Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2021

Đảng viên tiêu cực, suy thoái là sóng ngầm đe dọa tồn vong của chế độ

 

Đảng viên tiêu cực, suy thoái là sóng ngầm đe dọa tồn vong của chế độ

Cán bộ, đảng viên tiêu cực suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là sóng ngầm bên trong, đe dọa sự tồn vong của chế độ.  

Một trong những điểm mới trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kết luận tại Hội nghị Trung ương 4 vừa qua là: “Cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải tích cực phòng ngừa và chủ động, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực...”

Báo VietNamNet đã có cuộc phỏng vấn với PGS.TS Vũ Văn Phúc - Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng khoa học các cơ quan Trung ương, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản để làm rõ hơn nội dung này.

Phải trị tận gốc

Theo ông, so với Nghị quyết Trung ương 4 các khóa trước, vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng lần này có sự khác biệt như thế nào?

Cán bộ, đảng viên rất hoan nghênh Bộ Chính trị, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 4 lần này đã mở rộng phạm vi trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không chỉ dừng lại ở phòng chống tham nhũng mà còn phòng chống tiêu cực, trong đó lấy phòng chống tiêu cực làm trọng tâm, trọng điểm.

Bởi vì phòng chống tiêu cực chính là phòng chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Suy thoái đến một mức nào đó là tự diễn biến, tự chuyển hóa, phai nhạt lý tưởng, không kiên định với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không kiên định với con đường độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.

Tiêu cực ở đây rộng hơn tham nhũng rất nhiều. Trước hết là tiêu cực trong tư tưởng, suy nghĩ ẩn giấu bên trong mỗi con người rất khó phát hiện. Từ đó dẫn đến suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và ngay cả vấn đề tự diễn biến, tự chuyển hóa cũng là tiêu cực trong tư tưởng. Cái gốc của việc này là chủ nghĩa cá nhân.

Tiêu cực trong suy nghĩ dẫn đến tiêu cực trong lời nói, từ đó dẫn đến tiêu cực trong hành động. Cán bộ công chức ăn cắp thời gian, đi muộn về sớm cũng là hành động tiêu cực nhưng ở mức độ cao là hành động tham nhũng.

Lần này, Trung ương đã gắn phòng chống tham nhũng với phòng chống tiêu cực. Chúng tôi rất tán thành ý kiến của Tổng Bí thư đã nêu, tham nhũng làm mất của cải, mất của cải còn có thể làm ra được nhưng cán bộ đảng viên hư hỏng, tiêu cực mà biểu hiện cao nhất của tiêu cực là về suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tự chuyển biến, tự chuyển hóa thì còn mất cán bộ. Mất con người là mất hết.

Như Bác Hồ nói, con người là gốc của mọi công việc; nếu cán bộ hư hỏng, tiêu cực thì công việc hỏng. Cán bộ nào phong trào đó, nếu cán bộ, nhất là người đứng đầu hết lòng phụng sự tổ quốc, nhân dân thì phong trào của cơ quan, đơn vị đó sẽ tốt, hiệu quả và ngược lại.

Vì sao đến bây giờ vấn đề phòng chống tiêu cực mới được Đảng ta đề cập gắn liền với phòng chống tham nhũng, thưa ông?

Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, chúng ta đã đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và sự tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thực tiễn chỉ ra ngày càng rõ hơn, công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng không chỉ dừng lại ở phòng chống tham nhũng. Bởi vì tham nhũng, lợi ích nhóm chỉ là bề nổi của chủ nghĩa cá nhân. Nếu chỉ phòng chống tham nhũng thì chỉ làm phần ngọn mà chưa làm đến cái gốc sâu xa là triệt tiêu chủ nghĩa cá nhân như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Nghị quyết Trung ương 4 lần này nhấn mạnh đến phòng chống tiêu cực là để kiên quyết diệt tận gốc chủ nghĩa cá nhân. Đây mới là sóng ngầm bên trong, đe dọa sự tồn vong của chế độ cần phải trị tận gốc.

