Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

KHÔNG CÓ GÌ CÓ THỂ CHIA RẼ QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ GIỮA QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN

 

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, suốt 75 năm qua, 2 lực lượng công an và quân đội luôn kề vai sát cánh, đoàn kết gắn bó vì nhiệm vụ chung, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Lực lượng công an, quân sự, biên phòng đã phối hợp chặt chẽ hơn, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm quy chế biên giới, hoạt động xuất nhập cảnh trái phép, xâm phạm an ninh quốc gia và hoạt động của các loại tội phạm ở khu vực biên giới, nhất là tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em, vận chuyển, buôn bán ma tuý, buôn lậu, gian lận thương mại…Đây là mối quan hệ mang đậm bản chất cách mạng, thể hiện sự đoàn kết là LLVT từ nhân dân mà ra, vì nnha6n nhân mà chiến đấu; là sự gắn bó, hiệp đồng chặt chẽ cũng như tinh thần gương mẫu, trách nhiệm, quyết tâm chính trị của hai lực lượng công an và quân đội.

Quân đội và công an đều là công cụ bạo lực, là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân, tuy nhiệm vụ cụ thể có đặc trưng khác nhau nhưng đều chung mục tiêu, lý tưởng; không thể có chuyện “lấn sân” nhau trong thực hiện nhiệm vụ mà chỉ có chia sẻ, phối hợp, cùng nhau hoàn thiện nhiệm vụ tốt nhất.

Hai lực lượng sẽ kề vai, chung sức bảo vệ vững chắc ‘bờ cõi’ thiêng liêng của Tổ quốc. Các thủ đoạn lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tạo ra những “điểm nóng” kinh tế-xã hội để biến thành những sự kiện chính trị nhạy cảm… càng đòi hỏi QĐND và CAND phải kề vai sát cánh hơn nữa.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng đã khẳng định, thời gian tới, hai lực lượng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, nâng cao chất lượng trao đổi thông tin, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kịp thời tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, nhất là bảo vệ an toàn, thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Từ thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội và Công an trong suốt 75 năm qua, khẳng định chắn chắn rằng, sự đoàn kết, phối hợp giữa Công an nhân dân và Quân đội nhân dân đã trở thành truyền thống, là yêu cầu khách quan, cội nguồn sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội./.

 

Một số yêu cầu về xây dựng đạo đức liêm chính trong phòng chống tham những

 

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã xác định: “Xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử nhằm đảm bảo sự liêm chính của đảng viên, cán bộ, công chức là một trong những giải pháp đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí”. “Liêm chính” không phải là thuật ngữ mới. Theo Từ điển Tiếng Việt: Liêm là không tham lam, trong sạch; chính là ngay thẳng, đúng đắn, trái với tà. Liêm chính là trong sạch và ngay thẳng.

Nhìn nhận dưới góc độ phòng, chống tham nhũng, tổ chức Minh bạch Quốc tế cho rằng: Liêm chính là những ứng xử và hành động theo các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức hoặc đạo lý được cá nhân cũng như tổ chức chấp nhận nhằm ngăn chặn tham nhũng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đạo đức người cách mạng. Trong tác phẩm "Cần, kiệm, liêm, chính", Người đã coi “liêm”, “chính” là hai trong bốn đức của mỗi con người, mỗi cá nhân, đặc biệt là với cán bộ, “liêm" được hiểu là trong sạch, không tham lam, "chính" được hiểu là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn.

Từ những cách lý giải trên, có thể hiểu đạo đức liêm chính là những nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi và mối quan hệ của con người với nhau và với xã hội. Trong hoạt động công vụ đạo đức liêm chính là những chuẩn mực mà cán bộ, công chức phải tuân theo trong thi hành công vụ. Đạo đức liêm chính luôn hàm chứa yếu tố: Trung thực, kỷ luật, trách nhiệm, không vụ lợi và được biểu hiện cụ thể qua các yêu cầu:

Một là, thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả công việc; không thoái thác trách nhiệm của bản thân; không đổ lỗi cho người khác.

Hai là, không vụ lợi cá nhân và tránh xung đột lợi ích. Liêm chính đòi hỏi cán bộ, công chức phải luôn đặt lợi ích của cơ quan, của nhà nước lên trên lợi ích cá nhân. Không lợi dụng quyền hạn để làm những việc trái pháp luật nhằm mục đích vụ lợi, đặc biệt là, cán bộ, công chức công tác trong các lĩnh vực dễ dẫn đến xung đột lợi ích.

Ba là, có ý thức trách nhiệm bảo vệ, tiết kiệm tài sản công. Yêu cầu này đòi hỏi cán bộ, công chức, viên chức phải có ý thức bảo vệ các tài sản công tránh thất thoát, lãng phí và sử dụng tài sản công được giao một cách tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả.

Bốn là, phục vụ nhân dân với thái độ đúng mực và công bằng. Đó là gần gũi với người dân, khi giao tiếp với công dân phải có thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn, tôn trọng, lắng nghe, ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng; không hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, ngay thẳng và trung thực, có tinh thần hợp tác, tương trợ lẫn nhau khi thi hành nhiệm vụ. Tôn trọng và lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp, giữ gìn dân chủ và đoàn kết nội bộ.

Như vậy, xây dựng đạo đức liêm chính trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ chính là một trong các giải pháp phòng chống tham nhũng hướng đến mục tiêu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính được xác định trong Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng đạo đức liêm chính không chỉ là bổn phận của mỗi cán bộ, công chức, viên chức mà còn là trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và rất cần sự chung tay của cả cộng đồng./.

 

“Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”

 

Ngày 01/8/2020 vừa qua Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên án 8 bị cáo của thành viên của nhóm kín có tên “Hiến Pháp” với tổng hình phạt 40 năm tù. Gồm: Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (sinh năm 1976, hộ khẩu thường trú ở huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; ngụ huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) 8 năm tù; Hoàng Thị Thu Vang (sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú ở Khu phố 3, phường Trung Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) 7 năm tù, cùng về tội “Phá rối an ninh” theo Điều 118 Bộ luật hình sự 2015.

Sáu bị cáo còn lại nhận mức án từ thấp nhất 2 năm 6 tháng tù đến cao nhất là 5 năm tù, cùng về tội “Phá rối an ninh” theo Điều 118 Bộ luật hình sự 2015.

Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ tự cho mình cái quyền can thiệp vào pháp luật Việt Nam khi bày tỏ quan ngại về việc tuyên án nhóm Hiến Pháp này. Qua xem xét động thái của Mỹ, khẳng định rằng, chính họ đang vi phạm quyền tự do dân chủ và nhân quyền của người dân Việt Nam theo khuôn khổ pháp luật Việt Nam!

