Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội

 


Kinh tế là nhân tố quan trọng để đảm bảo quyền con người. Nền tảng kinh tế thấp kém, mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng xã hội cũng như mỗi quốc gia không thể thực hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn các quyền con người. Vì thế mọi quốc gia đều tập trung phát triển kinh tế, thu hút mọi nguồn lực, tạo nhiều việc làm để không ngừng nâng cao sự thụ hưởng các quyền con người; đặc biệt là thực hiện quyền an sinh xã hội của các nhóm “dễ bị tổn thương”

Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên phát triển kinh tế, tuy nhiên thời kỳ trước đổi mới, do quan niệm giáo điều, duy ý chí, chính sách của Nhà nước đã cản trở sự phát triển của mỗi cá nhân và khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời hạn chế sự phát triển của chính kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng , Nhà nước đã chủ trương từng bước xây dựng và thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhằm tăng nhanh tiềm lực vật chất cho việc bảo đảm quyền con người. Theo đó Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý để mọi chủ thể trong xã hội có thể yen tâm đầu tư phát triển sản xuất trong nước và ở nước ngoài. Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII đã ghi nhạn khu vực kinh tế tư nhân là một động lực của nền kinh tế đất nước. Việc thừa nhân kinh tế tư nhân đã góp phần thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế đất nước phát triển trong suốt thời gian qua. Nhà nước cũng luôn có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các khu vực miền núi, vùng sâu. Vùng xa, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng trong cả nước.

Cùng với thúc đẩy phát triển kinh tế, Nhà nước luôn chủ trương thực hiện công bằng xaxhooij ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, nhằm đảm bảo cuộc sống và cơ hội phát triển cho mọi thành viên xã hội. Đảng nhấn mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế là nhằm “nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân” (Đại hội XI) nhưng điều không kém phần quan trọng là “ Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội” (Tài liệu tổng kết Chỉ thị 12)

Theo phương hướng đó Chỉ thị số 44CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về “Công tác nhân quyền trong tình hình mới”, đã chỉ rõ: “ Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần  của người dân, đảm bảo an sinh xã hội và các quyền của công dân, chú trọng các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người. Thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc, đất đai, lao động, an sinh xã hội, chính sách đối với nhóm người dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường”

Sự nghiệp phát triển khoa học, giáo dục luôn được quan tâm và được coi là quốc sách hàng đầu. Thúc đẩy khoa học giáo dục phát triển vừa tạo sự phát triển bền vững của đất nước, vừa tạo cơ hội để người dan có thể tự do phát triển năng lực cá nhân. Trên cơ sở xác định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nhà nước chủ trương xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm không ngừng nâng cao sự hưởng thụ văn hóa cho mọi người dân trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của văn minh nhân loại và hội nhập quốc tế, đồng thời bảo tồn được những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam - những nội hàm cơ bản của quyền văn hóa. Sự phát triển kinh té, văn hóa, xã hội những ăm qua đã góp phần nâng cao việc thụ hưởng các quyền con người của mọi người dân Việt Nam

Quyền được hưởng thành quả của sự phát triển đất nước; cũng như được phân phối công bằng của cải xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hóa giải những bất công và xu7ng đột xã hội, tạo lập sự ổn định xã hội và phát triển bền vững đất nước. Chủ trương hoạt động đang thực hiện ở Viêệt Nam khá tương đồng với nhận thức mới của cộng đồng quốc tế được thực hiện trong chương trình phát triển bền vững 2030 (Được Hội đồng thượng đỉnh Liên hợp quốc thông qua tháng 9/2015 theo phương hướng “không để ai bị bỏ lại phía sau”

Trên nguyên tắc bảo đảm tính khoa học và thực tiễn; kế thừa và bổ sung phù hợp với những thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, đồng thời nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của các nước và những chuẩn mực phát triển chung của thế giới, Đảng ta xác định các mục tiêu cụ thể không chỉ trong nhiệm kỳ khóa XIII mà hướng tới những mốc phát triển quan trọng của đất nước trong những thập niên sắp tới:

+ Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập trung bình thấp

+ Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghieẹp hiện đại, thu nhập trung bình cao

+ Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Quyền của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân

 


Từ khi có Luật quốc tế về quyền con người ra đời, vấn đề quyền và nghĩa vụ cũng đồng thời đặt ra. Nguyên tắc này được chia sẻ rộng rãi ở mọi quốc gia và cơ chế quyền con người khu vực. tuy nhiên những người cổ vũ cho thuyết “quyền con người phổ biến”, “quyền con người tuyệt đối”… bác bỏ nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân khi thực hiện quyền con người. Ngay cả hiện nay vẫn có học giả phương Tây cho rằng: “quyền con người không kèm nghĩa vụ”. Theo quan điểm này khi nói quyền con người thì chỉ để cập trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà nước, chứ không nói đến trách nhiệm của cá nhân. Do đó nhà nước phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện quyền con người chứ không phải “ban phát” quyền con người; các nhân có quyền được đấu tranh để nhà nước phải tôn trọng, thực hiện các quyền con người…Quan điểm này đã có tác động vào Việt Nam, dẫn đến những nhận thức mơ hồ vè trách nhiệm cá nhân khi hưởng thụ quyền.

