại hội XIII của Đảng. Họ biết công tác chuẩn bị nhân sự cho mỗi kỳ đại hội là một trong những công việc hết sức quan trọng. Vì vậy, họ tập trung xuyên tạc, dựng lên một kịch bản theo “thuyết âm mưu” của họ, như chính họ là người trong cuộc, rằng đồng chí này Bộ Chính trị không đồng ý; đồng chí khác thì chưa qua các chức vụ cơ sở. Và họ khai thác sâu nhân sự vùng, miền, mục đích cuối cùng là chia rẽ, gây nghi ngờ, thiếu lòng tin của nhân dân vào tính minh bạch của việc lựa chọn nhân sự cho Đảng…
Về công tác nhân sự, nhớ lại kỳ Đại hội XII của Đảng (từ ngày 20 đến 28-1-2016), kỳ đại hội đảng lãnh đạo dân tộc ta bước vào kỷ nguyên hội nhập và phát triển. Đây cũng là đại hội đầu tiên của Đảng ta thực hiện Đề án “Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo”. Trên cơ sở đề án quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, bài bản, khoa học, thận trọng và thực sự phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương, tạo được sự thống nhất cao của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và của các đại biểu tham dự đại hội. Đại hội XII của Đảng đã thành công tốt đẹp.
Nhìn vào chiều dài lịch sử hơn 90 năm của Đảng, có thể nói sự ra đời của Đảng ta là sự lựa chọn của lịch sử. Sứ mệnh như được định trước, Đảng ta đã gánh vác trọng trách vô cùng lớn lao trước dân tộc, trước nhân dân. Sứ mệnh đó như Bác Hồ đã nói: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Một đảng sinh ra để thực hiện sứ mệnh cao cả trước dân tộc, trước đồng bào của mình không thể không coi trọng việc chọn người có đức, có tài để gánh vác trọng trách. Nhìn vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo mà Đảng ta đã lựa chọn trong suốt 12 kỳ đại hội qua, dễ nhận thấy Đảng đã thấm nhuần tư tưởng chọn cán bộ của Bác: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Nhìn xa hơn nữa, tư tưởng chọn người có đức, có tài của Bác Hồ, của Đảng ta vừa là kế thừa tinh hoa truyền thống của cha ông, vừa là bản chất của một chính đảng cách mạng, đạo đức, văn minh.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ở nước ta, việc cầu hiền, tìm người tài giỏi ra giúp nước được nhiều triều đại hết sức coi trọng. Trong chiếu cầu hiền của Vua Lê (năm 1429) ghi rõ: “Đất nước thịnh vượng tất ở việc cử hiền. Người làm vua thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”. Thời Vua Trần Nhân Tông, trước thế giặc Nguyên-Mông hung hãn nhất thời bấy giờ nhưng cũng đã hai lần bị quân dân ta đánh tan (năm 1285 và 1288), bằng việc mở Hội nghị Diên Hồng, ta đã thu phục, trọng dụng được nhiều tướng tài cầm quân. Thời Quang Trung-Nguyễn Huệ thì chỉ rõ: “Dựng nước lấy việc học làm đầu. Muốn thịnh trị lấy nhân tài làm gốc”.
Nước Việt ta ngàn đời có truyền thống: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”. Bài học sử dụng người có đức, có tài ra giúp nước đã thấm sâu vào tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, ngay từ khi nước nhà mới giành độc lập, Bác đã mời một số nhân sĩ, quan lại chế độ phong kiến có kiến thức, có kinh nghiệm ra giúp nước như cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Kế Toại… Năm 1946, trước khi sang Pháp, Bác Hồ đã trao quyền điều hành đất nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng và dặn: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đó là thời điểm tình hình đất nước rất phức tạp, thù trong giặc ngoài, Bác vẫn giao quyền điều hành cho một nhân sĩ, trí thức không phải là đảng viên. Tài, đức và cách ứng xử của Bác đã quy tụ được những tinh hoa của dân tộc đến với cuộc kháng chiến cứu nước và kiến quốc. Nhiều nhân sĩ, trí thức đã tự nguyện rời công việc ở nước ngoài về nước cống hiến cho cách mạng, như: Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Trần Đại Nghĩa, nhà nông học Lương Đình Của…
Trở lại với những suy diễn, võ đoán có dụng ý chống phá trước thềm Đại hội XIII của Đảng, có thể khẳng định rằng những dụng ý xấu đó không thể đánh lừa hoặc phân tâm được nhân dân ta. Nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta là "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách", vì vậy, một cá nhân nào đó muốn làm một việc gì ngoài chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng không thể thực hiện được.
Trong Hội nghị lần thứ 12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khai mạc ngày 11-5-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định tầm quan trọng của việc lựa chọn nhân sự: “Đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải dày công chuẩn bị theo một quy trình chặt chẽ và tiến độ phù hợp[...], có quan hệ đến vận mệnh của Đảng, của dân tộc và tiền đồ phát triển của đất nước”. Khẳng định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chính là quyết tâm của toàn Đảng. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng nhân dân ta tuyệt đối tin tưởng Đảng ta, và “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân./.

Nữ quân nhân trả lại hơn 1.200USD


Nữ quân nhân trả lại hơn 1.200USD

 

Khoảng 17 giờ ngày 20-7, trên đường từ cơ quan về nhà, khi đi qua chợ Nguyễn Thị Định, Thượng tá QNCN Trần Bích Thủy, nhân viên Ban Tài chính, Lữ đoàn 205 (Binh chủng Thông tin liên lạc) nhìn thấy chiếc ví nam màu xanh lá cây rơi bên vệ đường.

Chị Thủy nhặt lên, mở ra kiểm tra, bên trong ví có 1.200USD (gồm 12 tờ 100USD) và khoảng gần 5 triệu đồng tiền Việt cùng nhiều giấy tờ cá nhân quan trọng.
Thông qua giấy tờ cá nhân (căn cước công dân Hàn Quốc, thẻ VISA, chứng nhận đăng ký xe ô tô; thẻ ATM, thẻ tín dụng...) đều mang tên NA SANGCHEOL (Quốc tịch Hàn Quốc), là Trưởng phòng Công ty TNHH Dios Tech Vina Co.Ltd tại Khu công nghiệp Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đặc biệt, trong ví có một thẻ ra vào tòa nhà Thăng Long Number One, giúp chị có căn cứ để xác định chủ nhân tài sản bị đánh rơi là công dân đang sống tại tòa nhà trên, nằm trên đường Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội (cách vị trí rơi ví khoảng 2km). Ngay sau đó, chị Thủy trực tiếp đến gặp ban quản lý tòa nhà và nhờ tìm người có tên như trong giấy tờ để trao trả lại chiếc ví. Do không gặp trực tiếp người đánh rơi ví, chị Thủy để lại địa chỉ gia đình và số điện thoại để ban quản lý tòa nhà liên hệ.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại nhà riêng của chị Thủy, trước sự chứng kiến của tổ dân phố và gia đình, chị Thủy bàn giao lại toàn bộ giấy tờ và tài sản cho vợ chồng anh Na Sangcheol. Nhận lại nguyên vẹn tài sản, anh Na Sangcheol có nhã ý gửi lại toàn bộ số tiền tặng chị Thủy và chỉ nhận lại giấy tờ nhưng chị Thủy cương quyết từ chối. Hành động đẹp của Thượng tá QNCN Trần Bích Thủy khiến vợ chồng anh Na Sangcheol vô cùng cảm động và càng bất ngờ, cảm phục hơn khi biết chị là nữ quân nhân đang công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

