Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Suy thoái đạo đức

 

Tổng Bí thư: Suy thoái đạo đức, lối sống có mặt còn phức tạp, tinh vi hơn

Thứ hai, 04/10/2021 - 11:32
Dân trí

 Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống có mặt còn phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.

Nhìn thẳng vào sự thật, khách quan, công tâm, không né tránh

Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII sáng nay, 4/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh những nội dung trình Hội nghị lần này là những vấn đề rất quan trọng, trong bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp, biến động bất thường.

 Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4 (Ảnh: Nhật Bắc).

Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; và tầm nhìn đến năm 2045. 

Theo Tổng Bí thư, đợt bùng phát dịch lần thứ tư từ cuối tháng tư đến nay, với biến chủng mới Delta, lây lan rất nhanh, hết sức nguy hiểm, khó kiểm soát đã ảnh hưởng lớn, hết sức tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt là đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn đồng bào, trong đó có cả cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, các y, bác sĩ, nhân viên y tế và cán bộ cơ sở nơi tuyến đầu chống dịch.

Vì vậy, cùng với Tờ trình tổng hợp chung, Ban cán sự đảng Chính phủ đã nghiên cứu, xây dựng các báo cáo về tình hình phòng, chống đại dịch Covid-19; quan điểm, chủ trương và giải pháp về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; cũng như việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương. 

Nêu rõ các báo cáo này có quan hệ hữu cơ, mật thiết với nhau, Tổng Bí thư đề nghị Hội nghị dành thời gian nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đã gửi, căn cứ vào thực tế tình hình ở các ngành, lĩnh vực, địa phương mình để thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2021, nhất là dự báo về tình hình đại dịch Covid-19 trong thời gian tới.

Trong đó, chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, khó khăn, thách thức mới đang đặt ra, hạn chế, yếu kém cần khắc phục; phân tích làm rõ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. 

Đồng thời đối chiếu, phân tích khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiến cho năm 2021, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ sớm kiểm soát được dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế…

Trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra; nắm bắt thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, xác định rõ quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới; các định hướng, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho năm 2022, bảo đảm sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước hằng năm, gắn với việc phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương.

Tổng Bí thư nêu rõ tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, thực sự khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan nhưng cũng không tô hồng" để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ nay đến cuối năm 2021 và trong cả năm 2022.

 nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII khai mạc tại Hà Nội sáng nay, 4/10 (Ảnh: Nhật Bắc).

Rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên

Về nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đây luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ.

"Không phải ngẫu nhiên mà Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này. Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương đã bàn và ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả", Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Theo Tổng Bí thư, thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII và các quyết định, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong thời gian qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. 

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ".

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Tổng Bí thư đề nghị các đại biểu đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ, chỉ ra đúng căn nguyên, đề ra các biện pháp chữa trị hữu hiệu. Cho ý kiến cụ thể đối với việc Đề án kiến nghị tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; đồng thời tập trung ưu tiên thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Về việc sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, Tổng Bí thư cho biết, thực tế gần 10 năm qua cho thấy, các quy định về vấn đề này là rất cần thiết; những nội dung của Quy định đến nay cơ bản vẫn còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu quản lý, giáo dục và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

"Tuy nhiên, trước yêu cầu mới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm một số nội dung quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn ngừa và khắc phục một cách mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng. Ngoài ra, có một số điều qua thực tiễn thấy chưa đủ rõ, có nội dung khó áp dụng, gây khó khăn khi phải xem xét vi phạm của đảng viên…", Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Tổng Bí thư đề nghị các Ủy viên Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cụ thể, thiết thực, có tính khả thi, sửa trực tiếp vào dự thảo Quy định, tạo sự thống nhất cao trong Trung ương để ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm.

Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến về các nội dung: tình hình phòng, chống đại dịch Covid-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022-2024.

Hội nghị sẽ xem xét, thảo luận, cho ý kiến chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ…

Sưu tầm 


“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945.
Đây là thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Hội nghị Trung ương bốn khóa XIII: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

 

Hội nghị Trung ương bốn khóa XIII: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Hội nghị Trung ương lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, biểu hiện 'tự diễn biến, tự chuyển hóa.'

Sáng 4/10, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc hội nghị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc điều hành phiên khai mạc. Hội nghị đã dành một phút tưởng niệm đồng bào tử vong, cán bộ, chiến sỹ hy sinh trong đại dịch COVID-19.