Bàn về vấn đề này CMác viết “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi” Trên thực tế, ở bất cứ quốc gia nào, người dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật, không chỉ trên tư cách công dân mà còn cả tư cách con người đối với xã hội mà mình đang sống. UDDHR cũng ghi nhận: “ Mỗi người đềucó những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ” (Điều 29). Lời nói đầu 2 công ước quyền con người quan trọng nhất (năm 1966) cũng đều nhấn mạnh, “mỗi cá nhân trong khi được hưởng các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng”. Việc Luật quốc tế về quyền con người hạn chế một số quyền con người cũng với một ý nghĩa như vậy. Văn kiện quyền con người ở hầu hết các khu vực đều nhấn mạnh nghĩa vụ trong khi thực thi các quyền con người…

Thực tế nói trên là cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng khẳng định “Quyền dân chủ tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, pháp luật”

Quan điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó chỉ ra được cách thức giải quyết một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của vấn đề quyền con người, khắc phục được cách hiểu phiến dienj, cực đoan của vấn đề quyền con người.

Hệ thống các quan điểm, cách tiếp cận nói trên của Đảng nhìn chung tương đồng, được chia sẻ rộng rãi và có giá trị định hướng cho mọi hoạt động của nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ, đấu tranh trên lĩnh vực quyền conb người trong thời kỳ mới – thời kỳ đất nước hội nhập sâu vào các lĩnh vực của sinh hoạt quốc tế và khu vực, trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Quán triệt đầy đủ các quan điểm nói trên chắc chắn sẽ tạo ra bước phát triển vững chắc trên lĩnh vực quan trọng này, khpong chỉ đảm bảo giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quyền con người hiện nay mà điều quan trọng nhất là đem lại tự do, hạnh phúc cho tất cả mọi người dân Việt Nam - một nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng và cũng là mục tiêu chủ yếu của Đảng và Nhà nước Việt nam.

 

 

Quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật

 


Thực tiễn Việt Nam và thế giới cho thấy, đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện. Mọi nhu cầu hay yêu sách về quyền nếu không được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thì không thể có bất cứ một quyền con người nào.

C.Mác luôn đề cao vai trò của pháp luật, coi pháp luật “là kinh thánh tự do của nhân dân”. Trường phái pháp luật thực định cũng luôn khẳng định: “con người về bản chất đã có những đặc quyền nghĩa là những khả năng làm hoặc hành động một cách có ý thức, tránh hoặc hoặc từ chối, đòi hỏi, giành láy và nhất là tự bảo vệ. Tự do bản thân chúng, các đặc quyền (prerogatiuves) đấy không phải là quyền. Để đạt tới tư cách đó, các đặc quyền phải là đối tượng một quy ché đặc thù: quy ché pháp lý. Điều kiện cần và đủ là quy tắc phải đụng chạm đến chúng theo một cách nào đó, bằng cách chấp nhận, hạn chế, tổ chức, điều chỉnh, bắt buộc hoặc ngăn cấm. Không có luật pháp thì không có quyền (point de droit sans droit) và không có quyền nào mà không phải là một đặc quyền nhưng không nhát thiết là ngược lại” quyền con người khi được pháp luật và xã hội ghi nhận trở thành ý chí của toàn dân , buộc cả xã hội phải phục tùng và nhà nước phải hết sức bảo vệ.

Trên phạm vi toàn cầu, khi Liên hợp quốc ra đời, quyền con người được ghi nhận và bảo vệ bởi hệ thống Luật quốc tế về quyền con người. Các văn kiện quyền con người luôn nhấn mạnh: “quyền con người phải được bảo vệ bằng  luật pháp”, theo các nguyên tắc pháp quyền, chế độ pháp quyền.

Trong phạm vi quốc gia, pháp luật bảo vệ quyền con người thể hiện ở việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, pháp luật, hoàn thiện các thiết chế, bộ máy, nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người. Mặc dù luôn nhấn mạnh “quyền bảm sinh”, nhưng ngày nay ở mọi quốc gia, quyền con người đều được ghi nhận và bảo vệ bằng các hình thức pháp luật khác nhau.

Đó là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người. Đại hội VII của Đảng chỉ rõ: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác đinh các quyền công dân, quyền con người”, Hiến pháp 1992 cũng ghi: “Ở nước cộng hõa XHCNVN, các quyền con người về chính trị, dân sự, văn hóa và xã hgooij được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50)

Nhận diện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa.

            Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.


Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác Lênin  tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện trên những phương diện chủ yếu như sau:

Phá hoại nn tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hộiThực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy tự diễn biến từ bên trong xã hội taTrước hết là tự diễn biến về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những tự diễn biến về các mặt khác.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo qu đạo của chúng; núp dưới chiêu bài dân chủnhân quyền để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình phát triển.

Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình của chúng.

Ngoài ra, “diễn biến hòa bình còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Thầy bói xem voi



Chẳng là có "ông thầy bói” ngụ tại trời Tây mà “xem bói” tại “trời ta”, ông lim rim, rờ rẫm, rồi lẩm cẩm phán rằng ở Việt Nam là “quốc gia không có tự do trên mạng internet”.

 ĐÃ XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG PHÁT TÁN ĐOẠN GHI ÂM ĐIỆN THOẠI ĐƯỢC CHO LÀ CỦA GIÁM ĐỐC CÔNG AN TỈNH AN GIANG


Tối 5/10, thông tin từ Công an tỉnh An Giang cho biết, đối tượng phát tán đoạn clip ghi âm cuộc điện thoại lên mạng xã hội được cho là của “Giám đốc Công an tỉnh An Giang nói chuyện với cựu Bí thư tỉnh An Giang” vào ngày 3/10 là Hoàng Văn Dũng (42 tuổi), chủ trang Facebook “Hoàng Dũng”.
Hoàng Văn Dũng hiện sống ở nước ngoài. Thời gian qua, đối tượng chuyên sử dụng tài khoản Facebook “Hoàng Dũng” để đăng tải các bài viết chống phá Đảng, Nhà nước.
Bước đầu, Công an tỉnh An Giang đã xác định được Hoàng Văn Dũng chính là đối tượng thực hiện việc cắt, ghép đoạn ghi âm, rồi đăng tải đầu tiên lên trang Facebook "Hoàng Dũng".
Công an tỉnh An Giang đã xác định file ghi âm do Facebook “Hoàng Dũng”đăng tải đã bị cắt ghép và các nội dung bình luận trên trang Facebook "Hoàng Dũng" là bịa đặt nhằm cố ý gây chia rẽ nội bộ lãnh đạo tỉnh An Giang. Từ đó, lộ rõ ý đồ của Hoàng Văn Dũng nhằm chống phá công cuộc phòng, chống dịch COVID-19 tại An Giang hiện nay.
Hiện, Cơ quan điều tra Công an tỉnh An Giang xác định được một số đối tượng trên địa bàn cấu kết với Dũng để thực hiện đoạn ghi âm, cắt ghép, đăng tải lên mạng xã hội nhằm bịa đặt, bội nhọ danh dự của lãnh đạo tỉnh.
Ngày 5/10, Công an tỉnh An Giang cũng đã triệu tập một số đối tượng liên quan lên làm việc.
Công an tỉnh đang đấu tranh, làm rõ động cơ của các đối tượng cố tình ghi âm các cuộc điện thoại, cắt ghép nội dung rồi cung cấp cho đối tượng Hoàng Văn Dũng để làm rõ mục đích vi phạm pháp luật của các đối tượng.

 

Phùng Thị Nga- đối tượng dùng mạng xã hội xâm phạm lợi ích của Nhà nước và tổ chức, cá nhân bị bắt

          Phùng Thị Nga sử dụng nhiều tài khoản mạng xã hội, đăng tải các thông tin có nội dung xuyên tạc, không đúng sự thật, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín đối với tổ chức cá nhân thuộc huyện Yên Lạc. Với hành vi này, Nga đã bị lực lượng chức năng bắt giữ điều tra xử lý theo quy định.

          Ngày 5-10, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc cho biết đã bắt giữ đối tượng Phùng Thị Nga, sinh năm 1981, ở thôn Vật Cách, xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc để điều tra về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Điều 331 Bộ luật hình sự.

Đối tượng Phùng Thị Nga tại cơ quan công an

          Theo kết quả điều tra ban đầu, trong thời gian từ tháng 10-2020 đến nay, Phùng Thị Nga đã sử dụng các tài khoản Facebook của Nga có tên “Đy Gia Truyền Thanh Nga”; “Thiết Bị Thông Minh”; “Vũ Hồng Quân” và tài khoản Youtube để đăng tải nhiều bài viết, video có nội dung xuyên tạc, nói xấu, không đúng sự thật, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín đối với các tổ chức, cá nhân của huyện Yên Lạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cá nhân các lãnh đạo địa phương, cũng như vai trò, vị trí, chức năng của các cơ quan Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên địa bàn.

          Sau thời gian điều tra, xác minh cùng với các tài liệu thu thập được, ngày 4-10, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Phùng Thị Nga về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đồng thời tiến hành khám xét nơi ở của Phùng Thị Nga thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

          Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án và củng cố hồ sơ xử lý nghiêm minh đối tượng Phùng Thị Nga theo quy định của pháp luật.