 

Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.
Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".
Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch./.

CÀ CUỐNG CHẾT ĐẾN ĐÍT CÒN CAY

Đây là một câu thành ngữ nhằm ám chỉ những kẻ ngoan cố, bảo thủ, cố chấp, cay cú trước sự thất bại hoặc cái sai rành rành của mình. Nhưng ngày hôm nay, tôi không dùng câu thành ngữ này để nói về một cá nhân mà muốn nói về một gia đình ngoan cố, bảo thủ, cố chấp và cay cú. Đó là gia đình nhà Cấn Thị Thêu mà đúng hơn phải gọi là gia đình Trịnh Bá Khiêm.
Ngay sau khi 3 mẹ con Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư cùng nhập kho vì tội “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 117 – Bộ luật hình sự năm 2015. Tưởng chừng như sự việc trên sẽ là lời cảnh tỉnh cho những thành viên còn lại trong gia đình này thì ông chồng Trịnh Bá Khiêm lại nổi lên, thay mặt vợ và con mình tiếp tục có những hoạt động chống phá. Tất nhiên, sự lọc lõi, văn vở thậm chí là hiểu biết về phương thức chống phá của ông Khiêm không thể so với 2 người con trai ăn gien mẹ được. Trong các clip ông Khiêm đăng tải vẫn thể hiện sự gượng ép một cách chất phác chứ không lọc lõi, trơn tru như vợ con ông.
Thậm chí, vừa qua, công an Hòa Bình đã mời con rể ông lên làm việc liên quan đến việc bà Cấn Thị Thêu sử dụng số điện thoại do người con rể đứng tên đăng ký. Sự việc hết sức bình thường của công an nhằm lảm rõ hành vi phạm tội của bà Thêu nhưng ông Khiêm lại vừa lo sợ cho mình, vừa lo sợ cho con rể mà liền làm mấy clip giải thích vòng quanh vì chính ông cũng không hiểu được bản chất vụ việc. Nhìn người con rể xuất hiện cũng đến tội, mặt cứ nghệt ra vì không biết mình sai phạm đến đâu trong khi nhìn cái tướng này thì cũng chẳng trông mong gì ông bố vợ rồi. Mới nhất, ngày 18/7 vừa qua ông Khiêm lại mò về Đồng Tâm thắp hương cho ông Kình, làm theo đúng các hoạt động chống phá của vợ con ông trước khi bị bắt. Nhìn thấy trách thì cũng có mà cũng thấy thương, thấy tội khi ông Khiêm không đủ trình độ mà cứ nhất quyết đi chống phá. Ông đang dùng cái sai này để đi cứu một cái sai khác, quyết giữ vững danh hiệu gia đình rân chủ chăng?

Đừng "tát nước theo mưa"


Đừng "tát nước theo mưa"