Tại hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương tập trung thảo luận, cho ý kiến về: Tình hình phòng, chống đại dịch COVID-19 và quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế-xã hội năm 2021, dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2022-2024; chủ trương lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến,""tự chuyển hóa" trong nội bộ; sửa đổi, bổ sung Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm và một số vấn đề quan trọng khác.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu khai mạc hội nghị, nêu một số vấn đề liên quan đến các nội dung và nhiệm vụ của hội nghị, có tính chất gợi mở để Trung ương quan tâm trong quá trình nghiên cứu, thảo luận, xem xét, quyết định.

Sớm kiểm soát dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ việc Ban Chấp hành Trung ương xem xét, cho ý kiến chỉ đạo, hoàn thiện các nội dung liên quan đến quan điểm, chủ trương phòng, chống dịch COVID-19, phát triển kinh tế-xã hội, tài chính-ngân sách nhà nước, thời điểm thực hiện chính sách cải cách tiền lương năm nay có ý nghĩa quan trọng đặc biệt do bối cảnh, tình hình diễn biến phức tạp, biến động bất thường; bên cạnh thời cơ, thuận lợi, cũng đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, gay gắt và nặng nề hơn so với dự báo.

Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2021-2025; Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2045.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các Ủy viên Trung ương dành thời gian nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đã gửi và căn cứ vào thực tế tình hình ở các ngành, lĩnh vực, địa phương mình để thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế-xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2021, nhất là dự báo về tình hình đại dịch COVID-19 trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới. Chú ý tổng kết, đánh giá sự cần thiết, đúng đắn, hiệu lực, hiệu quả, cũng như những hạn chế, bất cập trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp mới để xử lý các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình vừa phòng, chống dịch bệnh, khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra, vừa duy trì, phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian qua.

Tổng Bí thư lưu ý cần chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục; phân tích làm rõ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan. Đối chiếu, phân tích khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiến cho năm 2021, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ sớm kiểm soát được dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp duy trì, phục hồi, phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển đất nước trong tình hình mới.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra, nhất là tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian tới; nắm bắt thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, cần xác định rõ quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội trong tình hình mới; mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất; các định hướng, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho năm 2022, bảo đảm sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính-ngân sách nhà nước hằng năm, gắn với việc phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương theo tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực sự khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan nhưng cũng không tô hồng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ nay đến cuối năm 2021 và trong cả năm 2022.

Giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng

Tổng Bí thư nhấn mạnh sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này.

Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến,""tự chuyển hóa" trong nội bộ."

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương cho ý kiến về sự cần thiết, đúng đắn của việc ban hành Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với tên gọi, chủ đề và phạm vi mới của dự thảo Kết luận. Chỉ rõ có gì cần bổ sung, điều chỉnh; nên chăng phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị theo đúng tinh thần Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực... Từ đó, đánh giá đúng tình hình và nguyên nhân; xác định rõ mục tiêu, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những chủ trương, biện pháp phù hợp đối với từng nội dung, vấn đề, nhất là những giải pháp có tính đột phá trong nhiệm kỳ này.

“Trên cơ sở kế thừa các nghị quyết của Trung ương trước đây, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và XII, đề nghị các đồng chí nghiên cứu, bổ sung, làm rõ hơn nữa yêu cầu phòng, chống không chỉ tham nhũng mà còn cả đối với tiêu cực; những biểu hiện tiêu cực là thế nào? Mức độ đến đâu? Nguyên nhân là gì? Tác hại ra sao?,"Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, đi sâu phân tích, mổ xẻ, làm rõ, chỉ ra đúng căn nguyên, đề ra các biện pháp chữa trị hữu hiệu. Cho ý kiến cụ thể đối với việc Đề án kiến nghị tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao nhất Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; đồng thời tập trung ưu tiên thực hiện các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tư tưởng chính trị, tự phê bình và phê bình; về tập trung hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách; về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; về phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng.

“Những nhóm giải pháp nêu trên đã chính xác, đủ mạnh và khả thi để làm chuyển biến tình hình chưa? Cần bổ sung thêm giải pháp nào, nội dung từng nhóm giải pháp cần lưu ý thêm vấn đề gì? Những giải pháp nào chúng ta có thể tổ chức thực hiện ngay; những giải pháp nào cần có thêm quy định, hướng dẫn và cách thức tổ chức thực hiện thế nào?," Tổng Bí thư gợi mở.