Một sự đổi mới đột phá về tư duy của Đảng ta

Như ông nói, tham nhũng là bề nổi dễ thấy, còn tiêu cực là cái gốc nhưng lại là “tảng băng chìm”. Vậy làm sao nhận biết được để xử lý đúng người và diệt tận gốc?

Rất là mừng khi vừa rồi Hội nghị Trung ương 4 đã bổ sung, hoàn thiện quy định về những điều đảng viên không được làm. Đấy chính là những nội dung cụ thể để sắp tới đây chúng ta dễ dàng nhận diện, phát hiện ra những hành vi tiêu cực của cán bộ Đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Sắp tới đây, Trung ương sẽ ban hành kết luận tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII mà Trung ương 4 khóa XIII vừa thông qua. Trong đó bổ sung rất nhiều nội dung và giải pháp cụ thể để làm sao sớm phát hiện ra những biểu hiện tiêu cực của cán bộ, đảng viên, tương ứng với các biểu hiện đó có những biện pháp xử lý tốt hơn.

Đặc biệt trong Quy định 22 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng mà Trung ương ban hành mới đây có quy định rõ những biểu hiện nào về tiêu cực, biểu hiện nào về tham nhũng, mức độ xử lý như thế nào.

Từ các quy định của Trung ương nói trên chúng ta sẽ có căn cứ để phát hiện, xử lý những hành vi tiêu cực trong cán bộ, đảng viên.

Có ý kiến lo ngại, với việc mở rộng xử lý cán bộ Đảng viên như vậy sẽ dẫn đến tâm lý “nằm im chờ thời”, không dám làm gì?

Theo tôi, không có chuyện đó. Tháng 9 vừa rồi, Bộ Chính trị đã ra kết luận 14 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung là một sự đổi mới đột phá về tư duy của Đảng ta.

Từ những bài học lịch sử như Bí thư Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong việc làm đường dây 500Kv… Gần đây trong công cuộc phòng chống dịch Covid-19, rất nhiều cơ quan, cấp ủy, cán bộ có cách làm sáng tạo.

Kết luận 14 của Bộ Chính trị có 2 vế. Vế đầu là khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, hành động quyết liệt, đột phá vì lợi ích chung.

Những hành động của họ với động cơ hết sức trong sáng, với khát khao cống hiến cho sự phát triển của đất nước, không trái với điều lệ Đảng, không trái với Hiến pháp, pháp luật thì được khuyến khích để họ phát huy hết tài năng trí tuệ của mình ra. Đồng thời, Bộ Chính trị cũng quy định bảo vệ những cán bộ này trong trường hợp họ làm nhưng chưa thành công.

Lần này Trung ương, Bộ Chính trị đã ra quy định, kết luận rất đồng bộ, rộng đường, trở thành động lực cho những người thực sự muốn cống hiến cho đất nước, cho nhân dân phát huy hết tài năng của mình. Bên cạnh đó, Đảng ta kiên quyết diệt trừ tận gốc những ai bị chủ nghĩa cá nhân chi phối.

 

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2021

CHỦ ĐỘNG NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI HIỂM HỌA TỪ MẶT TRÁI CỦA MẠNG XÃ HỘI

 

   Ngày nay, với khả năng giúp con người tạo dựng những mối quan hệ vượt ra ngoài giới hạn không gian và thời gian để giao lưu, chia sẻ, mạng xã hội đã trở thành một thứ “quyền lực” trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, từ vai trò, mục đích của người sử dụng, mạng xã hội phát huy được một số tính năng ưu việt và cũng sớm bộc lộ một số hạn chế cốt tử, có thể đẩy tới hiểm họa, tác động tiêu cực tới sự phát triển xã hội, con người.