Nếu như chỉ các thế lực thù địch, các đối tượng bất mãn lợi dụng vụ án này để xuyên tạc, chống phá thì dễ bề nhận diện. Đáng tiếc, một số cá nhân trong nước, trong đó có người là cán bộ, đảng viên, nhất là người có danh vị xã hội lại thiếu tỉnh táo, đưa ra những ý kiến bình luận rất chủ quan...
Vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra tại Bưu điện Cầu Voi (tỉnh Long An) xảy ra từ đầu năm 2008. Quá trình điều tra, truy tố, xác định Hồ Duy Hải là thủ phạm gây ra cái chết của 2 nữ nhân viên tại bưu điện này.
Tại phiên tòa sơ thẩm tháng 12-2008, TAND tỉnh Long An tuyên phạt Hải với mức án cao nhất. Tháng 4-2009, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh giữ nguyên mức án tử hình đối với Hải. Ngày 24-5-2011, sau khi xem xét đơn kêu oan của gia đình Hải, Chánh án TAND Tối cao quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm. Ngày 24-10-2011, Viện trưởng VKSND Tối cao cũng có quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm. Ngày 17-5-2012, Chủ tịch nước có quyết định bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình đối với Hải.
Trong thời gian này, trên mạng xã hội, một số đối tượng sử dụng các đài nước ngoài, các trang web, lợi dụng một số sai sót trong quá trình tố tụng vụ án Hồ Duy Hải để mở một "chiến dịch" bôi nhọ nền tư pháp nước ta bằng các bài viết có nội dung xuyên tạc, suy diễn, đưa thông tin lập lờ, không đúng sự thật, gây hiểu sai về một số tình tiết vụ án.
Với thái độ thận trọng trước sinh mạng của một con người, cuối năm 2014, ngay trong ngày dự kiến thực hiện bản án tử hình đối với Hồ Duy Hải, Văn phòng Chủ tịch nước có văn bản truyền đạt ý kiến của Chủ tịch nước yêu cầu tạm dừng thi hành án để tiếp tục xem xét lại việc Hải có bị oan sai như đơn kêu oan của gia đình Hải hay không.
Ngày 12-12-2018, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội kiến nghị Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng Viện KSND Tối cao xem xét, kháng nghị giám đốc thẩm vụ án. Ngày 23-7-2018, Văn phòng Chủ tịch nước yêu cầu Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng Viện KSND Tối cao, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội có văn bản thể hiện quan điểm, cách giải quyết cụ thể để xử lý dứt điểm vụ án này.
Ngày 22-11-2019, Viện trưởng Viện KSND Tối cao ban hành quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã tuyên bị án Hải tử hình để điều tra lại.
Lúc này, một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị trong nước tiếp tục  "hùa vào" đả kích chế độ, đưa ra "thuyết âm mưu" theo kiểu "phe này đang đánh phe kia"; khẳng định Hồ Duy Hải bị oan, đòi phải trả tự do ngay cho Hải; thậm chí còn tự phán xét rằng đối tượng A, đối tượng B mới là thủ phạm thực sự, nhưng vì là "con quan to" nên Hải trở thành "vật tế thần"... Những thông tin hỏa mù, lẫn lộn thật giả được nhiều người sử dụng mạng xã hội bình luận, chia sẻ, "like" tạo ra thông tin tràn lan trên mạng xã hội; mục đích các đối tượng nhằm gây sức ép lên cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là trước phiên tòa giám đốc thẩm; làm ảnh hưởng đến tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án.
Sự việc càng "nóng" thêm, khi ngày 8-5-2020, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm TAND Tối cao quyết định bác kháng nghị của Viện KSND Tối cao, giữ nguyên mức án tử hình đối với Hồ Duy Hải.
Nếu như chỉ các thế lực thù địch, các đối tượng bất mãn lợi dụng vụ án này để xuyên tạc, chống phá thì dễ bề nhận diện. Đáng tiếc, một số cá nhân trong nước, trong đó có người là cán bộ, đảng viên, nhất là người có danh vị xã hội lại thiếu tỉnh táo, đưa ra những ý kiến bình luận rất chủ quan.
Trong xã hội tôn trọng tự do ngôn luận, tự do bày tỏ ý kiến cá nhân, nhất là trên nền tảng mạng xã hội như hiện nay, việc đưa ra những ý kiến mang tính phản biện, góp ý, phê bình khách quan, có căn cứ... là một kênh thông tin quan trọng để các cơ quan chức năng, Nhà nước và toàn xã hội xem xét, rút ra những bài học, kinh nghiệm, hoặc cũng có thể sử dụng làm căn cứ để xử lý những vi phạm nếu những vụ việc nêu trên mạng xã hội là đáng tin cậy.
Ngược lại, nếu đưa thông tin sai, thông tin chưa được kiểm chứng, hoặc áp đặt ý thức chủ quan vội vã để đưa ra kết luận cá nhân sẽ tạo hiệu ứng tiêu cực, làm lây lan những thông tin không chính xác, gây ảnh hưởng đến uy tín, tạo áp lực lên hoạt động bình thường của cơ quan tiến hành tố tụng thì người viết, tán phát phải chịu trách nhiệm thông tin mình đưa ra.