Về việc sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh các Ủy viên Trung ương và các đại biểu tham dự Hội nghị đóng góp ý kiến cụ thể, thiết thực, có tính khả thi, sửa trực tiếp vào dự thảo Quy định, tạo sự thống nhất cao trong Trung ương để ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, đáp ứng yêu cầu chính xác, đầy đủ, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, góp phần điều chỉnh nhận thức và hành vi của đảng viên theo hướng tích cực, đúng đắn, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, rõ nét hơn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới.

Những nội dung trình Hội nghị Trung ương lần này là những vấn đề rất quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, bao gồm cả việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế-xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các Ủy viên Trung ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, nghiên cứu, thảo luận sôi nổi, đóng góp ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án, dự thảo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.

 

Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc phản đối tàu cá hoạt động bất hợp pháp

 

Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc phản đối tàu cá hoạt động bất hợp pháp

Lần thứ hai trong năm nay, Malaysia đã triệu đại sứ Trung Quốc tại nước này để phản đối các hoạt động của tàu cá của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Trong tuyên bố đưa ra vào cuối ngày 4/10, Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết Đại sứ Trung Quốc Ouyang Yujing đã được triệu tập “để truyền đạt quan điểm của Malaysia và phản đối sự hiện diện, hoạt động của các tàu Trung Quốc, có cả tàu khảo sát, trong khu vực đặc quyền kinh tế của Malaysia ở khu vực ngoài khơi cách bờ biển Sabah và Sarawak”.

“Sự hiện diện và hoạt động của các tàu này không phù hợp với Đạo luật về Vùng đặc quyền Kinh tế năm 1984 của Malaysia, cũng như Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)”, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết.

 “Lập trường và hành động nhất quán của Malaysia dựa trên luật pháp quốc tế, để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền trong vùng biển của chúng tôi. Malaysia cũng đã phản đối việc các tàu nước ngoài khác xâm phạm vùng biển của chúng tôi trước đây”, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết thêm.

Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia hôm 4/10 cũng nhấn mạnh: “Malaysia cho rằng, tất cả các vấn đề liên quan đến Biển Đông phải được giải quyết một cách hòa bình và xây dựng, phù hợp với các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm cả Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS)”.

Động thái này diễn ra một ngày sau khi Thủ tướng Malaysia Ismail Sabri Yaakob  - người nhậm chức vào tháng 8, cho biết trong một cuộc phỏng vấn rằng chính phủ sẽ không "thỏa hiệp về chủ quyền" liên quan đến tranh chấp biển.

Các quan chức Malaysia từ lâu đã phàn nàn về việc các tàu tuần duyên Trung Quốc xuất hiện quanh Bãi cạn Luconia phía Nam ngoài khơi Sarawak.

Đây là lần thứ hai Malaysia triệu đại sứ Trung Quốc để phản đối trong năm nay. Hồi tháng 6, nước này đã triệu đại sứ Ouyang Yujing sau khi 16 máy bay vận tải của Trung Quốc bay gần không phận Malaysia mà không thông báo trước.

 

Quyền con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, là bản chất của chế độ XHCN

 


Các quan điểm tư sản đều cho rằng, quyền con người là giá trị lớn nhất, bao trùm nhất mà nhân loại phát hiện được; thậm trí còn nhấn mạnh đó là mục tiêu duy nhất, cuối cùng của con người.

Từ hoạt động lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng gian khổ, Đảng ta đã đi đến kết luận: Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của CNXH, từ bản chất của chế độ ta”; “giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và cNXH thì quyền con người mới được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”

Lịch sử đã chứng minh, quyền con người là nội dung cơ bản của mọi xã hội, mọi thời đại. Ngày nay, quyền con người được xác định là mục tiêu hướng tới của mọi nhà nước. Nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, hay tập quyền, nhà nước đơn nhất hay liên bang, nhà nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa cũng đều long trọng ghi nhận, bảo vệ quyền con người thông qua hiến pháp, pháp luật và trong thực tế cuộc sống. Thực tiễn đã chứng minh, khi quyền con người được tôn trọng và bảo vệ sẽ kích thích sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tạo xung lực cho ổn định và sự phát triển toàn diện các nhân, cộng đồng cũng như của cả xã hội.