Rõ ràng, các hành vi của các bị cáo trong nhóm “Hiến pháp” này là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia.Thực tế, nhóm “Hiến pháp” này không phải thực hiện quyền tự do dân chủ như Mỹ đã rêu rao mà chúng đã lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để kêu gọi biểu tình chống Nhà nước, thậm chí hoạt động có tổ chức đã lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị hung khí, công cụ hỗ trợ để tổ chức phá rối an ninh, gây bạo loạn.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo cũng thừa nhận đã nhận tiền tài trợ của các đối tượng chống đối chính trị ở nước ngoài để làm kinh phí hoạt động. Cụ thể: Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhận tổng cộng 400 USD, Hồ Đình Cương nhận tổng cộng 800 USD, Trần Thanh Phương nhận tổng cộng 200 USD…

Như vậy, không có một lý lẽ nào có thể cho rằng Pháp luật Việt Nam xét xử sai trái trong vụ án này. Lẽ ra, Mỹ cũng phải biết rằng, “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, chống phá, vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo pháp luật, không có chuyện lẫn lộn giữa tội phạm và công dân chấp hành pháp luật. Nếu nói đến nhân quyền và quyền tự do dân chủ thì bất luận quốc gia nào cũng phải thực hiện dưới dưới sự chi phối của pháp quyền, kể cả Mỹ. Nhân quyền thực chất là quyền công dân trong khuôn khổ pháp luật - chính trị. Pháp luật là cán cân công lý bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân cũng như bảo vệ sự ổn định chính trị của đất nước. Những hành vi nguy hiểm của nhóm “Hiến pháp” này nếu không xử lý kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật thì liệu an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có được giữ vững không?

Tốt nhất lúc này, hãy lo cho nhân quyền, quyền tự do dân chủ của nước Mỹ đi, trước khi phán xét và xuyên tạc về tự do, nhân quyền của nước khác./.

 

Ba vị tướng huyền thoại của tình báo Việt Nam

Ảnh: báo quân đội nhân dân

Ngoài cùng bên trái là Thiếu tướng, AHLLVTND Vũ Ngọc Nhạ (ông Hai Long).

Ông nhận được sự tin cậy rất lớn của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu. Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ là cố vấn của 2 đời tổng thống VNCH.Ông cùng với các đồng chí trong cụm tình báo huyền thoại A22 đã leo sâu trèo cao và ở rất nhiều vị trí khác nhau trong phủ tổng thống.

Khi bị CIA điều tra và bị lộ, báo chí Sài Gòn gọi đó là vụ án gián điệp lớn nhất thời đại. Ông cùng với các đồng đội đã vô cùng mưu trí biến 1 vụ án gián điệp thành 1 vụ án chính trị. Bằng lý lẽ và lập luận sắc bén, ông cùng các đồng đội đã đẩy phiên toà vào bế tắc. Khi đi tù ở Côn Đảo, Nguyễn Văn Thiệu đã phái người tâm phúc của ông ta tới đó để lo cho ông.

Việc đi tù được ông ví như là Cuộc dạo chơi trên thiên đường. Sự nghiệp tình báo của ông đã được khắc họa qua cuốn tiểu thuyết “Ông Cố Vấn: Hồ sơ một điệp viên” của nhà văn Hữu Mai và sau đó cuốn tiểu thuyết này đã được chuyển thể thành bộ phim “Ông Cố Vấn”.

Người ngồi giữa là Thiếu Tướng, AHLLVTND Đặng Trần Đức (ông Ba Quốc).

Ông làm việc ngay trong Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy. Ông là người đã đề xuất lập phòng tình hình để thu thập các thông tin tình báo và sau đó ông được đưa về làm việc tại phòng tình hình và thu thập được rất nhiều tin quan trọng. Ta phá được nhiều ổ gián điệp của Miền Bắc cũng nhờ do thông tin tình báo ông đưa về. Khi biết phía địch có thể bắt các cán bộ ta làm việc trong thành, ông đã cảnh báo để cho ta biết tránh bị bắt. Trong số những người trốn thoát được có cả Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh.

Ông chính là nguyên mẫu trong bộ phim: Ông tướng và hai bà vợ.

Người ngồi bên phải là Thiếu Tướng, AHLLVTND Phạm Xuân Ẩn (Ông Hai Trung).

Ông là phóng viên của Times tại Việt Nam. Tuy không tham gia trong chính quyền Sài Gòn, nhưng với uy tín và mối quan hệ của mình, Ông được tham gia thảo luận nhiều những vấn đề mật của chính quyền Sài Gòn. Ông chính là người đã gửi kế hoạch về Chiến Tranh Đặc Biệt của Mỹ ra cho Trung Ương và cũng đã nhận định về việc Mỹ sẽ không trở lại Việt Nam sau Hiệp Định Paris.

Trong suốt thời gian làm tình báo, ông chưa từng bị lộ và trở thành một huyền thoại tình báo trong Chiến Tranh chống Mỹ cứu nước./.



Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Tác phẩm cuối đời Người để lại cho dân tộc Việt Nam đó là bản “Di chúc” – một tài liệu quý giá, vừa chứa chan tình yêu thương với đồng bào vừa có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển của đất nước. Di chúc được Người bắt đầu chấp bút từ tháng 5-1965 đến tháng 5-1969, ghi lại những suy nghĩ, lời căn dặn của một người “chuẩn bị đi xa” đối với những thế hệ sau nên đó tất nhiên là những điều rất thực, rất tâm huyết. Bảo vật Quốc gia cuối cùng mà Người để lại là sự kết tinh tinh thần tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp suốt đời phấn đấu hi sinh vì nước vì dân; vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi; là những lời căn dặn thiết tha; là sức mạnh thôi thúc toàn dân tộc hành động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Là người sáng lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời chăm lo cho việc xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng đủ điều kiện và sức mạnh lãnh đạo toàn dân tộc. Điều đầu tiên Bác nhắc tới trong Di chúc là nói về Đảng. Quan tâm tới con người luôn chiếm vị trí quan trọng trong chỉ đạo và điều hành đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người nhắc đến tất thảy mọi người, từ “bà con lao động, công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, trí thức”. Người căn dặn Đảng “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”…

Chỉ với hơn 1.000 từ vô cùng ngắn gọn, Di chúc của Người đã truyền cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ý chí quyết tâm sắt đá, niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam; sức mạnh của chính nghĩa và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Năm nay, kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc, soi rọi, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp cách mạng; kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới đích cuối cùng./.

 

Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngày 17-7-1966

 

Ngày 17-7-1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc, một lần nữa, trên sóng Đài TNVN đã vang lên “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời hiệu triệu của vị lãnh tụ kính yêu đã thôi thúc hàng triệu con tim, khối óc đồng bào, chiến sĩ hăng hái lên đường đánh giặc, giành độc lập, tự do cho non sông, đất nước. Trong Lời Hịch non sông ấy có câu: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp thế hệ người Việt Nam lên đường chiến đấu chống k.ẻ t.h.ù xâm lược, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” tiếp tục là kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân ra sức phát triển đất nước, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời của Tổ quốc.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20-12-1946


“Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…”, sáng 20-12-1946, lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng dậy chống thực dân Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên trên sóng Đài TNVN khắp mọi miền Tổ quốc.

Bài hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dài vỏn vẹn 19 dòng với 199 từ và được Người viết tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), đã thể hiện những quan điểm cốt lõi của Người về kháng chiến toàn dân, cũng như mệnh lệnh của non sông, thôi thúc cả dân tộc chung sức, đồng lòng vùng dậy quyết chiến, quyết thắng quân Pháp xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi độc lập dân tộc và tự do, hòa bình là mục tiêu phấn đấu suốt đời mình.