Thực tế, ở vụ án Hồ Duy Hải, các cơ quan chức năng đã lắng nghe thông tin nhiều chiều để xem xét lại vụ án Hồ Duy Hải qua nhiều cấp, kéo dài suốt 12 năm nay. Hiện vụ án này vẫn chưa dừng lại, còn được các cấp thẩm tra, xem xét khi còn có những thông tin chưa được làm rõ, để từ đó đưa ra một kết luận thực sự khách quan, công bằng, không làm oan người vô tội nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm.
Một vụ án được quan tâm, xem xét kéo dài, có lúc đồng thuận, có lúc đưa ra quan điểm trái ngược nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi phát hiện có những tình tiết mới, thông tin mới, không thể gọi là bước "thụt lùi" của nền tư pháp được mà đó mới là minh chứng thể hiện tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng. Đó chính là thành quả của cải cách tư pháp, khuyến khích việc tranh tụng để làm sáng tỏ sự thực khách quan của vụ án.
Một cá nhân, một cơ quan, một cấp xét xử không thể tự mình chi phối, áp đặt ý thức chủ quan mà đó là quyết định của cả một tập thể, từ cấp thấp đến cấp cao, lại chịu sự giám sát chéo giữa các cơ quan quyền lực với nhau... Người nào làm sai, người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Với một cá nhân cụ thể, nhất là với người nổi tiếng, là cán bộ, đảng viên cần hết sức thận trọng, có trách nhiệm trong lời nói, phát ngôn; cân nhắc nên viết gì, có chính xác hay không, có khách quan hay không; cho dù là viết trên báo chính thống hay trên mạng xã hội. Nên suy nghĩ độc lập về một sự việc, không nên "đánh bóng" mình bằng cách "tát nước theo mưa". Bởi nếu không tỉnh táo, chính họ đang vô tình trở thành công cụ cho một số thế lực phản động, đối tượng bất mãn, lợi dụng một vụ án để kích động, chia rẽ nhằm thực hiện mưu đồ chính trị của mình./.

CÓ NÊN ĐỔI TỪ “LIỆT SĨ VÔ DANH” THÀNH ‘"LIỆT SĨ CHƯA XÁC ĐỊNH ĐƯỢC THÔNG TIN”?

Nhà đài RFA vừa rồi có bài viết “Có nên đổi toàn bộ đài tưởng niệm, bia một liệt sĩ vô danh”, trong đó có đề cập đến ý kiến chỉ đạo của ông Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ lao động, thương binh và xã hội rằng cần khẩn trương đổi các bia mộ liệt sĩ hiện đang ghi liệt sĩ vô danh thành liệt sĩ chưa xác định được thông tin.
Nhà đài RFA nêu quan điểm cá nhân cũng như trích dẫn ý kiến của một số nhà “dân chủ” như Hoàng Dũng rằng việc chuyển đổi như trên là không cần thiết, rằng chỉ cần để tên liêt sĩ vô danh là đủ, rằng việc thay đổi là không khả thi, là tốn kém lãng phí, là có thể dẫn tới trục lợi chính sách, sao không đưa tiền đó để đi hỗ trợ các gia đình liệt sĩ…
Có thể nói đây là những ý kiến xuyên tạc, bỉ bôi một chủ trương rất đúng, rất hợp lý của Bộ Lao động, thương binh và xã hội.
Có nên đổi từ “liệt sĩ vô danh” thành “liệt sĩ chưa xác định được thông tin” không? Câu trả lời là có và rất nên. Đó là việc làm của lương tâm, trách nhiệm và đạo lý.
Các bác, các cô, các anh, các chị ra đi chiến đấu vì Tổ quốc. Tất cả đều có tên tuổi, địa chỉ, có ngày sinh tháng đẻ, có tên bố mẹ đặt cho, có địa danh quê hương làng quán. Nay các anh chị ngã xuống vì Tổ quốc, vì những lý do khách quan mà có những phần mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin. Nhưng các anh các chị nằm đó, vẫn là những con người cụ thể có danh với núi sông. Do đó không thể gọi các anh các chị là liệt sĩ vô danh, chỉ có thể gọi chính xác là liệt sĩ chưa xác định được thông tin.
Rõ ràng không có ai vô danh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc này.
Hơn nữa, việc gọi tên liệt sĩ chưa xác định được thông tin cũng là để chúng ta, các thế hệ đi sau, những người được thụ hưởng độc lập, tự do luôn cảm thấy trăn trở, có trách nhiệm với công cuộc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, tìm kiếm thông tin liệt sĩ, đó là điều hoàn toàn nên làm.
Đương nhiên, chỉ đạo của Bộ Lao động thương binh và xã hội cũng chỉ rõ, chủ trương trên cần làm có lộ trình, có bước đi cụ thể chứ không phải làm ồ ạt vì còn tính đến chuyện khả thi. Nhưng về lâu dài, đó là việc nên làm vì lương tâm và trách nhiệm.
Và tất nhiên, với một câu chuyện vì lương tâm, trách nhiệm như thế này, không ai dám nghĩ tới chuyện tham nhũng, trục lợi chính sách hay gây tốn kém, lãng phí.
Đây là việc nên làm, còn nói để dành tiền hỗ trợ các gia đình liệt sĩ, thì Nhà nước đã có khoản chi khác rồi.
Thế nên những luận điệu xuyên tạc của các nhà đài như RFA hay của các nhà “dân chủ” nó chỉ thêm chứng minh rằng, dù những việc ta làm có đúng đến đâu, hợp lý đến đâu thì họ vẫn xuyên tạc và quyết tâm xuyên tạc cho bằng được.