Cái kết của đối tượng phản động lưu vong


     Tháng 9-2020, sau khi ra tù, A Đảo lập facebook có tên “Giô Sê Đảo” để tiếp tục liên lạc với A Ga và đối tượng phản động người Việt lưu vong như Nguyễn Đình Thắng để nhận chỉ đạo hoạt động thu thập thông tin, tài liệu gửi ra cho các đối tượng xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

      Tổ chức này là gì?

      Muốn hiểu được bản chất của A Đảo, trước hết phải tìm hiểu về Nguyễn Đình Thắng. Nguyễn Đình Thắng sinh năm 1958, tại Nam Định, sau một thời gian vào Nam, Thắng vượt biên sang Philippines rồi được định cư tại Mỹ, cầm đầu tổ chức có tên là “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS) do Phan Lạc Tiếp (SN 1933, cựu sĩ quan hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa) và Nguyễn Hữu Xương, nguyên giáo sư Đại học San Diego, thành lập năm 1980, có trụ sở tại Sandiego, Carlifornia (Mỹ) với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ.

        Năm 1990, Phan Lạc Tiếp và Nguyễn Hữu Xương đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng tiếp tục điều hành BPSOS. Sau khi tiếp nhận, Thắng đã dời trụ sở của BPSOS đến bang Viginia (Mỹ) và hướng các hoạt động chuyển sang việc lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Việt Nam.

 Tổng Bí thư: Nhìn thẳng vào sự thật, không bi quan, không tô hồng

Tổng Bí thư yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan, không tô hồng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo từ này đến cuối năm 2021 và 2022.
Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến một số vấn đề về kinh tế - xã hội năm 2021 - 2022.
Việc Ban Chấp hành Trung ương xem xét, cho ý kiến chỉ đạo, hoàn thiện các nội dung liên quan đến quan điểm, chủ trương phòng, chống dịch bệnh Covid-19, phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách, thời điểm thực hiện chính sách cải cách tiền lương có ý nghĩa quan trọng đặc biệt và cũng hết sức phức tạp do bối cảnh, tình hình diễn biến phức tạp, biến động bất thường; bên cạnh thời cơ, thuận lợi, cũng đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, gay gắt và nặng nề hơn so với dự báo.
Năm 2021 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tạo ra xung lực mới và khí thế mới cho việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030; và tầm nhìn đến năm 2045.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2021 đến nay, đại dịch Covid-19 với những biến chủng mới, lây lan nhanh hơn và nguy hiểm hơn, tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, tác động tiêu cực, kéo dài đến kinh tế thế giới, trong đó có khu vực Đông Nam Á và nước ta.
Việc này làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị, tổ chức hoạt động kinh tế và đời sống xã hội toàn cầu, buộc nhiều nước phải điều chỉnh định hướng, chiến lược phòng, chống dịch bệnh gắn với phát triển kinh tế - xã hội theo hướng: Nâng cao nội lực, chú trọng phát triển thị trường trong nước, phát triển kinh tế số, xã hội số, thương mại điện tử...
Kinh tế thế giới phục hồi, tăng trưởng trở lại nhưng còn chậm, không đồng đều, chưa thật sự vững chắc, còn tùy thuộc vào diễn biến của dịch bệnh và khả năng phòng, chống, thích ứng an toàn với dịch Covid-19; nợ công toàn cầu tăng mạnh, thị trường tài chính - tiền tệ thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Dịch bệnh đã ảnh hưởng lớn, hết sức tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta; đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ta và tâm lý, tâm trạng xã hội; đặc biệt là đã cướp đi sinh mạng của hàng nghìn đồng bào ta, trong đó có cả cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, các y, bác sĩ, nhân viên y tế và cán bộ cơ sở nơi tuyến đầu chống dịch.
Vì vậy, cùng với tờ trình tổng hợp chung, Ban cán sự đảng Chính phủ đã nghiên cứu, xây dựng các báo cáo Tình hình phòng, chống đại dịch Covid-19; quan điểm, chủ trương và giải pháp về phòng, chống dịch trong tình hình mới; tình hình kinh tế - xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2021, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 và Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm 2022 - 2024; cũng như việc lùi thời điểm thực hiện cải cách chính sách tiền lương.
Xác định rõ quan điểm về phòng, chống dịch và phục hồi trong tình hình mới
Tổng Bí thư đề nghị các đại biểu dành thời gian nghiên cứu thật kỹ các tài liệu đã gửi và căn cứ vào thực tế tình hình ở các ngành, lĩnh vực, địa phương mình để thảo luận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình phòng, chống dịch bệnh, phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2021, nhất là dự báo về tình hình đại dịch Covid-19 trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới.
Trong đó, chú ý tổng kết, đánh giá sự cần thiết, đúng đắn, hiệu lực, hiệu quả, cũng như những hạn chế, bất cập trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, biện pháp mới để xử lý các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình vừa phòng, chống dịch bệnh, khắc phục những hậu quả do dịch bệnh gây ra, vừa duy trì, phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua.
Đồng thời, Tổng Bí thư yêu cầu chỉ rõ những kết quả, thành tích đã đạt được, những khó khăn, thách thức mới đang đặt ra, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục; phân tích làm rõ các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan.
Cùng với đó là đối chiếu, phân tích khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ đã dự kiến cho năm 2021, nhất là mục tiêu, nhiệm vụ sớm kiểm soát được dịch bệnh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp duy trì, phục hồi, phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chăm lo đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trên cơ sở phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra, nhất là tình hình dịch bệnh trên thế giới và ở nước ta trong thời gian tới, Tổng Bí thư lưu ý, nắm bắt thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức, xác định rõ quan điểm, chủ trương về phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới.
Đồng thời xác định rõ mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng nhất; các định hướng, chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, giải pháp và kế hoạch, lộ trình triển khai thực hiện cụ thể cho năm 2022, bảo đảm sát với thực tiễn, có tính khả thi cao, đáp ứng được yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước hằng năm, gắn với việc phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh và thực hiện lộ trình cải cách chính sách tiền lương.
Tổng Bí thư yêu cầu những việc này cần thực hiện theo tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực sự khách quan, công tâm, không né tránh, không bi quan nhưng cũng không tô hồng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ nay đến cuối năm 2021 và trong cả năm 2022.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Liêm” “Chính”