Thế nhưng trong điều kiện phải đương đầu với k.ẻ t.h.ù xâm lược có sức mạnh quân sự và kinh tế lớn hơn ta nhiều lần, có quân số đông và v.ũ k.h.í hiện đại, ta cần phải huy động sức mạnh của toàn dân để chiến đấu. Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc. Hơn 7 thập kỉ trôi qua, lời kêu gọi bất hủ có giá trị lịch sử sâu sắc đó đã trở thành một văn kiện, một bản thiên cổ hùng văn, trường tồn cùng lịch sử Việt Nam trong thời đại mới.

Trước những thăng trầm của thời gian, giá trị lịch sử của “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” vẫn luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ, đồng bào kề vai sát cánh, chung sức, đồng lòng. Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn dân, Đảng ta tiếp tục phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.

Nhật ký trong tù

 

Tháng 8-1942, với danh nghĩa là đại biểu Việt Nam Ðộc lập Ðồng minh và Phái bộ quốc tế chống xâm lược, Bác Hồ từ Cao Bằng sang Trung Quốc để vận động quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam giành độc lập, nhưng đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, sau đó giải qua nhiều nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây từ ngày 25-8-1942 đến ngày 19-9-1943. Tác phẩm “Nhật ký trong tù” là tập thơ của Người sáng tác trong thời gian này, gồm 133 bài thơ viết bằng chữ Hán, theo thể tứ tuyệt, có giá trị văn học sâu sắc. Tập thơ đã được phát hành bằng tiếng Việt từ năm 1960 và nhiều bài được đưa vào giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời được dịch sang nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Xuyên suốt tập thơ là hình ảnh người tù Hồ Chí Minh tràn đầy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và một quyết tâm cao độ đấu tranh cho tự do. Dù tiếp cận ở những thời khắc khác nhau, song bất cứ ai đọc tác phẩm cũng đều phần nào hình dung được thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của Người, thấy được tầm vóc trí tuệ của một chân dung vĩ đại, với khát vọng cao đẹp nhất là “Độc lập cho dân tộc và Tự do cho con người”.

Sức mạnh của lời thơ cũng là lý trí của người chiến sĩ cách mạng. Cách đây vài năm, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật Việt Nam khẳng định: “Cảm hứng nhân văn và những bài học lớn trong thơ Bác nói chung và Nhật ký trong tù nói riêng đã trở thành cẩm nang, thành sức mạnh cho một nền thơ ca cách mạng Việt Nam”./.

Tác phẩm "Đường Kách mệng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Cách đây hơn 9 thập kỉ, năm 1927, “Đường Kách mệnh” – cuốn sách tập hợp các bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dùng để đào tạo lứa cán bộ đầu tiên cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc), lần đầu tiên được xuất bản. Đây được coi là văn kiện lý luận chính trị đầu tiên của Đảng, đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Thông qua những bài giảng trong “Đường Kách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc – Người cộng sản Việt Nam đầu tiên – đã trình bày những điều cốt lõi của học thuyết cách mạng Mác – Lênin, phù hợp với điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu. Điều này khẳng định tính phổ biến của các nguyên lý của học thuyết Mác – Lênin trên phạm vi toàn cầu, không chỉ ở châu Âu mà còn cả ở phương Đông, châu Á.

Trong tác phẩm, Người nêu rõ những chuẩn mực đạo đức của những người cách mạng. Đó phải là những người có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh thì mới tiếp thu được tinh thần của lý luận, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng khó khăn.

“Đường Kách mệnh” cũng trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lý luận cách mạng, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của cách mạng Việt Nam. Trở thành “cẩm nang” gối đầu giường của thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam, dưới ánh sáng của “Đường Kách mệnh”, những học trò của Nguyễn Ái Quốc đã về nước hoạt động, cùng Người chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; phát động, tổ chức, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.

Hơn 90 năm trôi qua, nhưng nhiều vấn đề có liên quan đến con đường, phương pháp cách mạng, xây dựng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng, về vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng Đảng vững mạnh, nhất là các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản … trong “Đường Kách mệnh” vẫn giữ nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới hiện nay./.

MỘT TẤM GƯƠNG SỐNG CÒN CÓ GIÁ TRỊ HƠN MỘT TRĂM BÀI DIỄN VĂN TUYÊN TRUYỀN

 

Sinh thời, Bác Hồ có nói: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền". Người luôn luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi việc. Không có lĩnh vực nào mà tác dụng nêu gương lại quan trọng bằng lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình, đó là tấm gương của cha, mẹ đối với con cái, của anh, chị đối với các em; trong xóm làng, khu phố, đó là tấm gương của các bậc cao niên, các cựu chiến binh, các thế hệ đi trước đối với thế hệ trẻ; trong cơ quan Đảng và Nhà nước, đó là tấm gương của các đồng chí phụ trách, các đồng chí lãnh đạo đối với nhân viên; trong đơn vị quân đội, đó là tấm gương của các cấp chỉ huy, các chính ủy, chính trị viên đối với binh sĩ, của cấp trên đối với cấp dưới; trong toàn xã hội, đó là tấm gương của những "người tốt việc tốt", đối với mọi đối tượng, mọi tầng lớp nhân dân. Trong cuốn sách "Tư tưởng Bác Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Bác Hồ thường nhắc đến một phương pháp giáo dục quan trọng là sức mạnh của sự nêu gương. Bác luôn luôn nêu gương trước cho mọi người noi theo”.

Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên chỉ đạo, nhắc nhở việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng: Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém; người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng, phải kết hợp chặt chẽ phẩm chất và năng lực, hồng và chuyên, đức và tài, trong đó đức là gốc.

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng là việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài; có đạo đức trước, có tài năng sau. Đạo đức của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở phẩm chất, tư cách: Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; có đời tư trong sáng; là tấm gương sáng trong cuộc sống để nhân dân tin và noi theo.

Cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao, càng phải sống thanh bạch, giản dị và nêu gương tốt trước hết. Bác Hồ là một trong những nhà tư tưởng, lãnh tụ cách mạng quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức và có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng. Bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Học tập gương đạo đức Hồ Chí Minh là học cho được cái gốc, tức là học cho được cái tâm và tấm lòng của mình trước nỗi khổ của con người, của đồng loại, của nhân dân, nhất là những người khổ, người nghèo, người bất hạnh; biết đồng cảm, sẻ chia những nỗi đau của từng cảnh đời trong cuộc sống.

Bác Hồ thường nói: Người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên mới đi làm cách mạng. Người có lòng thương yêu mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Học gương đạo đức Bác Hồ là phải học từ cái tâm, từ những xúc động đến rưng nước mắt của Bác trước nỗi khổ của con người, là vận dụng bài học đó để suy nghĩ và thực hiện trong đời sống hàng ngày.

Thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục đề cao phương pháp nêu gương, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành, các đảng bộ, chi bộ. Cụ thể là nói đi đôi với làm, nói được thì phải làm được; cán bộ cấp trên gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm cao trước cán bộ cấp dưới; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đường làm một nẻo”, thậm chí chỉ thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm. Những biểu hiện đó hoàn toàn trái với tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, làm cho phương pháp “nêu gương” mất ý nghĩa, tác dụng trong giáo dục đạo đức, lối sống ngay trong nội bộ tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội…

Phương pháp “nêu gương” đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Bởi vì, quần chúng nhân dân luôn chú ý tới lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên để xem có nên noi theo hay không noi theo. Và cũng qua đó, họ biết rất rõ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở, có những ưu điểm, nhược điểm gì, và đã sửa chữa nhược điểm, phát huy ưu điểm đến đâu. Cán bộ, đảng viên càng giữ vị trí cao, vị trí quan trọng, nhất là người đứng đầu, càng phải hết sức nêu gương tự phê bình và phê bình về phẩm chất đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi./.

 

"Phiên chợ 0 đồng" lưu động ấm tình người giữa mùa dịch Covid-19

 

Trên chiếc xe tải nhỏ, các bạn đoàn viên ở Quảng Nam chất đầy ắp rau củ quả, mỳ tôm…để mang đến cho người dân giữa mùa dịch COVID-19.

Một tuần trở lại đây, hình ảnh chiếc xe tải nhỏ, bên ngoài thùng xe có dán tấm băng rôn căng ngang dòng chữ “Chương trình phiên chợ 0 đồng. Gõ cửa từng nhà, mang thực phẩm tới các hộ khó khăn”, trở nên rất đỗi thân thương trong mắt hàng nghìn người dân ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

Đây là phiên chợ 0 đồng mà các bạn đoàn viên thuộc Chi đoàn thôn Châu Lâm, xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, triển khai nhằm chia sẻ khó khăn với người dân giữa mùa dịch COVID-19.

Anh Phan Văn Đức, Bí thư Chi đoàn thôn Châu Lâm cho hay, toàn bộ rau củ quả, cá, trứng, mỳ tôm…được anh và hàng chục bạn đoàn viên kêu gọi, vận động từ các nhà hảo tâm, mạnh thường quân trên mạng xã hội. “Cuối tuần trước, Chi đoàn nhận được lượng lớn nguồn rau sạch của nhà hảo tâm trên Đà Lạt hỗ trợ. Còn mỳ tôm, cá, trứng…thì được một số bà con địa phương có điều kiện quyên góp. Thế là ý tưởng phiên chợ 0 đồng được xây dựng và triển khai”, Đức cho hay.

Chủ nhật tuần trước (9/8), phiên chợ 0 đồng đầu tiên được tổ chức tại khu dân cư Lưu Minh, thị trấn Hà Lam – nơi toàn bộ người dân đang bị cách ly, phong tỏa do có trường hợp mắc COVID-19. Tại đây, chiếc xe tải “chở” phiên chợ lưu động tới từng ngõ, gõ cửa từng nhà và trao tận tay người dân những thực phẩm sạch.

Riêng ngày hôm nay (15/8), phiên chợ 0 đồng được tổ chức cố định tại sân nhà văn hóa thôn Ngũ Xã, xã Bình Chánh.

Tại đây, ngoài nhận lương thực, người dân còn được tặng khẩu trang, dung dịch sát khuẩn để phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Việt Nam tôi thế đấy, tuy không giàu vật chất nhưng là nơi của ‘tỷ phú’ tình người. Chứ không phải như những kẻ lợi dụng dịch bệnh, tình hình biển Đông mà làm chuyện hại nước, hại dân, đòi thả những kẻ tội đồ của Đất nước.

Sự thật thì chỉ có người Việt chân chính mới luôn luôn hướng về đất nước, mới đoàn kết, chung tay vượt qua khó khăn mà thôi./.

 ‘Phiên chợ 0 đồng’ lưu động ấm tình người giữa mùa dịch Covid-19

 

Chúng tôi hiểu rõ chúng tôi muốn gì và cần gì!

 

Mới đây, Cato Institute cho Việt Nam 0/10 điểm về "tự do đi lại trong nước". Đơn vị này cáo buộc Việt Nam lợi dụng việc khống chế dịch bệnh nhằm cưỡng bức người dân trong việc di chuyển, đi lại, lưu thông và chấm Việt Nam ở ngưỡng điểm "liệt hạng". Nếu chiếu theo ngưỡng điểm, thì Việt Nam là một quốc gia tồi tệ hơn cả những quốc gia tồi tệ nhất trên thế giới như Lebanon, Libya, Afghanistan... Nếu so sánh với các quốc gia và vùng lãnh thổ lân cận như Indonesia, Campuchia, Philippines, Đài Loan, Singapore đều được 10 điểm, Trung Quốc được 5 điểm, thì Việt Nam chẳng có một điểm nào.

Tuy nhiên, có giả thuyết cho rằng nghiên cứu này được Cato Institute nghiên cứu vào năm 2019 còn công bố vào năm 2020. Nếu giả thuyết đó đúng, thì năm 2019, chấm điểm 0/10 cho Việt Nam liệu có phản ánh đúng sự thực không?

Thông tin là Cato Institute đưa ra rất là phi lý. Vì nếu nghiên cứu phản ánh trong năm 2020, thì chỉ cần nhìn bản đồ thực trạng các chuyến bay nội địa tại Việt Nam hàng ngày, nó thậm chí còn dày đặc hơn Philippines, Indonesia, Campuchia... Nếu nghiên cứu phản ánh năm 2019, thì cần biết rằng Việt Nam đã thu hút hơn 18 triệu du khách quốc tế, đứng thứ 4 Đông Nam Á. Ngoài ra, mỗi năm, lượng phương tiện cá nhân bán tại Việt Nam vượt mốc 5 triệu xe. Những thống kê trên thuộc về một quốc gia tự do đi lại, di chuyển bằng 0 ư? Hay là trò lố của Cato Institute?

Dẫu biết là các nghiên cứu của một số tổ chức nước ngoài không có căn cứ buộc tội Việt Nam, nhưng rõ ràng, ảnh hưởng của các tổ chức này rất lớn. Những nghiên cứu này khiến hình ảnh Việt Nam bị hiểu sai đi rất nhiều.

Ngày hôm qua, đúng vào ngày Quốc tang Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam đăng dòng trạng thái "bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc Việt Nam kết tội và tuyên án tám thành viên của tổ chức xã hội dân sự Hiến Pháp tại Việt Nam hơn 40 năm tù giam". Đại sứ quán Mỹ cho rằng công dân Việt Nam có quyền tự do biểu đạt ý kiến vì Hiến pháp Việt Nam đã quy định rõ điều này.

Bên cạnh đó, vào ngày 04/08, Phái đoàn EU tại Việt Nam thông qua trang fanpage riêng cũng bày tỏ việc kết tội nhóm người này làm "gia tăng số lượng các nhà bảo vệ nhân quyền và blogger bị các toà án Việt Nam kết án trong năm 2020". Họ cho rằng những người trong nhóm "Hiến pháp" đã tham gia đấu tranh, bảo vệ Hiến pháp Việt Nam.