Cẩn trọng trước mưu đồ mới của Trung Quốc nhằm độc chiếm Biển Đông


Cẩn trọng trước mưu đồ mới của Trung Quốc nhằm độc chiếm Biển Đông


Những ngày đầu tháng 7, Trung Quốc tiếp tục có nhiều hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam và coi thường luật pháp quốc tế khi rầm rầm tiến hành tập trận trái phép ở gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hay đưa tàu Hải Dương 4 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông.
Trước đó, không chỉ các quốc gia ASEAN mà cả thế giới cũng bất bình lên tiếng phản đối khi Bắc Kinh lợi dụng đại dịch COVID-19 lan tràn để thực hiện một loạt kế sách mới nhằm hiện thực hoá âm mưu độc chiếm Biển Đông.
Mưu đồ Tứ Sa
Năm 2020 là năm đầy biến động với tâm điểm là đại dịch COVID-19 làm hàng triệu người thiệt mạng. Với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một vấn đề nóng khác cũng đang nổi lên và trở thành mối lo lớn của toàn thế giới – đó là Biển Đông.
Theo các nhà phân tích, việc Bắc Kinh mở cuộc tập trận hải quân ở Biển Đông vào tháng 7, cho thấy khả năng  “gây bão” và “chiếm giữ các đảo bằng lực lượng tuần duyên và tàu chiến” nước này. “Mục đích của việc này là chứng minh cho các quốc gia Đông Nam Á khác thấy rằng Trung Quốc có thể đến và đuổi họ ra khỏi khu vực.
Tất cả những động thái này đều phục vụ cho mưu đồ thành lập Tứ Sa mà Trung Quốc đang ráo riết tiến hành”, chuyên gia hải quân Bryan Clark thuộc Học viện Hudson có trụ sở ở Washington (Mỹ) nhận định.
Yêu sách vô căn cứ
Yêu sách Tứ Sa (tiếng Anh: Four Sha) là chiến thuật mới thay thế “đường lưỡi bò” (hay còn gọi là đường chín đoạn), được Trung Quốc triển khai sau khi Tòa án trọng tài thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan) ra phán quyết về vụ kiện của Philippines, bác bỏ dứt khoát yêu sách “chủ quyền lịch sử” của “đường lưỡi bò” trên Biển Đông.
Mục tiêu cuối cùng của yêu sách Tứ Sa vẫn là giúp Bắc Kinh dần hiện thực hoá việc sở hữu một khu vực rộng lớn trên Biển Đông, biến những vùng biển của nước khác thành một phần thuộc thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc.
Trước đó, vào năm 2012, Trung Quốc đã lập một đơn vị hành chính mới gọi là thành phố Tam Sa để quản lý các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) và bãi Macclesfield với dân số khoảng 2.500 người. 
Khái niệm Tứ Sa lần đầu tiên được Phó Vụ trưởng Vụ Điều ước và pháp luật thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Tân Dân nhắc đến trong một cuộc họp kín với giới chức Mỹ ở thành phố Boston cuối tháng 8 năm 2017. Đến cuối năm 2019 và đầu năm 2020, Trung Quốc chính thức công bố yêu sách Tứ Sa trong các công hàm ngoại giao số CML/14/2019 và số CML/11/2020 gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ).
Lúc này, bản chất của yêu sách Tứ Sa được “trưng” ra một cách rõ ràng hơn. Đó là: (1) Trung Quốc có “chủ quyền không thể chối cãi” đối với Nam Hải chư đảo, bao gồm Đông Sa, Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và Trung Sa (bãi ngầm Macclesfield); (2) Các nhóm đảo này là quần đảo và được sử dụng đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở và vùng nước quần đảo và (3) Các nhóm đảo này có vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tính từ đường cơ sở thẳng.
Theo quan điểm của ThS Nguyễn Hoàng Minh, nghiên cứu viên của Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, bước chuyển chiến thuật về yêu sách và diễn giải yêu sách tại Biển Đông lần này của Trung Quốc đem đến một số hàm ý chính sách quan trọng.
Thứ nhất, Trung Quốc đang sử dụng sự “mập mờ” trong yêu sách chủ quyền để có thể biến hóa nhiều cách diễn giải khác nhau.
Thứ hai, Trung Quốc đang tiến hành “mặt trận pháp lý” ở Biển Đông, biến pháp lý trở thành công cụ trong chính sách Biển Đông, từng bước “hợp thức hóa” yêu sách chủ quyền, và tuyên truyền Luật Biển theo quan điểm của Trung Quốc.
Thứ 3, Trung Quốc đang tính đến khả năng vẽ đường cơ sở quần đảo đối với 3 trong số 4 quần đảo còn lại thuộc Tứ Sa (như đã làm đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, và đưa ra yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được xác định dựa trên đường cơ sở quần đảo này.
“Như vậy vùng biển mà Trung Quốc yêu sách được tạo ra từ đường cơ sở thẳng của các quần đảo này sẽ có phạm vi rộng hơn cả vùng biển tạo ra bởi yêu sách “đường lưỡi bò” trước đây, tức vùng biển của Trung Sa sẽ bao gồm cả bãi cạn Scarborough và điểm cực Nam của Trung Quốc sẽ đến tận James Shoal (thuộc vùng biển Trường Sa của Việt Nam), ThS Nguyễn Hoàng Minh phân tích đồng thời cảnh báo rằng Trung Quốc muốn lợi dụng sự mập mờ để có thể triển khai nhiều cách diễn giải khác nhau trước khi đưa ra một tuyên bố chính thức có lợi nhất, trong khi tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động ở thực địa nhằm củng cố quyền kiểm soát trên Biển Đông.
Những viện dẫn pháp lý sai trái
Căn cứ vào các quy định của Công ước quốc tế của LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và phán quyết PCA năm 2016 thì yêu sách này cực kỳ phi lý và thậm chí có tính chất pháp lý ít hơn nhiều so với yêu sách “đường lưỡi bò” trước đây.
“UNCLOS đã quy định chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể sử dụng đường cơ sở thẳng với điều kiện tỷ lệ diện tích vùng biển và diện tích đảo tự nhiên nổi lên mặt nước nằm bên trong đường cơ sở thẳng quần đảo không lớn hơn 9 và một số điều kiện chặt chẽ khác. Thực tế không thể phủ nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam và Trung Quốc không có quyền tuyên bố chủ quyền tại đó.
Ngoài ra, vì Trung Quốc không phải là “quốc gia quần đảo” và tỷ lệ diện tích vùng biển tại khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với tỷ lệ diện tích đảo tự nhiên nổi lên mặt nước lớn hơn rất nhiều. Như vậy, việc dùng đường cơ sở thẳng của Trung Quốc là trái với UNCLOS.
Bên cạnh đó, phán quyết của PCA đã làm rõ các quy định về “đảo” và “đảo đá” và các đảo đá tại quần đảo Trường Sa chỉ có vùng lãnh hải 12 hải lý, không có vùng biển mở rộng.
Áp dụng phán quyết cho các đảo trên quần đảo Hoàng Sa, có thể thấy rằng các đảo ở quần đảo Hoàng Sa cũng là “các đảo đá không phù hợp cho con người sinh sống hoặc đời sống kinh tế riêng thì sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”, PGS.TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam chỉ rõ.
Riêng đối với bãi Macclesfield mà Trung Quốc gọi là Trung Sa, PGS.TS Vũ Thanh Ca cho biết, đây chỉ là một bãi ngầm và theo quy định của UNCLOS thì không thể là đối tượng để tuyên bố chủ quyền.
“Như vậy, tuyên bố “chủ quyền” đối với Trung Sa và sau đó gộp cả bãi cạn Scarborough, bãi cạn St. Esprit vào “quần đảo” này là rất ngớ ngẩn, trái hoàn toàn với quy định của UNCLOS. Đồng quan điểm này, ông Michael Pillsbury, thành viên cao cấp của Học viện Hudson và là Giám đốc của Trung tâm Chiến lược Trung Quốc chỉ rõ, ý đồ mới nhất của Trung Quốc là kết hợp 3 công cụ trong chiến tranh thông tin về Biển Đông gồm chiến tranh pháp lý, chiến tranh truyền thông và chiến tranh tâm lý.
“Trung Quốc đang có sự chuẩn bị kỹ lưỡng các chiến thuật pháp lý nhằm thách thức đối với các quy chuẩn quốc tế. Bắc Kinh không bận tâm tới việc các tuyên bố của họ về cơ bản không phù hợp với UNCLOS hay không. Họ cũng không bận tâm đến việc toà PCA đưa ra phán quyết bác bỏ các tuyên bố về “đường lưỡi bò”. Đây là một phần trong chiến lược lớn hơn của Trung Quốc nhằm tạo ra cho riêng mình một phiên bản của Học thuyết Monroe nhằm tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực”, ông Micheal Pillsbury nói.
Liên quan đến việc Bộ Dân chính và Bộ Tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc ngang nhiên công bố cái gọi là "danh xưng tiêu chuẩn" cho 80 thực thể ở Biển Đông, ngày 23/4, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Ngô Toàn Thắng đã nêu rõ: "Việt Nam nhiều lần khẳng định có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phù hợp với luật phát quốc tế, đồng thời có quyền chủ quyền, quyền tài phán ở vùng biển như xác lập ở UNCLOS 1982. Mọi hành vi xâm hại chủ quyền Việt Nam với Hoàng Sa, Trường Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam với vùng biển của mình đều không có giá trị, không được công nhận và Việt Nam kiên quyết phản đối".
Được biết, trong danh sách 80 thực thể bao gồm 25 đảo, đá cùng 55 thực thể địa lý dưới đáy biển ở Biển Đông, có những bãi cạn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có điểm chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa đầy 60 hải lý hoặc đường cơ sở Việt Nam khoảng 50 hải lý.
Trước đó, ngày 18/4, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa" và các hành vi có liên quan, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hủy bỏ các quyết định sai trái liên quan vì vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam./.

LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN: Cụ Hồ Tùng Mậu - Tổng Thanh tra Chính phủ đầu tiên

Ngay trong những ngày đầu xây dựng chính quyền nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã nhận được khá nhiều ý kiến từ các tầng lớp nhân dân phản ảnh bằng thư từ, đơn kiện hoặc gặp gỡ trực tiếp bày tỏ nguyện vọng cần sớm chấm dứt các hiện tượng, việc làm sai trái của một số nhân viên trong bộ máy chính quyền các cấp, nhất là ở các địa phương. Từ thực tế đó, ngày 04/10/1945, lần đầu tiên cuộc họp Hội đồng Chính phủ đã đưa ra vấn đề thành lập tổ chức Thanh tra. Trong lúc chờ đợi có một sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra, Chính phủ giao cho cấp trên quyền xét xử cấp dưới và đề nghị Bộ Nội vụ lập một Uỷ ban Thanh tra hành chính để đi điều tra công việc hành chính ở các địa phương, với tên gọi Ban Thanh tra Đặc biệt.

Đến cuối năm 1949, cục diện đất nước đã có nhiều thay đổi đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra. Nhận thấy Ban Thanh tra Đặc biệt không còn phù hợp với giai đoạn lịch sử này nữa, Chính phủ đã quyết định thành lập một Ban Thanh tra mới để thống nhất hoạt động thanh ra trong cả nước. Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí minh ký Sắc lệnh số 138b-SL lập Ban Thanh tra Chính phủ trực thuộc Phủ Thủ tướng và cũng trong ngày này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138c-SL cử các vị sau đây vào Ban Thanh tra Chính phủ:
Tổng Thanh tra: cụ Hồ Tùng Mậu
Tổng Thanh tra phó: ông Trần Đăng Ninh
Thanh tra: ông Tô Quang Đẩu
Với Sắc lệnh này, cụ Hồ Tùng Mậu trở thành vị Tổng Thanh tra Chính phủ đầu tiên của Ngành Thanh tra.
Cụ Hồ Tùng Mậu người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An có tên khai sinh là Hồ Bá Cự, khi xuất dương sang Thái Lan hoạt động mới mang tên Hồ Tùng Mậu và trở thành tên gọi chính thức đến khi qua đời. Ông còn mang nhiều bí danh như: Ích, Lương Tử Anh, Phan Tái, Hồ Mộng Tống, Hồ Quốc Đống. Khi hoạt động ở Hải Phòng thường mang bí danh Ích.
Hồ Tùng Mậu xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa cử, truyền thống yêu nước. Ông nội là Hồ Bá Ôn, đỗ phó bảng, làm quan đến chức án sát tỉnh Nam Định và đã anh dũng hi sinh khi quân Pháp tấn công tỉnh này vào năm 1883. Cha của ông là Hồ Bá Kiện, nhà nho yêu nước, tham gia Hội Duy Tân, bị bắt giam ở Lao Bảo, cùng một số đồng chí định khởi nghĩa phá nhà lao, địch bao vây bắn chết; Mẹ là bà Phan Thị Liễu cũng dòng dõi nho gia, đã đem con côi theo trường Đông Kinh nghĩa thục ở Quỳnh Đôi của các thầy Hồ Phi Thống, Hồ Phi Khoan, những nho sĩ tiến bộ của làng học Quỳnh Đôi. Hoàn cảnh gia đình, quê hương, xã hội đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước cách mạng, căm thù đế quốc. Được sự giúp đỡ của mấy gia đình yêu nước ở quê cuối tháng 4/1920, Hồ Bá Cự từ giã vợ, con nhỏ cùng Lê Văn Phơn (Hồng Sơn) Ngô Quốc Chính sang Thái Lan, rồi 3 tháng sau được sang Trung Quốc tìm gặp các nhà cách mạng Xứ Nghệ đang hoạt động ở đây là Phan Bội Châu, Hồ Ngọc Lãm v.v... Nhưng chỉ gặp được Hồ Ngọc Lãm, nhờ tìm nơi học, nơi kiếm sống. Ở Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu xin được vào học trường điện tín. Lúc ấy, các cuộc vận động cách mạng của người Việt ở Quảng Châu khá phân tán, tư tưởng của hai phái già, trẻ lại càng phân tán hơn. Trước tình hình không lợi ấy, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn lập ra Tâm Tâm xã, tập hợp số thanh niên hăng hái kiên quyết cùng chí hướng, hy sinh quyền lợi cá nhân, cùng nhau mưu đồ giải phóng dân tộc. Mùa xuân năm 1924, Hồ Tùng Mậu về nước, trở lại Quỳnh Lưu, Yên Thành hoạt động với tên Phan Tái. Tháng 11/1924, nhóm Tâm Tâm xã được Nguyễn Ái Quốc giúp đỡ chuyển hướng hoạt động, xây dựng tổ chức cách mạng theo đường lối đúng đắn. Tháng 6/1925, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn giúp Nguyễn Ái Quốc xây dựng Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội trong đó có cộng sản đoàn gồm 5 người, Hồ Tùng Mậu cùng tham gia.
Tháng 12-1927, Hồ Tùng Mậu cùng một chiến sĩ Thanh niên Cách mạng đồng chí hội tham gia khởi nghĩa Quảng Châu nên lại bị bắt giam, đến cuối thu năm 1929 mới được tha. Thời gian ở tù, Hồ Tùng Mậu được bầu vắng mặt làm uỷ viên chấp hành Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí Hội tại Đại hội Đại biểu lần thứ I của tổ chức này. Tháng 6/1931, ông lại bị bắt tại Thượng Hải do đế quốc Anh-Pháp liên kết thực hiện. Chúng giải về giam ở nhà lao Hoả Lò,Hà Nội. Toà án Nghệ An kết án tử hình lần thứ 2, do kháng cáo chúng phải sửa xuống án tù chung thân. Từ 12/1931 đến tháng 3/1945 Hồ Tùng Mậu được chuyển qua các nhà tù Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Mê Thuột... cuộc sống tù đày cơ cực chỉ tôi luyện thêm tinh thần lạc quan, hun đúc khí tiết, tình đồng chí, nghĩa đồng bào ở người cộng sản chân chính. Lợi dụng phát xít Nhật đảo chính Pháp, ông cùng các tù chính trị trốn khỏi căng an trí Trà Khê tỉnh Phú Yên trở về quê hoạt động tại cơ quan Xứ uỷ Trung Kỳ. Sau khởi nghĩa được giao nhiều nhiệm vụ: Phụ trách trường quân chính Nhượng Bạn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Liên khu IV, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ, Tổng thanh tra Ban thanh tra Chính phủ, Hội trưởng Hội Việt Hoa hữu nghị.
Ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử ông giữ chức vụ Tổng Thanh tra. Đầu năm 1950, Hội Việt - Hoa hữu nghị được thành lập, ông được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II vào tháng 2 năm 1951, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ngày 23 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi vào Liên khu IV công tác, do bị máy bay Pháp bắn trúng tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi được tin ông hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và tự tay viết Lời điếu viếng ông, trong đó có đoạn
"Chú Tùng Mậu ơi! Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng? Về tình nghĩa riêng - tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi tranh đấu ở nước nhà… đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ như tay với chân". "Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, đoàn thể mất một người đồng chí trung thành và tôi mất một người anh em chí thiết! Mấy nguồn thương tiếc! Mấy nguồn thương tiếc cộng vào một lòng tôi…."
Năm 2008, ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam, và đồng thời tên ông cũng được đặt cho nhiều đường phố. trường học tại Việt Nam.
Những đóng góp của cụ Hồ Tùng Mậu cho cách mạng Việt Nam từ những ngày đầu, cũng như đóng góp cho công tác thanh tra có ý nghĩa rất quan trọng, là tấm gương sáng cho mỗi đảng viên, mỗi cán bộ học tập và tự kiểm điểm bản thân. Bởi xét cho cùng, lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt, người làm việc xấu nhất định phải có lúc chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, nhất là hiện nay, đừng mơ tới việc "hạ cánh an toàn" sau mỗi nhiệm kỳ.

LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thanh tra


Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Chính phủ đẩy mạnh công tác đấu tranh làm trong sạch đội ngũ, nhất là trước Đại hội Đảng toàn quốc, thì công tác thanh tra, kiểm tra là một trong những khâu phải làm nghiêm túc nhất, chặt chẽ nhất, để loại bỏ đi những cá nhân không xứng đáng đứng trong hàng ngũ lãnh đạo.