Lịch sử cũng cho thấy, quyền con người là giá trị lớn của nhân loại, nhưng đó chỉ là một trong những giá trị mà nhân loại đã giành được từ cuộc đấu tranh chống lại mọi áp bức dân tộc, giai cấp. Mặc dù quyền con người đã tạo ra bước tiến lớn lao và đó là động lực thúc đẩy mọi quá trình phát triển, nhưng quyền con người mới tạo lập được sự bình đẳng về mặt xã hội- tức giúp tất cả mọi người được bình đẳng vè mặt sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân phối của cải xã hội. Chế độ XHCN mà nhiều quốc gia đang hướng tới là xã hội luôn ý thức rõ việc nhận diện đầy đủ những biểu hiện và nguồn gốc của bất công và tìm phương thức, biện pháp xóa bỏ những bất công ấy. Đó là một trong những cách thức để tạo ra môi trường, điều kiện cho việc hiện thực hóa đầy đủ các quyền con người.

Cuộc đấu tranh giành độc lập của các quốc gia – dân tộc đã khẳng định rõ, không giành được quyền tự quyết dân tộc, không thể có quyền con người. Thực tiễn ở nhiều quốc gia cũng chứng minh, độc lập dân tộc cần gắn liền với việc lựa chọn con đường XHCN. Chỉ trong chế độ XHCN- một xã hội chủ trương xóa bỏ trên thực tế mọi mất bình đẳng về lợi ích – thì quyền con người mới có điều kiện thực hiện đầy đủ, trọn vẹn.

Kiên trì trong nhận thức và nhất quán trong hành động Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đã được nhấn mạnh nguyên tắc trong Hiến pháp năm 2023, rằng:”..” trên ý nghĩa đó quyền con người thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội, của Nhà nước pháp quyenfXHCN, đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo dòng chảy chung của nhân loại là hướng tới tự do, bình đẳng, hạnh phúc và thịnh vượng cho tất cả mọi người.

Quan điểm này cũng nhằm khẳng định lại mục tiêu mà những người cộng sản theo đuổi là xóa bỏ nguồn gốc sâu xa nhất của mọi vi phạm quyền con người- đó là ách áp bức dân tộc, áp bức giai cấp được sinh ra bởi chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Đồng thời xác định rõ, việc bảo đảm tối đa quyền con người thuộc về bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu hướng tới của các nhà nước do những người cộng sản lãnh đạo.

Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia

 


Đảng ta cho rằng: “Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế văn hóa của đất nước. Do vậy không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”

Các nước Phương Tây luôn nhấn mạnh tính phổ quát của quyenf con người, một mặt nhằm áp đặt chuẩn mực chung cho mọi quốc gia, bất chấp trình độ phát trieẻn kinh tế như thế nào; mặt khác tự cho phép bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của quốc gia khác.

Quyền con người được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia. Chính nét đặc sắc trong việc bảo đảm quyền con người của mỗi quốc gia lại làm phong phú thêm giá trị chung của quyền con người. Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển “không đều” veè mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà luôn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi nước. Đặc điểm này được thể hiện rõ trong hệ thống luật về quyền con người; chẳng hạn việc cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước nào đó, thể hiện việc thừa nhận sự “chưa ngang bằng” giữa các quốc gia. Chính cộng đồng quốc tế cùng thừa nhận thực tế này trong tuyên bố Viên và chương trình hành động: “Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ tất cả các quyền con người và các tự do cơ bản”

Quyền con người là giá trị phổ biến nhưng đối với các nước đang phát triển, thực hiện đầy đủ các chuẩn mực quyền con người là quá trình lâu dài. Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu trong việc cân bằng giữa ổn định xã hội với đảm bảo đầy đủ quyền con người, có quyền xay dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người, Đương nhiên không được tuyệt đói hóa tính đặc thù, vin vào những khó khăn nhất thời để trì hoãn việc thực hiện các cam kết, mà cần phải hướng tới sự phát triển tiến bộ, văn minh và tôn trọng nhân phảm cho tất cả mọi người.

Việc khẳng định tính phụ thuộc của quyền con người tạo cơ sở lý luận bác bỏ mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người; đồng thời đòi hỏi phải chủ động, sáng tạo trong việc bảo đảm các quyền con người phù hợp với thực tiễn mỗi quốc gia.