Nhưng sự thực là thế nào? Cái nhóm mang tên khá là "vĩ mô" ấy mang trong mình âm mưu tổ chức biểu tình, bạo loạn lật đổ chính quyền vào năm 2018. Các thành viên trong nhóm nhận tiền từ các "nhà tài trợ" nước ngoài, sau đó tiến hành mua vũ khí bao gồm roi điện, dùi cui điện, trà trộn vào đám đông biểu tình và hành hung người biểu tình và đổ tội cho cơ quan chức năng Việt Nam. Ngoài ra, nhóm người này không loại trừ âm mưu chế tạo bom xăng, thuốc nổ, nhắm trực tiếp vào các nơi đông người nhằm tạo điều kiện cho các yếu tố nước ngoài can thiệp vào Việt Nam.

Hiếp pháp Việt Nam quy định công dân Việt Nam có quyền " tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình" miễn là đúng theo quy định của luật pháp hiện hành. Và dĩ nhiên, Hiến pháp cũng quy định luôn rằng mọi hành vi "chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.". Bên cạnh đó, tính mạng của mỗi người Việt Nam đều được luật pháp Việt Nam bảo hộ.

Liệu Đại sứ quán Mỹ và Phái đoàn EU tại Việt Nam có thực sự công tâm hay không khi dành những lời "có cánh" cho một nhóm người mang đầy tội lỗi như vậy? Mà cần biết rằng, chính Mỹ cũng đã rút khỏi Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc vào năm 2018 do bênh Israel khi quốc gia này bị Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc lên án các hành vi xâm phạm tự do dân chủ, nhân quyền tại dải Gaza.

Bất cứ quốc gia nào cũng có những mặt không ổn, nhưng cơ bản nhất, tất cả những hành vi của người dân trong một quốc gia phải tuân theo quy định của luật pháp quốc gia đó nếu không bị nghiêm trị. Việc Việt Nam kết tội những kẻ phạm tội, phản quốc là việc hết sức bình thường, cũng như việc Mỹ cho Vệ binh Quốc gia đàn áp người biểu tình quá khích hay Pháp cho quân trấn án người biểu tình áo Vàng vậy.

Rõ ràng trong lúc cả nước đang tiến hành Quốc tang và oằn mình chống dịch, theo lẽ thường, nếu đã không dành được lời gì trang trọng thì tốt hơn hết nên im lặng không nói gì.

Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định rõ ràng rằng các quốc gia không được phép can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác. Nhưng hiến chương Liên Hợp Quốc, đôi khi lại tỏ ra mềm yếu và không có định lượng.

Người Việt hiểu rõ người Việt muốn gì và cần gì. Chứ Việt Nam không hề muốn một thứ nhân quyền kiểu như là vũ khí sinh học mang công thức NaCL mà Colin Powell đem lên trình diện trước Liên Hợp Quốc rồi sau đó cho mình cái quyền định đoạt hàng trăm ngàn mạng sống của người dân Iraq.

Đôi khi, những người ở ngoài kia, đánh giá về người Việt với cái tâm thế không khách quan, thậm chí còn mang định kiến quy chụp. Nếu đánh giá đó khách quan và tốt đẹp, phản ánh đúng bản chất, người Việt sẵn sàng hoan nghênh và hoan hỉ.

 

Không hoang mang và đồng lòng quyết tâm chống dịch, nhất định cúng ta sẽ thành công

 

Dịch đợt này tấn công vào đúng khu vực xung yếu nhất là các khoa điều trị bệnh nhân nặng, tự thân tính mạng đã rất mong manh, sự sống của nhiều người phụ thuộc vào máy móc nên việc mắc thêm Covid-19 như “Giọt nước tràn ly”.

Sắp tới chắc chắn các bác sĩ và nhân viên y tế sẽ còn vất vả hơn , sẽ còn nhiều cảm xúc đau hơn bởi những diễn biến của covid . CHỦNG COVID trong chùm bệnh nhân ở Hải Dương khá quan ngại. Các cơ quan chuyên môn của Bộ Y tế đang khẩn trương tiến hành phân tích sâu, giải mã gen virus gây bệnh ở Hải Dương để xem xét mức độ liên quan với chủng virus gây bệnh ở Đà Nẵng, kết quả sẽ có sau một vài ngày tới. Hi vọng chủng này sẽ tương tự ở Đà Nẵng để phác đồ điều trị không phải thay đổi, bớt đi nguy hiểm và bớt đi những vất vả cho các anh em y bác sỹ.

CHỐNG COVID-19 LÀ CUỘC CHIẾN KHÔNG CỦA RIÊNG AI

 

Hoan nghênh việc Hội đồng Bảo an đã thông qua Nghị quyết 2532 về ứng phó với COVID-19 và Lời kêu gọi của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc về ngừng bắn toàn cầu, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho rằng “cuộc chiến chống COVID-19 là cuộc chiến không của riêng ai”, Việt Nam kêu gọi tăng cường hợp tác và đoàn kết quốc tế để cùng nhau ứng phó thành công với đại dịch.

Nhận lời mời của Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi, ngày 12/8, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã tham dự và phát biểu tại Phiên thảo luận mở cấp cao trực tuyến của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (HĐBA LHQ) với chủ đề “Đại dịch và các thách thức đối với hòa bình bền vững”.

Phiên họp có sự tham dự của Ngoại trưởng Indonesia, Estonia, Nam Phi, Quốc vụ khanh Đức, Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres, nguyên Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon và đại diện các nước thành viên HĐBA.

Các đại biểu tham dự nhấn mạnh đại dịch COVID-19 không chỉ ảnh hưởng riêng lĩnh vực y tế mà tác động sâu sắc, rộng khắp và ở mọi cấp độ, mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.

Đặc biệt, tại các khu vực và các nước bị ảnh hưởng bởi xung đột, đại dịch làm trầm trọng hơn nguồn gốc của xung đột như nghèo đói, tị nạn, bất ổn xã hội, khủng hoảng nhân đạo; đe dọa đảo ngược các tiến trình xây dựng hòa bình, an ninh và phát triển khu vực.

Nhiều đại biểu cho rằng quá trình ứng phó với đại dịch là một cơ hội để tăng cường hợp tác quốc tế và sự thống nhất trong hệ thống LHQ - một trong những ưu tiên trong quá trình cải tổ LHQ hướng đến hòa bình bền vững, kết nối ba trụ cột về an ninh, phát triển và bảo đảm quyền con người.

Các nước đánh giá cao việc HĐBA thông qua Nghị quyết 2532 với yêu cầu đình chiến ngay lập tức ở tất cả các khu vực trong chương trình nghị sự của HĐBA, góp phần hiện thực hóa Lời kêu gọi của Tổng Thư ký LHQ về ngừng bắn toàn cầu; nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác quốc tế và trách nhiệm chung trên cơ sở chủ nghĩa đa phương trong cuộc chiến chống COVID-19.

Các nước cũng kêu gọi cách tiếp cận có sự tham gia của toàn hệ thống, từ trụ sở LHQ đến các phái bộ trên thực địa, từ các tổ chức khu vực, tiểu khu vực cho đến khu vực tư nhân và các bên liên quan để có thể củng cố các tiến trình xây dựng và gìn giữ hòa bình trong bối cảnh đại dịch.

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã chia sẻ, những tác động sâu sắc của đại dịch COVID-19 đến mọi mặt đời sống nhất là ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi xung đột trên thế giới, đe doạ đến những tiến triển đạt được trong tiến trình xây dựng hòa bình và khiến tình hình nhân đạo tại các khu vực này trở nên tồi tệ hơn.