   Thống kê từ các khảo sát cho biết, hiện tổng lượng truy cập internet (in-tơ-nét) trên toàn cầu tập trung vào khoảng 150 công ty, chủ yếu là của Mỹ, như Facebook, Google, Yahoo, Twitter. Còn tại các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, mạng xã hội lại trở thành thách thức đối với quản lý hành chính và kỹ thuật. Thực tế cho thấy, khi mạng xã hội được sử dụng vì lợi ích chung của xã hội sẽ đem lại nhiều hiệu ứng tích cực, giúp kết nối mọi người; cũng là một kênh ma-két-tinh, kinh doanh hiệu quả, giúp nắm bắt thông tin, và là một kênh giải trí hữu ích. Đáng chú ý, với sự ưu việt của các thiết bị thông tin cá nhân (như điện thoại thông minh - smartphone), mạng xã hội có khả năng tiếp cận từng cá thể ở mọi lúc, mọi nơi, có thể tạo nên “bản sao” của đời sống thực trên “không gian ảo”.

   Trên phương diện nhất định, mạng xã hội đã làm hình thành một lớp công dân mạng làm truyền thông qua việc tự đăng tải thông tin, chia sẻ, bình luận, giúp nâng cao nhận thức, kỹ năng, phát triển trí tuệ… Song, từ các nguyên nhân khác nhau mà bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội cũng sớm bộc lộ nhiều bất cập, tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống. Chỉ riêng về chính trị - xã hội, mạng xã hội đã làm phức tạp, gây tai họa cho nhiều quốc gia. Chẳng hạn, các biến động chính trị xã hội ở Bắc Phi, Trung Đông đều có sự tham gia, hoặc chủ động, hoặc bị động của các tổ chức, cá nhân sử dụng mạng xã hội làm công cụ để truyền bá thông tin, liên lạc và tổ chức hoạt động. Những người tham gia cuộc bạo động đường phố vào tháng 8-2011 ở Anh, cuộc xuống đường “chiếm phố Wall” ở Mỹ, biểu tình ở Hồng Kông (Trung Quốc) gần đây, và hoạt động tương tự tại nhiều nước khác đều sử dụng Facebook, Twitter như “vũ khí” lợi hại để quảng bá cái gọi là “giá trị dân chủ”, thúc đẩy “cách mạng mầu”, tổ chức lật đổ hoặc thay đổi thể chế ở một số nước.

   Với Việt Nam, gần đây, mạng xã hội như đã trở thành môi trường để một số người truyền bá luận điệu sai trái, đưa ra thông tin xấu độc, gây hại, công bố phát ngôn gây thù hận; đồng thời bị một số người lợi dụng để thể hiện hành vi phản văn hóa, vi phạm thuần phong mỹ tục, sử dụng ngôn từ tục tĩu để thóa mạ, chửi bới người không có cùng quan điểm. Một số trường hợp, khi đến với công chúng, mạng xã hội còn làm cho thông tin chính thống bị nhiễu loạn, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Có thể nói, mạng xã hội đang giống như “mê hồn trận”, làm cho con người khó phân biệt đâu là tin thật, đâu là tin giả... Và nổi lên trong đó là việc một mặt các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội để hô hào tụ tập đông người phản đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cố gắng kích động dư luận, biến bức xúc thành bạo động, khiến sinh hoạt xã hội trở nên phức tạp; mặt khác, họ triệt để lợi dụng mạng xã hội để hình thành cái gọi là “truyền thông độc lập”, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước; thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài nghi với chính quyền, thổi bùng bức xúc trong nhân dân để tạo điều kiện, môi trường thực hiện “cách mạng mầu”; đồng thời cổ xúy cho các luận điệu dân chủ, nhân quyền, đòi tự do biểu tình, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí, tự do tôn giáo theo quan điểm phương Tây để phục vụ cho “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, chủ động ngăn chặn hiểm họa từ mặt trái của mạng xã hội đã trở thành yêu cầu cấp thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, hiệu quả... Cụ thể như:

   Một là, tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật cho mỗi người khi sử dụng mạng xã hội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định, vì sự lệch lạc trong nhận thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ dẫn đến ngộ nhận, sai lầm trong hành vi và làm cho an ninh, trật tự có thể chứa đựng mối nguy hiểm tiềm tàng. Do đó, cần chủ động, tích cực tuyên truyền, giáo dục, giúp mọi người nhận thức được tác động tiêu cực từ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, không vô tình tiếp tay cho hoạt động chống phá, và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội.