Lịch sử còn lưu lại rằng, từ năm 1945 đến năm 1969, với cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký 38 Sắc lệnh liên quan đến tổ chức, cán bộ và công tác thanh tra. 3 lần Bác đến dự và phát biểu với hội nghị tổng kết công tác thanh tra toàn miền Bắc vào các năm 1957, 1960, 1961. Bác cũng có nhiều bài nói, bài viết về công tác thanh tra, kiểm tra quan trọng khác.

Người đã lựa chọn, ký Sắc lệnh bổ nhiệm nhiều vị lãnh đạo có uy tín, và danh vọng giữ chức vụ đứng đầu tổ chức thanh tra như cụ Bùi Bằng Đoàn - nguyên Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hà Nội và ông Cù Huy Cận - Bộ trưởng Bộ Canh nông vào Ban Thanh tra đặc biệt (năm 1945); cụ Tôn Đức Thắng (Ban Thanh tra đặc biệt năm 1947); cụ Hồ Tùng Mậu (Ban Thanh tra Chính phủ năm 1949); đồng chí Nguyễn Lương Bằng (Ban Thanh tra Chính phủ năm 1956); đồng chí Nguyễn Thanh Bình (Ủy ban Thanh tra Chính phủ năm 1969).

Khi Hồ Chủ tịch gặp gỡ và giao nhiệm vụ cho cụ Bùi Bằng Đoàn và ông Cù Huy Cận, Người căn dặn: “Ban Thanh tra không cần nhiều người, lúc này 2 người là đủ. Một vị cao tuổi và là vị quan có tiếng liêm khiết của triều đình cũ, là cụ Bùi; một người thanh niên hăng hái mà cả nước ai cũng biết là chú. Người già, người trẻ dựa vào nhau mà làm việc, nhất định việc thanh tra sẽ làm tốt và cần làm ngay”.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác thanh tra, tại hội nghị tổng kết công tác thanh tra toàn miền Bắc tháng 4 năm 1957, Hồ Chủ tịch chỉ rõ: “Nếu Trung ương Đảng, Chính phủ có Nghị quyết, Chỉ thị về các ngành, các địa phương kết quả thế nào không có thanh tra khó mà biết được địa phương nào làm tốt, làm vừa, làm xấu, có làm hay không làm trên không biết; địa phương nhiều khi tự mình cũng không biết. Trên không thấu dưới, dưới không thấu trên. Thanh tra là để theo dõi xem các kế hoạch, Chỉ thị, chính sách đó các địa phương đã chấp hành thế nào. Vì vậy, cán bộ thanh tra giúp trên hiểu biết tình hình địa phương và cấp dưới, đồng thời cũng giúp cho các địa phương kịp thời sửa chữa, uốn nắn nếu làm sai, hoặc làm chậm. Cho nên trách nhiệm của công tác thanh tra là quan trọng. Thanh tra không phải chỉ đi xem địa phương thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị như thế nào. Nếu họ làm sai hay gặp khó khăn còn giúp đỡ họ làm cho đúng với Nghị quyết, Chỉ thị của trên đưa xuống. Thanh tra cũng không phải điều tra, nghiên cứu việc chấp hành Nghị quyết, Chỉ thị đã được đến đâu mà phải theo dõi cho đến khi công việc được làm xong, làm tốt”. Từ đó, lời dạy của Bác “thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” đã trở thành tư tưởng chỉ đạo, phương châm hoạt động, mục tiêu phấn đấu của ngành Thanh tra trong suốt chiều dài lịch sử vẻ vang của mình.

Về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, xuất phát từ tư tưởng “dân là gốc”, ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Bác Hồ và Đảng ta đã rất quan tâm việc thể chế và hiện thực hóa quyền tự do, dân chủ, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Ngay trong Sắc lệnh về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt (Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945) đã xác định một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là “nhận các đơn khiếu nại của nhân dân”.

Người đã nhiều lần chỉ ra ý nghĩa chính trị sâu sắc của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Nói chuyện với hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Bác nói: “Nhiệm vụ của các Ban Thanh tra là phải làm cho nghiêm chỉnh, hợp thời, làm sớm chừng nào hay chừng ấy, đồng bào có oan ức mới khiếu nại, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào mới thấy rõ Đảng, Chính phủ quan tâm, lo lắng đến quyền lợi của họ. Do đó quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn”.

Những quan điểm, tư tưởng trên đây của Bác đã được quán triệt, thể hiện sâu sắc trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta từ trước tới nay. Đặc biệt là trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân mới đây, giúp cho công việc này ngày càng có nền nếp, thực hiện thống nhất và có hiệu quả hơn.

Về phẩm chất của cán bộ thanh tra, trong bài nói chuyện tại hội nghị thanh tra toàn miền Bắc năm 1957, Bác còn căn dặn “cán bộ thanh tra phải có đạo đức cách mạng, phải hiểu nhân tình thế cố đã đành nhưng tự mình còn phải gương mẫu cho người khác”, “cán bộ thanh tra như cái gương cho người ta soi mặt, gương mờ thì không soi được”… Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ thanh tra “phải cố gắng học tập, học cái hay, tránh cái dở, trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn để làm việc cho tốt”.

Bác cũng nói: “Đối với cán bộ được làm công tác thanh tra là một vinh dự. Vì sao? Vì công tác thanh tra là một công tác quan trọng. Đảng và Chính phủ có tin tưởng mới giao cho làm nhiệm vụ ấy. Có thể nói cán bộ thanh tra là ta, mắt của Đảng và Chính phủ. Tai mắt có sáng suốt thì người mới sáng suốt”.

Có lần, Bác đã phê bình “một số cán bộ chưa yên tâm công tác, cho làm công tác thanh tra không tiến bộ, thắc mắc về tiền đồ, đứng núi này trông núi nọ, muốn xin đi công tác khác. Như thế là không rõ nhiệm vụ của mình, không hiểu vinh dự của mình, là mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa”…

Rõ ràng, chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ tầm quan trọng của công tác thanh – kiểm tra trong nội bộ, từ đó loại bỏ đi những “con sâu”, làm trong sạch đội ngũ. Chỉ khi có những cán bộ có bản lĩnh, có trình độ, có đạo đức thì mới lãnh đạo được công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, để ước mơ sánh vai với các cường quốc năm châu của mỗi người Việt Nam trở thành sự thực.