Về “Liêm”

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; vì theo Người, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc,... Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng; bởi lẽ, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện và chính Người là tấm gương sáng, suốt đời gương mẫu thực hiện. Ngay từ thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” (năm 1927), Người đã nêu ra những yêu cầu về tư cách một người cách mạng phải có, như “vị công vô tư; không hiếu danh, không kiêu ngạo; nói thì phải làm; giữ chủ nghĩa cho vững,...”. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, Người nhấn mạnh tới việc phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xem tham ô, lãng phí, quan liêu là “thứ giặc nội xâm”. Để Đảng ta thật sự là một đảng lãnh đạo và là đầy tớ thật trung thành và tận tụy của nhân dân, thì trước hết cán bộ, đảng viên phải thực hành đoàn kết và thanh khiết.

Đối với cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng phẩm chất “Liêm chính”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liêm là trong sạch, không tham lam; luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước và của nhân dân; không tham địa vị, tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà người cách mạng luôn quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa; chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Để mọi người hiểu rõ hơn về Liêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đi sâu phân tích khái niệm tương phản - “bất Liêm”:  “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM”. Thực tiễn đã chứng minh là sự bất liêm có vô vàn biểu hiện, như tham tiền dẫn đến việc đục khoét của dân, trộm cắp của công, buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, cho vay nặng lãi, cờ bạc, trộm cắp,...; tham danh vọng, địa vị dẫn đến việc dìm người giỏi, mua bán danh vị, nịnh trên, nẹt dưới; tham nhàn dẫn đến việc ngại khó, sợ khổ, đùn đẩy công việc cho người khác, nhưng khi có công thì tranh, khi có tội thì đổ vấy; tham sống dẫn đến sự hèn nhát, gặp giặc không dám đánh, thấy việc nghĩa không dám làm. Người cho rằng: “Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. Sau khi luận giải về Liêm và giá trị của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về đối tượng thực hành chữ Liêm. Người viết: “Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, những người làm quan không đục khoét dân, thì gọi là LIÊM, chữ liêm ấy chỉ có nghĩa hẹp,... Ngày nay, nước ta là Dân chủ Cộng hoà, chữ LIÊM có nghĩa rộng hơn; là mọi người đều phải LIÊM”; tức là mọi người đều phải trong sạch, không tham lam. Sự thực hành chữ Liêm sẽ giúp tất cả mọi người tiến tới sự hoàn thiện về nhân cách và tạo ra sự chấn hưng đạo đức trên quy mô dân tộc.

Để thực hiện chữ Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần có tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục và kỷ cương pháp luật, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên; bởi vì, cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ; dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp “đục khoét”, có dịp ăn của “đút”, có dịp “dĩ công vi tư”. Người nhấn mạnh, cán bộ phải ra sức thực hành chữ Liêm bằng những việc cụ thể, như tuyệt đối không đem của công dùng vào việc tư, không động đến cái kim, sợi chỉ của dân,... mua bán phải công bình, mượn cái gì phải trả tử tế, hỏng cái gì phải bồi thường.