Phó Thủ tướng nhấn mạnh, để giải quyết cuộc khủng hoảng có hệ lụy đa chiều cần có những giải pháp toàn diện. Trong đó, ở cấp độ quốc gia, cần sự tham gia, vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị, củng cố thể chế, xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác, trong đó cần dành sự quan tâm, hỗ trợ đến các nhóm dễ bị tổn thương như người già, phụ nữ và trẻ em. Ở cấp độ toàn cầu, cần thúc đẩy các nỗ lực hợp tác đa phương.

Trên cơ sở đó, Việt Nam hoan nghênh việc HĐBA đã thông qua Nghị quyết 2532 về ứng phó với COVID-19 và Lời kêu gọi của Tổng Thư ký LHQ về ngừng bắn toàn cầu; dỡ bỏ các lệnh trừng phạt và tạo điều kiện hỗ trợ nhân đạo cho các quốc gia trong bối cảnh đại dịch.

Phó Thủ tướng đánh giá cao vai trò của các phái bộ gìn giữ hòa bình LHQ trong việc hỗ trợ các quốc gia, cho rằng sự tham gia và phối hợp đồng bộ của toàn hệ thống LHQ đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá cam kết xây dựng nền hòa bình và phát triển bền vững.

Chia sẻ kinh nghiệm của ASEAN, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định vai trò quan trọng của các tổ chức khu vực và cho biết trong cuộc chiến chống COVID-19, Indonesia và Việt Nam cùng các nước ASEAN khác đã huy động sức mạnh chung của Cộng đồng nhằm bảo vệ sức khỏe của tất cả người dân, vực dậy nền kinh tế và không để những tác động của đại dịch ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh khu vực.

Cho rằng “cuộc chiến chống COVID-19 là cuộc chiến không của riêng ai”, Phó Thủ tướng khẳng định cam kết của Việt Nam và kêu gọi tăng cường hợp tác và đoàn kết quốc tế để cùng nhau ứng phó thành công với đại dịch./.

 

Bài học về phát ngôn trên mạng xã hội


Mới đây, sau khi xem xét đơn khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã quyết định giữ nguyên hình thức kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Bùi Tiến Lợi, nguyên Thượng tá, Chủ nhiệm Bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, Trường Sĩ quan Công binh (Bộ Quốc phòng). Đây thực sự là bài học đối với cán bộ, đảng viên trong việc đưa thông tin, phát ngôn trên mạng xã hội. Theo UBKT Trung ương, trong quá trình công tác, ông Lợi đã có những bài viết, phát ngôn trên mạng xã hội trái với quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước. Những thông tin này đã tạo hoài nghi trong dư luận; gây ảnh hưởng đến nội bộ của đơn vị; xúc phạm tới danh dự, uy tín cá nhân của một số lãnh đạo. Nghiêm trọng hơn, trong trang phục quân nhân, ông Bùi Tiến Lợi còn đăng tải clip trên mạng xã hội với nội dung hoàn toàn sai trái: "Ai đó nói rằng, Biển Đông là của Việt Nam, Trường Sa là của Việt Nam thì đó là những tuyên truyền trái với luật pháp quốc tế, không đúng với Công ước về Luật Biển năm 1982". Những việc làm nói trên không chỉ là biểu hiện của sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", mà còn tạo cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước.

Sau khi bị xử lý kỷ luật với hình thức khai trừ đảng, ông Bùi Tiến Lợi đã có đơn khiếu nại về hình thức kỷ luật. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ vi phạm, UBKT Trung ương đã quyết định giữ nguyên hình thức kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Bùi Tiến Lợi. Điều này đã thể hiện rõ tính chất nghiêm minh của kỷ luật Đảng; đồng thời cho thấy tinh thần kiên quyết đấu tranh với những trường hợp vi phạm kỷ luật để làm trong sạch nội bộ Đảng.

Mang trên mình bộ quân phục của Quân đội nhân dân Việt Nam, được tạo điều kiện học tập cơ bản nhưng Bùi Tiến Lợi lại đưa ra các thông tin sai lệch về chủ quyền biển đảo của đất nước. Hành động này đã tạo dư luận không tốt, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với lực lượng quân đội. Hơn nữa, với tư cách là giảng viên được đào tạo cơ bản nhưng lại có những sai lầm rất đáng tiếc và nhận thức hết sức ấu trĩ… những tư tưởng, nhận thức sai lệch của Bùi Tiến Lợi lại càng có tính chất nghiêm trọng, không chỉ trái với tình hình thực tế, sai lệch với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mà còn vi phạm quy định về phát ngôn của Đảng. Đây là biểu hiện cụ thể của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII của Đảng đã chỉ rõ một số biểu hiện sai lệch mà đảng viên mắc phải là “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng”, “Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều...”. Những biểu hiện này nếu không được phát hiện, xử lý nghiêm túc sẽ để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng; làm cho sức mạnh của Đảng bị suy yếu từ bên trong; khiến cho uy tín, hình ảnh của Đảng bị giảm sút; tạo cơ hội cho các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc và tiến hành chống phá Đảng, Nhà nước.

Do đó, việc UBKT Trung ương quyết định giữ nguyên hình thức kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Bùi Tiến Lợi không chỉ thể hiện rõ tính chất nghiêm minh của kỷ luật Đảng; tinh thần kiên quyết đấu tranh với những trường hợp vi phạm kỷ luật để làm trong sạch nội bộ Đảng, mà còn là bài học sâu sắc đối với mỗi cán bộ, đảng viên trong việc đưa thông tin, phát ngôn trên mạng xã hội.

                                                                                        Chủ lực

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

LỜI BÁC DẠY NĂM XƯA


“Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người làm tướng trong quân đội trong buổi nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, họp tháng 8 năm 1948.

Bác đã luận giải tường minh từng phẩm chất của người làm tướng:

Trí, là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng.

Tín, là phải làm cho người ta tin mình. Thí dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn nghĩa tự tin vào sức mình nữa, nhưng không phải là tự mãn tự cao.

Dũng, là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh.

Nhân, là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cảm cộng khổ với họ. Đối với địch hàng, ta phải khoan dung.

Liêm, là chớ tham của, chớ tham sắc, tham sắc thì hay bị mỹ nhân kế, chớ tham danh vọng, tham sống.

Trung, là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.

Những yêu cầu trên xuất phát từ thực tế khách quan và hoàn toàn phù hợp với quy luật xây dựng và bản chất của quân đội kiểu mới - một quân đội của dân, do dân và vì dân. Thấu triệt lời Bác dạy, các thế hệ tướng lĩnh trong quân đội - những người đứng mũi, chịu sào, chịu trách nhiệm trong việc cụ thể hóa đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng luôn khắc ghi và phấn đấu, rèn luyện. Mỗi vị tướng trong quân đội luôn nhận thức sâu sắc bổn phận phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ trên cương vị công tác của mình; có tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; tiêu biểu mẫu mực về tinh thần tự học, tự rèn; mưu lược, biết địch, biết ta; biết phân tích thiên thời, địa lợi, nhân hòa; biết lấy ít thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông; biết phát huy sở trường, sở đoản của quân mình; hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù…

    Trong giai đoạn hiện nay, phẩm chất người sĩ quan cấp tướng trong Quân đội ta tiếp tục được tôi luyện và không ngừng tiến bộ; đội ngũ cán bộ, sĩ quan quân đội, nhất là các tướng lĩnh không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh trung nghĩa, thao lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thương yêu cấp dưới, chia sẻ, đồng cam, cộng khổ với bộ đội; quan tâm, giúp đỡ nhân dân, xứng đáng với lòng tin, tình cảm trân trọng của nhân dân với “Bộ đội Cụ Hồ”, với những vị tướng của nhân dân.