Quyền con người gắn với độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia

 


Đảng ta cho rằng “Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia”. Thực tiễn lịch sử Việt Nam và nhiều nước từng trải qua quá trình đấu tranh giành độc lập đã cho thấy, đát nước bị nô lệ thì người dân không thể có tự do, các quyền con người sẽ bị chà đạp nghiêm trọng. Vì vậy các dân tộc bị áp bức sẵn sang chấp nhận mọi hy sinh để giành và giữ nền độc lập. Quyền dân tộc tự quyết dã trở thành một bộ phận không thể thiếu của quyền con người, được ghi nhận ở điều đầu tiên của hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966. Có thể nói, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền con người; không có độc lập dan tộc, chủ quyền quốc gia, không thể nói đến các quyền con người.

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Mặt khác, chính hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh” “Không quốc gia nào, kẻ cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia”

Ngày nay quyền con người đã được quốc tế hóa về nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia. Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ – không có bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhạn thức rõ rang, đầy đủ. Độc lập dan tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người, nhưng điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là nhà nước phải sử dụng các điều kiện này để đem lại cuộc sống hạnh phúc cho mọi thành viên của quốc gia. Điều này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa quyền dân tộc tự quyết với quyền con người và trở thành định hướng chính trị quan trọng trong mọi hoạt động bảo vệ quyền con người của Nhà nước Việt Nam.

Nhận thức đầy đủ quan điểm này giúp khắc phục được nhũng nhận thức cực đoan, khước từ việc tiếp nhận, chia sẻ những kinh nghiệm tốt trong việc bảo đảm quyền con người.

Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc

 


Từ thực tiễn Việt nam và thé giới, Chỉ thị Số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta chỉ rõ: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc”

Quyền con người xét về bản chất là đặc quyền vốn có của con người. Đó là quyền tự nhiên, gắn với con người và chỉ có con người. Nói cách khác, đay là dấu hiệu đặc trưng phân biệt con người với các loài vật khác. Các quyền này biểu hiện dưới dạng những nhu cầu, do chính phẩm giá con người quy định. Nhưng để trở thành quyền, những nhu cầu ấy cần phải được pháp luật ghi nhạn và bảo vệ.

Pháp luật luôn bị chi phối bởi các chế độ chính trị cụ thể. Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền lợi các giai cấp luôn xung đột nhau. Vì thế chính sách pháp luật trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Khi pháp luật thừa nhận quyền của giai cấp thống trị đồng thời hnj chế quyền của giai cấp bị trị, không thể có quyền ngang nhau cho mọi giai cấp.

Trong phạm vi quốc gia, quan điểm giai cấp thể hiện ở các chính sách bảo vệ hệ thống chính trị, chế độ xã hội hiện hữu, bảo vệ lợi ích của giai cấp càm quyền, của các giai cấp, tầng lớp xã hội đã từng đáu tranh bảo vệ xã hội đó. Mặt khác để duy trì sự thống trị, bất cư nhà nước nào cũng buộc phải thừa nhận một số quyền cơ bản của gia cấp đối kháng. Nhờ đó quyền con người vẫn có bước phát triển nhát định trong xã hội có đối kháng giai cấp sau sắc.

Trên phạm vi quốc teestinhs giai cấp của khía niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng tiến bộ vơi các lực lượng phản động, phản tiến bộ, từ việc xây dựng các văn kiện quyền con người đén việc thực thi quyền con người. Trong thế kỷ XX, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh về ý thức hệ giữa hệ thống tư bản chủ nghĩa với hệ thống XHCN. Ngày nay cuộc đấu tranh này biểu hiện dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ thông qua các cuộc “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”… của các thế lực phản động với cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, chống bạo loạn lật đổ của các nước đi theo con đường XHCN và độc lập dân tộc.