Cái gọi là Nhà nước bị "tư bản hóa"

        Những ai đã từng quan tâm đến lịch sử ra đời, phát triển của nhà nước đều không thể không thừa nhận bản chất gia cấp của nhà nước. Chỉ có thể nhà nước này ra đời thay thế nhà nước kia bằng nhiều phương thức, trong đó phương thức chủ yếu vẫn là sử dụng bạo lực, sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự... Sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và Đông Âu đã là minh chứng về sự tấn công của CNTB nhằm xóa bỏ CNXH và những sự yếu kém mang tính chủ quan của từng quốc gia trong công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH. 
                                                                                                                      Tự nhiên 

HIỂU CHO ĐÚNG VỀ MỘT NỀN TƯ PHÁP DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM


Thời gian qua, trên internet xuất hiện một số trang mạng với đủ các thể loại đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định.

CHUYẾN DU HÀNH VŨ TRỤ ĐẦU TIÊN VÀ ƯỚC MƠ KHÔNG GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT.


40 năm trước, ngày 23/7/1980, phi công Phạm Tuân, cùng với nhà du hành vũ trụ Xô Viết Gorbatko được phóng vào không gian từ sân bay vũ trụ Baikonur trên tàu vũ trụ Liên hợp.
Trong 8 ngày trên không gian, phi công Phạm Tuân đã thực hiện 142 vòng quỹ đạo quanh Trái Đất. Ở vòng thứ 20, con tàu bay qua địa phận Việt Nam, phi công Phạm Tuân vô cùng xúc động khi được nhìn Tổ quốc từ vũ trụ.
8 ngày ngoài không gian, Phạm Tuân đã tiến hành hàng chục thí nghiệm khoa học có giá trị như: thí nghiệm Hạ Long 1, Hạ Long 2, thí nghiệm hồ quang, thí nghiệm phân cực... Ngoài ra, Phạm Tuân còn phải tiến hành các thí nghiệm về hòa tan các mẫu khoáng chất trong tình trạng không trọng lực.
Lá cờ Tổ quốc, Tuyên ngôn Độc lập, Di chúc của Bác… khi đóng dấu Trạm vũ trụ cũng là khẳng định người Việt Nam sánh vai cùng với quốc tế, đã có mặt trên vũ trụ bao la. Đây là con tàu vũ trụ đã đưa hai nhà du hành Gorbatko và Phạm Tuân lên không gian, trước khi kết nối với trạm Chào mừng 6.
Những hình ảnh về người Việt đầu tiên bay vào vũ trụ được chiếu qua tivi năm 1980 đã làm nức lòng người dân Việt Nam. Sau khi trở về, lãnh đạo Đảng, nhà nước đã tổ chức trọng thể 2 nhà du hành vũ trụ. Sự có mặt của người Việt Nam trên vũ trụ đã thể hiện tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và nhà nước ta với khoa học công nghệ, nhất là bối cảnh đất nước mới giải phóng được 5 năm, còn bao bộn bề.
Chuyến bay 40 năm trước đã mở ra kỷ nguyên mới, chinh phục bầu trời. Với người dân Việt Nam, chuyến bay còn thể hiện tình cảm chân thành, sâu sắc, sự giúp đỡ của đất nước Liên Xô lúc đó với nhân dân Việt Nam.Năm nay, thiếu vắng anh hùng Gorbatko bởi người bạn lớn của Việt Nam đã ra đi nhưng chắc chắn rằng tình cảm ông dành cho nhân dân Việt Nam, ý nghĩa chuyển chuyến bay lịch sử 40 năm trước không bao giờ mờ phai.
Sau ngày đó, Việt Nam dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, vẫn không ngừng cố gắng thực hiện giấc mơ bước vào vũ trụ. Trung tâm Vệ tinh Quốc gia đã được thành lập, các dự án phóng vệ tinh viễn thông Vinasat 1, Vinasat 2, các vệ tinh quan sát Trái Đất VNREDSat-1, VNREDSat-1B... được phê duyệt và tiến hành. Đặc biệt, dự án xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã được chính thức khởi công và đang được khẩn trương xây dựng tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Tin rằng, với sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, với trí tuệ và tinh thần vượt khó vươn lên của các nhà khoa học, công cuộc chinh phục không gian của người Việt sẽ ngày càng thành công, mang lại lợi ích cho cả kinh tế, văn hóa cũng như quốc phòng của đất nước.





CẦN TỈNH TÁO TRONG TIẾP NHẬN THÔNG TIN TRÊN MẠNG XÃ HỘI


Internet và mạng xã hội ở Việt Nam đã trở thành công cụ vô cùng quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của người dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ đất nước. Cùng với đó, cũng có nhiều trang mạng vẫn xuất tình trạng tin giả, lừa đảo, xuyên tạc, bịa đặt qua mạng xã hội.

“Cả nước đồng lòng, muôn người như một, chúng ta nhất định thắng lợi”.


Là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Lời kêu gọi sau Hội nghị Giơnevơ thành công” được Người viết ngày 22 tháng 7 năm 1954, Báo Nhân dân đăng trên số 208, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7 năm 1954.
Trước đó, ngày 26 tháng 4 năm 1954 khi Quân đội ta kết thúc tiến công đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ thì Hội nghị Giơnevơ (Thụy Sỹ) bắt đầu khai mạc. Tham dự Hội nghị có đại diện của: Việt Nam, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Lào, Campuchia và chính quyền Bảo Đại. Trải qua 08 phiên họp toàn thể, 23 phiên họp hẹp căng thẳng, với thiện chí của phái đoàn Việt Nam, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến tranh ở Đông Dương được ký kết; theo đó, nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành 2 miền qua vĩ tuyến 17 và tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước trước tháng 7 năm 1956. Để kịp thời thông báo kết quả Hội nghị và tiếp tục khẳng định vai trò to lớn, sức mạnh vô địch của sự đoàn kết, nhất trí, sự đồng tâm, hiệp lực trong đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi trên.
Thực hiện lời kêu gọi của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, nhất trí dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh anh dũng chiến đấu và chiến thắng trong công cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Khắc ghi lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân luôn nhận thức sâu sắc sức mạnh quân đội nằm trong kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất; đây là nhân tố hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Thực tiễn đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và chiến thắng trong chiến đấu được bắt nguồn tự sự đoàn kết, thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo, chỉ huy với quần chúng, giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa quân với dân, tiền tuyến và hậu phương. Quân đội ta là một quân đội cách mạng; cán bộ, chiến sĩ là những người cùng chung lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ. Mối quan hệ giữa cán bộ, chiến sĩ được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, đồng chí, đồng đội. Đoàn kết, thống nhất là truyền thống, là lời thề danh dự, nét đẹp văn hóa trong phẩm cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là động lực, nhân tố tích cực để xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.