Chủ lực

Lưới trời lồng lộng và cái giá cho cán bộ không biết giữ mình

 

 

Việc ông Vũ Huy Hoàng bị khởi tố sau khi ông bị kỷ luật cách chức nguyên Bộ trưởng, nguyên Bí thư Ban cán sự Đảng Bộ Công thương, bị “phê phán nghiêm khắc” trước Quốc hội. Sau đó đến việc khởi tố bà cựu Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa cũng đã trả lời những thắc mắc của người dân về kiểu “hạ cánh an toàn” ở một số cán bộ. Ông Hoàng và bà Thoa cùng bị khởi tố về tội "Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí", do có những vi phạm liên quan đến vụ án tại Tổng công ty Bia, rượu, nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Ông Vũ Huy Hoàng là người tiếp nhận, bổ nhiệm con trai của mình - Vũ Quang Hải, làm kiểm soát viên Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam; tham gia HĐQT và giữ chức Phó tổng giám đốc Sabeco - một “con gà đẻ trứng vàng” với lợi nhuận gần 4.000 tỉ đồng (năm 2014), góp một tay vào việc chuyển đổi mục đích sử dụng trái phép mảnh đất vàng 6.000m2 của Sabeco trên đường Hai Bà Trưng, quận 1, TP.HCM...

Những việc làm đó của ông Hoàng được Ủy ban Kiểm tra TƯ kết luận là vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và luật Phòng, chống tham nhũng, gây bức xúc trong xã hội.

Ngoài ra, sự sốt sắng quá mức bình thường của ông cựu Bộ trưởng này khi biết rõ những sai phạm của Trịnh Xuân Thanh nhưng vẫn điều chuyển, bổ nhiệm vào một số vị trí lãnh đạo ở Bộ Công thương, qui hoạch Thứ trưởng… để có cớ luân chuyển Thanh về làm Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang.  Còn bà Thoa, điều người dân quan tâm không phải chiếc ghế Thứ trưởng, mà là chuyện bà đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thâu tóm công ty Điện quang, để rồi hầu như tất cả các thành viên trong gia đình bà, kể cả con gái mới lớn, cũng đã sở hữu phần lớn cổ phần của công ty này sau khi cổ phần hóa.

Thế nhưng, cuộc chiến chống tham nhũng được Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng phát động và trực tiếp chỉ đạo mấy năm nay với biết bao kỳ vọng của dân không cho phép ai thoát tội. Đừng nghĩ cứ hạ cánh là an toàn. Chống tham nhũng là không có ngoại lệ. Cơn sóng dữ lần này còn cuốn theo cả ông Trần Vĩnh Tuyến - Phó chủ tịch UBND TP.HCM và ông Trần Trọng Tuấn - Phó chánh văn phòng Thành ủy cùng một số cán bộ cấp sở ngành của thành phố này cũng vì những sai phạm liên quan đến mảnh đất vàng của Sabeco. Khởi tố ông Hoàng, bà Thoa, ông Tuyến và một số cán bộ đương chức ở TP.HCM vì hành vi "Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí" có thể chỉ là bước khởi đầu trong quá trình truy tận cùng những vi phạm. Bởi không thể ngẫu nhiên mà bao nhiêu cán bộ trưởng thành từ cơ sở, kinh qua nhiều chức vụ, được đào tạo bài bản, có học hàm học vị hẳn hoi lại “vô tư” đem đất vàng bán rẻ cho người khác.

Quyền lực nếu không được kiểm soát, sẽ dễ bị tha hóa. Cán bộ đảng viên nếu không biết tự tu dưỡng, tự răn mình trước qui định của Đảng, không biết sợ pháp luật, tự tung tự tác, xem của công là miếng bánh ngon dễ dàng xà xẻo, vun vén cho riêng mình thì dù có giỏi che đậy đến mấy, dưới con mắt giám sát của dân, của báo chí, sự đấu tranh quyết liệt của những cán bộ, đảng viên trung kiên, cái kim trong bọc, ắt sẽ lộ ra. Nhất là khi ước nguyện của nhân dân về một đảng cầm quyền trong sạch, một nhà nước vì dân được động viên, cổ vũ bởi những kết quả cụ thể, sống động của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng do Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trực tiếp chỉ đạo mấy năm qua.       

Cổ nhân nói: “Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt”. Cái giá phải trả hôm nay của những người như ông Hoàng, ông Tuyến, bà Thoa và rất nhiều cán bộ cao cấp khác bị xử lý kỷ luật, bị truy tố ra trước vành móng ngựa mấy năm qua là bài học nhãn tiền cho những ai tham nhũng, sai phạm nhưng còn ảo tưởng về chiếc ghế quyền lực mà mình đang ngồi. Nếu không biết giữ mình trước những cám dỗ tầm thường, thì cán bộ - dù ở vị trí nào, cũng dễ đánh mất mình, tự biến mình thành người bội ước với lời thề danh dự trước Đảng, trước dân.

Chủ lực

Xúc động bài viết tri ân lực lượng chống dịch tuyến đầu của nữ sinh Đà Lạt

 

Bạch Thị Tuyết Nga (lớp Giáo dục Tiểu học, khoa Sư Phạm, trường ĐH Đà Lạt) mới đây có bài viết cảm động về các lực lượng, bác sĩ áo trắng trong tuyến đầu chống dịch. Bài viết đoạt giải Nhất cuộc thi “Viết và thiết kế ấn phẩm truyền thông phòng, chống COVID-19” do Đoàn Thanh niên trường ĐH Đà Lạt tổ chức.

Gửi những người hùng của Tổ Quốc thân yêu!

Sinh ra và lớn lên trong thời bình, nơi mảnh đất cao nguyên bình dị, sống trong vòng tay ba mẹ suốt 19 năm như một lẽ hiển nhiên, sự đủ đầy cả về vật chất lẫn tinh thần làm con quên đi bao thứ đáng ra con phải suy nghĩ đến. Cho đến ngày hôm nay, khi mà cả đất nước gồng mình lên chống dịch, cơn đại dịch mà toàn cầu phải khiếp sợ, tỉ lệ người mắc bệnh ngày càng tăng lên đến mức chóng mặt, cả thế giới dường như rối ren không nút gỡ, cảnh người người lâm li tử biệt xuất hiện từ các trang báo đến các kênh truyền hình rồi phủ sóng tất cả các trang mạng xã hội. Sức tàn phá của đại dịch này quá lớn khiến không một ai trong chúng ta thôi ngừng nghĩ tới.