Như vậy cũng như pháp luạt, các quy định về quyền con người gắn liền với mỗi nhà nước cụ thể, thuộc thượng tầng kiến trúc và luôn bị quyết định bởi cơ sở kinh tế, xã hội. Quyền con người về bản chất không có tính gia cấp, nhưng trong xã hội có gia cấp đối kháng, khái niệm quyền con người được hiểu theo góc nhìn hay “lăng kính” hệ tư tưởng của mỗi giai cấp cụ thể. Chỉ thị số 41/CT-ttg ngày 2/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về”tăng cường công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền trong tình hình mới” đã chỉ rõ “Các thế lực phản động thù nghịch thực chất không quan tâm tới quyền dân chủ của nhân dân ta mà chỉ lợi dụng vấn đề dan chủ, nhân quyền để can thiệp công việc nội bộ chống phá đất nước ta, do đó cuộc đấu tranh trên vấn đề nhân quyền là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc sẽ diễn ra liên tục lâu dài và quyết liệt”

Tuy nhiên trong khi nhận rõ tính chat giai cấp của khái niệm quyền con người, cũng cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp trong giải quyết các vấn đề cụ thể về quyền con người. Vì điều này dễ dãn tới cực đoan, làm cản trở sự hợp tác, tăng đối đầu trên lĩnh vực quyền con người.

Trong xã hội Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động gắn lienf với quyền lợi của đất nước, dân tộc; tính giai cấp của khía niệm quyền con người thống nhất với tính nhân loại, tính phổ biến của quyền con người. Nói một cách cụ thể, trong xã hội Việt Nam. Quyền con người của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo đảm, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo.

Quyền con người là giá trị chung của nhân loại

 


Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Nhưng quyền con người có nội hàm phong phú như ngày nay là thành quả chung của cả nhân loại trong việc trinh phục tự nhiên và giải phóng con người khỏi mọi sự tha hóa, khôi phục bản thể vốn có của con người. Thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, nhưng tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa.

Lịch sử dã chứng minh, những tư tưởng vè quyền con người cũng nhu những quy định trong pháp luật và két quả đạt dược về quyền con ngươi la thành quả dấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển của lịch sử. Mõi bước tiến của lịch sử nhan loại đều dánh dấu nác thang mới trong nhận thức và việc hiện thực hóa các quyền con người. Quyền con người vừa là sản phẩm cuarvawn minh nhân loại, vừa là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người chóng lại áp bức, bất công, làm chủ thiên nhiên và tự hoàn thiện chính mình…

Thực tiễn nói trên là cơ sở dể Đảng khẳng dịnh: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua cá thời đai của nhân dân lao dộng và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó quyền con người trở thành giá trị chug của nhân loại”

Quá trình toàn cầu hóa đang tác động mạnh dên lĩnh vực quyền con người và đang có xu hướng “toàn cầu hóa’ về quyền con người. Ngày nay những nguyên tắc và quyy định của Luật quốc tế về quyền con người được coi là mục tiêu phấn đáu củ nhiều quốc gia. Ơ hầu hết các nước, nội dung các công ước quyền con người đã được luật hóa và từng bước tổ chức thực hiện trên thực tế. Là giá trị chung nên tất cả các quốc gia, dân tộc – không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa – đều có quyền thu hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, pht triên giá trị xã hội cao quý này.

Quan diểm “quyền con người là giá trị chung của nhân loại” có ý nghĩa quan trọng, chỉ rõ nguồn gốc của quyền con người, giúp chúng ta có cơ sở bác bỏ các quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trj riêng của phương Tây. Quan diểm này còn góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan: Quoay lung, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mo hình của nước này cho nước khác.

Từ quan điểm này Đảng ta chủ chương: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt dẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người (…). Chóng tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tôc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên CNXH “chú trọng nghiên cứu những vấn dề về thời dại, về chủ nghĩa tư bản hiện dại, về nhữn biến dỏi trog ác quan hệ quốc tế, về trật tự thế giới mới, dự báo xu hướng phát triển của thế giới và của khu vực trong những thập kỷ tới”

Những năm qua, Nhà nươc Việt Nam dã chủ động tham gia vào các diễn đàn và hoạt động quyền con ngườ khu vực cũng như toàn cầu. Đảng luôn khẳng dịnh, việc bảo đảm quyền con người là một mục tiêu, đọng lực của ach mạng, là trách nhiệm lớn của Dảng và Nhà nước.

Ngày 4/10: Có 5.383 ca mắc mới COVID-19, riêng TP HCM là 2.490 ca

 Bản tin dịch COVID-19 ngày 4/10 của Bộ Y tế cho biết có 5.383 ca mắc mới COVID-19 tại 37 tỉnh, thành phố, riêng TP HCM vẫn nhiều nhất với 2.490 ca; Trong ngày có 27.683 bệnh nhân khỏi.

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Công tác kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.