Về “Chính”

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh đức Liêm thì người cán bộ, đảng viên rất cần có đức Chính, vì theo Người: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn”; “Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh”. Người có đức Chính là người chính trực, đúng mực, công tâm, luôn hành động theo lẽ phải, kiên quyết bảo vệ lẽ phải và chính nghĩa có ý nghĩa quan trọng, vị trí rất lớn trong “tứ đức”. Người khẳng định: “CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”. Tức là, dù Chính là hệ quả của Cần, Kiệm, Liêm, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối, vì nhiều khi có đủ Cần, Kiệm, Liêm, mà vẫn không thể Chính. Đức Chính đòi hỏi con người phải có sự chính trực, dũng cảm đấu tranh với cái xấu để bảo vệ lẽ phải; do đó, Chính là đức khó thực hiện nhất trong “tứ đức”, là sự biểu hiện đầy đủ nhất của nhân cách con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của Chính thông qua việc coi Chính là cơ sở để phân định việc và người. Người cho rằng: “Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ”; vì con người thì phụ thuộc vào việc họ làm mà chia ra thành người thiện và người ác. Như vậy, đức Chính thấm sâu, hiển hiện, chi phối mọi công việc, mọi con người trong xã hội; ý nghĩa của Chính vô cùng sâu rộng, nhưng vươn tới sự Chính thì rất khó khăn vì con người vốn “nhân vô thập toàn”. Người còn chỉ ra những biểu hiện cụ thể của đức Chính. Khi mỗi người luôn có 3 mối quan hệ là với mình, với người, với việc, thì người có đức Chính phải hành xử theo nguyên tắc: Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự phê bình và lắng nghe phê bình để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân; đối với người thì phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn có thái độ chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết; đối với việc thì phải để việc công, lợi chung lên trước việc tư, lợi tư; đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh; mỗi ngày cố làm một việc có lợi cho nước, cho dân, bởi trong tiền đồ chung đều có tiền đồ riêng của mỗi người.

Như vậy, cần khẳng định  rằng Liêm, Chính – phẩm chất quan trọng hàng đầu của người cán bộ, đảng viên theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh

Mai Năm Mới

 BẮT KẺ LỢI DỤNG QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Phùng Thị Nga về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc vừa bắt giữ đối tượng Phùng Thị Nga, sinh năm 1981, ở thôn Vật Cách, xã Đồng Cương, huyện Yên Lạc, để điều tra về hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Theo tài liệu của cơ quan chức năng, trong thời gian từ tháng 10/2020 đến nay, Phùng Thị Nga đã sử dụng các tài khoản Facebook có tên “Đy Gia Truyền Thanh Nga," “Thiết bị thông minh," "Vũ Hồng Quân” và tài khoản Youtube “Dân oan Vĩnh Phúc" để đăng tải nhiều bài viết, video có nội dung xuyên tạc, nói xấu, không đúng sự thật, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín đối với các tổ chức, cá nhân của huyện Yên Lạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cá nhân các lãnh đạo cũng như vai trò, vị trí, chức năng của các cơ quan Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên địa bàn.
Qua thời gian xác minh và với các tài liệu thu thập được, ngày 4/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Phùng Thị Nga về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tiến hành khám xét nơi ở của Phùng Thị Nga thu giữ được nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đang tiếp tục điều tra mở rộng và củng cố hồ sơ xử lý nghiêm minh đối tượng theo quy định của pháp luật./.

Những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng sản Việt nam ra đời, đánh dấu mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 90 năm qua con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được nhiều thắng lợi vĩ đại đánh dấu qua các mốc son lịch sử quan trọng:

Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước kiểu mới, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á - mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng các thế lực thực dân xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất Tổ quốc, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ba là, thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam .

Với những thắng lợi to lớn đó chứng tỏ đường lối, quan điểm của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên của cách mạng nước ta là phù hợp với quy luật khách quan và đáp ứng đúng yêu cầu của thực tiễn Việt Nam.

Mai Năm Mới

CÔNG TÁC KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG LÀ THƯỜNG XUYÊN, NGHIÊM MINH!


Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

1. Thực chất, đây là những chiêu trò hết sức thâm độc hòng gây hoang mang dư luận; làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội và nhất là cố tình gây cản trở công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng vốn đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn!