Hổ thẹn thay, khi bản thân đang ngủ trong chăn ấm nệm êm, ăn uống ngon lành, coi việc cách ly phòng, chống dịch như một kì nghỉ dưỡng dài hạn thì những người bạn, những người anh, người chị, bác sĩ, các lượng lượng bộ đội đang trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, co ro trong túp lều dựng vội nơi rừng sâu lạnh lẽo, ăn vội bữa cơm mùa dịch hay nấu vội nồi cháo dã chiến khuya, “ăn rừng, ngủ núi” để nhường chỗ cho những người con đất mẹ đang nơi đất khách quê người trở về quê hương tránh dịch.

Hổ thẹn thay, khi 19 tuổi mộng mơ, chỉ luẩn quẩn trong cái vòng thất tình bỏ ăn bỏ ngủ, ôm gối khóc lóc, bi lụy sầu não. Hổ thẹn thay khi cuộc sống của tuổi 19 hững hờ chỉ có “hôm nay ăn gì?”, “Shopee đang sale”, “không có gì để mặc!”… thì những người chiến sĩ dũng cảm ấy đã mang trên vai trọng trách nước nhà, tinh thần nhiệt huyết đầy trách nhiệm cùng khát vọng dập dịch đến tột cùng. Tuổi trẻ của các bạn ấy, các anh, các chị ấy có Đảng, có nhà nước, có nhân dân, có trong tim dải đất xinh tươi hình chữ S. Tuổi trẻ ấy có niềm tin và hi vọng vì nụ cười trên môi mỗi con người máu đỏ da vàng đất Việt với quyết tâm “Việt Nam quyết thắng đại dịch COVID-19”.

Có những giây phút mà bản thân như chết lặng vì những hy sinh quá đỗi lớn lao, những đánh đổi hết sức thầm lặng đôi khi cuộc sống khiến con đi nhanh hơn, khiến con vô tình bỏ qua những khoảng lặng. Lặng người, lưng tròng vì hình ảnh những em bé nhỏ đang sống cùng ông bà, ngây ngô gọi cho ba mẹ là những cô chú điều dưỡng, y tá, bác sĩ với câu hỏi thường trực: “Mẹ ơi, bao giờ mẹ về nhà?”. Một câu hỏi khó trả lời, ngậm ngùi đến xúc động bởi lẽ những “chiến sĩ áo trắng” không biết bao giờ mới được rời khỏi “chiến trường” sinh tử kia, cũng chẳng dám hứa vì sợ không thực hiện được, có phải đây là lúc yếu lòng nhất hay không? Phải có một tinh thần trách nhiệm, một tấm lòng quả cảm, một trái tim đầy trắc ẩn thì mới dũng cảm bước chân vào cánh cửa phòng bệnh nhân, phải đối mặt với nguy cơ lây nhiễm, nguy cơ mất mạng khi trực tiếp chăm sóc cho những ca dương tính. Đó có thể được coi là nghề nghiệp, là điều mà “chiến sĩ không súng” đã lựa chọn và theo đuổi, dẫu sao thì cũng không khó khăn bằng việc đối mặt với câu hỏi của con “Bao giờ mẹ về nhà?”.

Hình ảnh những cô y tá, những nữ bác sĩ cắt đi mái tóc của mình, những khuôn mặt biến dạng đi vì vết hằn được tạo bởi khẩu trang và đồ bảo hộ mang theo suốt cả ngày dài, hình ảnh những “chiến sĩ thầm lặng” nằm la liệt trên sàn nhà, góc khuất, vì áp lực về tinh thần lẫn vật chất… Câu chuyện về những y bác sĩ đã về hưu nhưng xin đi cống hiến sức mình chống dịch, câu chuyện về nỗi ám ảnh của chiếc máy thở báo động rúng mình, câu chuyện về giấc ngủ không ngon chưa đầy ba tiếng, câu chuyện về chấp nhận mặc bỉm và uống ít nước hơn để đi vệ sinh ít hơn, có thể dành thời gian hết cỡ cho bệnh nhân,… Bao nhiêu đó thôi đủ để thắt lòng ngẫm nghĩ, bao nhiêu tiếng cảm ơn mới lấp đầy sự hy sinh không toan tính đó!

Không biết bao nhiêu cung bậc cảm xúc đang diễn ra trong tâm can này nữa? Vui có, buồn có, tự hào có, kính trọng có, xúc động có, hổ thẹn có… bao nhiêu con chữ mới trải hết nỗi lòng đây? Có lẽ, phải dùng chính những con chữ khô khan này gửi đến những người hùng của Tổ quốc lời tri ân vụng về. Rồi sẽ đến ngày đất nước ăn mừng thắng lợi, rồi sẽ đến ngày câu hỏi “Bao giờ mẹ về nhà” có câu trả lời, rồi sẽ có ngày vết hằn trên khuôn mặt cao thượng kia sẽ chẳng còn… Con tin tưởng những “Chiến sĩ áo trắng, tay không cầm tấc sắt” kia chắc chắn sẽ chiến thắng đại dịch. Đồng bào luôn bên cạnh, Tổ quốc luôn vững tin…

Kiểm soát quyền lực là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ

 

Đặc điểm chính trị quan trọng nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) chân chính là quyền lực thật  sự và luôn luôn thuộc về nhân dân. Chỉ khi ấy mới có một nền chính trị thật sự tốt đẹp và bền vững.

Thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy: nhà nước của chủ nô, của vua và các tập đoàn phong kiến, nhà nước của quan lại tha hóa (như Liên Xô giai đoạn sau chẳng hạn) và nhà nước của tài phiệt (tư bản hoang dã thời kỳ đầu) cuối cùng đều phải ngã đổ và kết thúc. Chỉ có nhà nước của dân, thật sự của dân, thì mới bền vững lâu dài, vì dân là vạn đại.

Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ, phòng chống sự tha hóa của Nhà nước và xã hội, đồng thời là để thực hiện mục tiêu XHCN chân chính, để có được một nhà nước bền vững lâu dài phục vụ nhân dân.

Khi quyền lực không được kiểm soát thì mặt trái của nó chính là tác nhân quan trọng nhất làm tha hóa cán bộ, tha hóa những con người được trao quyền lực, rồi tha hóa cả bộ máy, làm cho bộ máy bị biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà dần dần thành nhà nước phản bội nhân dân.

Trong bất kỳ điều kiện nào, sự tha hóa quyền lực ở cán bộ và các cơ quan lãnh đạo quản lý, đều là nguyên nhân lớn nhất làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa suy đồi, dân tộc bị mất dần sức mạnh nội sinh, xã hội trì trệ và quốc gia không thể hưng thịnh, không có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu XHCN tốt đẹp mà nhiều người đã từng mong ước cũng trở nên xa vời và mơ hồ.

Lịch sử nước ta đã từng có nhiều lần do tha hóa quyền lực mà dẫn đến mất nước. Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bị sụp đổ vì tha hóa quyền lực. Triều đại sau được dân chúng ủng hộ lên thay, rồi cũng tha hóa tương tự, lặp lại như cũ. Ngay cả những triều đại đã một thời rất huy hoàng, có công lao to lớn bậc nhất với lịch sử dân tộc nhưng sau đó cũng tha hóa và sụp đổ (như nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê và Tây Sơn chẳng hạn).

Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm” chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước. 

Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).

Điều đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất là chưa làm tốt việc kiểm soát quyền lực, nói thẳng và mạnh hơn là quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý./.