 Trước hết cần khẳng định, việc thi hành kỷ luật Đảng là một mặt công tác đặc biệt hệ trọng của Đảng-một công việc thường xuyên như thể “đánh răng, rửa mặt” hằng ngày. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính". Do vậy, Người yêu cầu từng tổ chức đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt hơn 91 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn nhất quán duy trì kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Vụ xử tử Trần Dụ Châu vì tham ô (năm 1950); tử hình Nguyễn Hữu Giộc (Mười Vân), nguyên Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai tham nhũng vàng (năm 1988)... là những ví dụ cho thấy sức mạnh của kỷ luật thép trong Đảng. Cố Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng cho rằng, Đảng ta có truyền thống tự chỉnh đốn và thực hành kỷ luật nghiêm minh từ rất sớm. Trong Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Đảng đã tự phê bình, nhận ra sai lầm “tả khuynh” của mình. Thời đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư, Đảng ta còn non trẻ nhưng đã “Tự chỉ trích” rất nghiêm khắc. Rồi cải cách ruộng đất có những sai lầm, Bác Hồ đã khóc và xin lỗi quốc dân đồng bào. Thậm chí, có thời điểm, Trung ương chủ trương “đóng cửa Đảng”, tập trung sức chỉnh đốn Đảng... Điều đó cho thấy, không phải đến bây giờ Đảng mới siết chặt kỷ luật và việc tiến hành kỷ luật không nằm ngoài mục tiêu làm cho tổ chức mạnh hơn, cán bộ tiến bộ thêm; giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo cách mạng, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Đặc biệt, những năm gần đây, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng chủ trương tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rơi vào suy thoái, biến chất, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tồn đọng, phức tạp kéo dài đã lần lượt được đưa ra ánh sáng và xử lý đúng người, đúng tội. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, bộ trưởng, thứ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực, việc thi hành kỷ luật cán bộ được tiến hành công khai, đúng pháp luật; không còn “trên nóng, dưới lạnh”, “vùng cấm, ngoại lệ”; với quyết tâm chính trị làm trong sạch Đảng thì việc kỷ luật một số cán bộ, đảng viên cũng như “chặt cành để cứu cây”, giúp  nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trước yêu cầu mới. Cũng qua đó, thực hành kỷ luật Đảng đã giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, đúng như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Phải kỷ luật chính đồng chí mình là điều không ai muốn, nhưng kỷ luật một vài người là để vừa giữ nghiêm kỷ cương phép nước, vừa cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”.

Quả đúng vậy, việc thi hành nghiêm kỷ luật Đảng có tác dụng giáo dục, răn đe rất lớn. Khi bị kỷ luật hay xét xử, có những cán bộ cấp cao đã hối hận, xin lỗi tập thể và nhân dân vì đã làm những việc sai trái, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và mong đồng chí, đồng đội không nên như mình. Đáng quý hơn là có không ít cán bộ, đảng viên từng mắc sai lầm, từng chịu kỷ luật Đảng nhưng đã kịp thời sửa chữa, khắc phục khuyết điểm; tiếp tục được tổ chức quan tâm, giúp đỡ, dìu dắt, rồi trưởng thành, phát triển; có người sau này được giữ các chức vụ quan trọng, cao cấp của Trung ương.

Không những vậy, việc kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh cả một thế hệ, hàng ngũ trong Đảng; giúp khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng cá nhân. Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng, hệ thống chính trị và lan ra toàn xã hội. Cũng qua đó, tổ chức đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ, trong thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; có những đổi mới về lề lối và phong cách làm việc; nghiêm khắc hơn với bản thân trong sinh hoạt và công tác; tạo được uy tín đối với nhân dân.

Xin nhắc lại rằng, mục đích trong sáng, cao nhất của việc duy trì nghiêm kỷ luật Đảng là ngăn chặn cán bộ, đảng viên vi phạm chứ không phải là sự “thanh trừng”, "bài xích", "hạ bệ" nhau trong hàng ngũ nội bộ. Ở khoản 1, Điều 2, Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 về quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm của Bộ Chính trị, xác định: "Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị, lĩnh vực công tác nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh". Có nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật Đảng; không có bất kỳ lực lượng, thành phần, cá nhân ngoại lệ, đứng ngoài, đứng trên kỷ luật Đảng. Thế nhưng, việc giữ nghiêm kỷ luật Đảng tuyệt nhiên không phải thi hành kỷ luật thật nhiều, thật nặng mà chính là một cách xây dựng, duy trì ý thức tổ chức kỷ luật trong mỗi tổ chức, cá nhân. Những con số về cán bộ bị kỷ luật đã được thống kê dẫu khiến chúng ta đau xót nhưng cũng chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh” so với 5,3 triệu đảng viên của Đảng luôn giữ vững lý tưởng cộng sản, nhiệt huyết cách mạng, kiên định mục tiêu duy nhất và trên hết là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; góp phần đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.

2. Là một Đảng bộ trực thuộc Trung ương, nhiều năm qua, Đảng bộ Quân đội luôn được đánh giá là một trong những tổ chức đảng mẫu mực, tiêu biểu về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là việc duy trì kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và ở từng cơ quan, đơn vị toàn quân.

Sở dĩ như vậy bởi vì Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là một tổ chức đặc thù-là đội quân chiến đấu nên kỷ luật tự giác, nghiêm minh vốn dĩ là sức mạnh của quân đội. Cùng với đó, việc giữ nghiêm kỷ luật đã trở thành bản chất tốt đẹp, truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam trong suốt gần 77 năm qua. Trong nhiều hội nghị gần đây, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đặc biệt ghi nhận, đánh giá cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chấp hành kỷ luật, duy trì kỷ cương trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân; khẳng định Đảng bộ Quân đội là một trong những Đảng bộ mẫu mực của Trung ương. Mẫu mực cả trong xây dựng tổ chức đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ và nhất là thực thi kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội một cách nghiêm khắc, triệt để, nhân văn. Đặc biệt, trước yêu cầu của tình hình mới, càng trong khó khăn, gian khổ, quần chúng nhân dân càng tin yêu, ghi nhận, dành tình cảm tốt đẹp và lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội vì đã có đóng góp, hy sinh to lớn, vẻ vang trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Có được điều đó là bởi trong bất luận mọi thời kỳ lịch sử, nhất là trong giai đoạn hiện nay, QĐND Việt Nam luôn là đội quân tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng, trước nhân dân; là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn đoàn kết thống nhất, chủ động rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, trở thành những tấm gương sống, cống hiến mẫu mực để cả cộng đồng tin tưởng, yêu thương.

Đặc biệt, 5 năm gần đây, trong toàn quân liên tục xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân nêu gương sáng về tinh thần đoàn kết và thực hành kỷ luật. Dù đóng quân ở những miền đất xa xôi, hẻo lánh hay biên cương, hải đảo, công tác riêng lẻ, độc lập... song cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn nêu cao ý thức chấp hành kỷ luật tự giác, nghiêm minh trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; trong phối hợp với các lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội; chấp hành nghiêm nhiệm vụ giúp nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ-cứu nạn, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới... Những hành động cao đẹp đó của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng làm ngời sáng bản chất, truyền thống đoàn kết và tinh thần kỷ luật của QĐND Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn thừa nhận rằng, do tác động của nhiều yếu tố, nguyên nhân khác nhau cả về chủ quan lẫn khách quan, thời gian qua, ở một số nơi vẫn để xảy ra những vụ việc vi phạm kỷ luật, có cả vụ việc nghiêm trọng. Đây là những trường hợp cá biệt ở một bộ phận nhỏ lẻ, nhưng đã có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, danh dự, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ. Với tinh thần quyết liệt ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc, nghiêm minh đối với các trường hợp này, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn nhất quán chủ trương duy trì kỷ luật Đảng, kỷ luật quân đội một cách công khai, công bằng, không bao che, không giảm nhẹ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Đó cũng chính là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng: “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội. Muốn vậy, kỷ luật, kỷ cương phải nghiêm, quân đội phải làm gương cho các nơi khác”.

Thực tế cho thấy, việc thực hành kỷ luật và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm không nằm ngoài mục tiêu nâng cao chất lượng công tác giáo dục bộ đội, giúp cảnh tỉnh, răn đe cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải có trách nhiệm không ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, trưởng thành; kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi hiện tượng, hành vi tiêu cực, làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Ở nhiều kỳ họp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhất là các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương, các đồng chí chủ trì luôn khẳng định quyết tâm phải duy trì nghiêm túc, chặt chẽ kỷ luật Đảng trong Đảng bộ Quân đội nói chung, từng tổ chức đảng nói riêng. Phải quyết liệt làm điều đó để Đảng bộ Quân đội ngày càng xứng đáng là đảng bộ mẫu mực trên nhiều phương diện; nhất là trên lĩnh vực xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Quán triệt tinh thần đó, các cấp ủy, chỉ huy trong toàn quân luôn nhận thức rõ một yêu cầu thường nhật là: Tổ chức trong quân đội phải có kỷ luật tự giác, nghiêm minh, mẫu mực. Quan điểm xuyên suốt là phải tăng cường công tác quản lý, giáo dục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật và vi phạm kỷ luật trong QĐND Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm; phải phân tích thấu đáo, làm rõ hành vi và mức độ vi phạm kỷ luật xảy ra trong đơn vị; đồng thời tiến hành xử lý nghiêm minh, công khai, dân chủ, kịp thời các vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng điều lệnh, kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước. Phải làm thật nghiêm, thật quyết liệt, vì kỷ luật cán bộ không thể làm suy yếu tổ chức mà có tác dụng giúp mỗi cơ quan, đơn vị thêm vững mạnh; không làm giảm đi truyền thống và bản chất tốt đẹp của đội quân anh hùng, mà còn là một phương cách để QĐND Việt Nam ngày càng trưởng thành, lớn mạnh. Đó là một sự thật hiển nhiên-một chân lý bất biến khiến những kẻ thủ ác, hiềm khích, chống phá cách mạng không thể phủ nhận hoặc làm lung lay được!


Yêu nước ST.