   Quá trình tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật khi sử dụng mạng xã hội cần gắn chặt với tuyên truyền, thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư T.Ư Đảng (khóa X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; và một nội dung quan trọng được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng là: “Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên”; đồng thời tăng cường giám sát và phát hiện thông tin sai phạm; đổi mới phương thức tuyên truyền của hệ thống truyền thông; cung cấp cập nhật, thường xuyên các văn bản pháp luật cùng quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước trên các phương tiện truyền thông đại chúng giúp định hướng người sử dụng mạng xã hội trước các vấn đề nhạy cảm; xây dựng ý thức công dân và phong cách văn hóa khi tham gia mạng xã hội.

   Hai là, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp để quản lý internet trên cơ sở hành lang pháp lý là Luật An ninh mạng và các luật, bộ luật liên quan. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của internet, nhất là mạng xã hội, luôn có thể xuất hiện một (những) vấn đề mới, dễ làm cho một số quy định pháp luật trở nên lạc hậu, bất cập hoặc không còn phù hợp, vì vậy cần thường xuyên theo dõi, khảo sát, đánh giá, nếu cần thiết phải kịp thời điều chỉnh, bổ sung, để hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách,... giúp quản lý hiệu quả, vừa phù hợp với các quy tắc điều chỉnh hành vi văn hóa trong sinh hoạt xã hội và cộng đồng, vừa theo kịp sự phát triển của mạng xã hội với các vấn đề mới của nó. Sự tiến bộ, hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật ở nước ta cần phải tạo ra khung pháp lý thể hiện qua các biện pháp quản lý đồng bộ đối với trang điện tử, mạng xã hội; thắt chặt việc tạo tài khoản cá nhân; có điều luật xử lý người lợi dụng internet để hoạt động chống chính quyền, lừa đảo kinh tế, tiến công các tổ chức, cá nhân... Đáng chú ý, bên cạnh việc biểu dương, ủng hộ người tốt, đưa thông tin tốt, cũng cần phải phê phán, răn đe người không tốt, xử lý người đưa tin xấu, độc...

   Ba là, hoạch định các giải pháp kỹ thuật bảo đảm chủ động, kịp thời, hiệu quả trong quản lý truyền thông mạng xã hội. Giải pháp về công nghệ đưa tới các biện pháp kỹ thuật phù hợp, theo kịp sự phát triển của internet, khuyến khích phát triển mạng xã hội có nền tảng công nghệ trong nước, khuyến khích các cơ quan, tổ chức xây dựng mạng xã hội nội bộ. Giải pháp về công cụ giúp quản lý, thu thập, phòng ngừa và cảnh báo; định lượng truy cập mạng xã hội làm căn cứ để đánh giá, xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý nhà nước. Giải pháp về công cụ lọc giúp phát hiện tin giả, tin sai sự thật… từ đó chủ động ngăn chặn sự lan truyền, cảnh báo tin giả ngay từ khi xuất hiện trên mạng xã hội. Giải pháp về cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp giúp vào việc ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu độc trên internet, trực tiếp là mạng xã hội. Do đặc điểm “không có biên giới rõ ràng” của môi trường mạng xã hội cho nên cần có phối hợp giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước và các định chế quốc tế, các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn từ nước ngoài như Facebook, Google, Twitter để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ, hiểm họa có thể xảy ra.

   Bốn là, xây dựng và nâng cao khả năng đấu tranh của lực lượng nòng cốt chuyên sâu, bởi căn cốt của vấn đề là vai trò của con người, và đây là lực lượng quan trọng đặc biệt, là yếu tố quyết định hiệu quả phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên internet. Vì thế, mỗi công dân, nhất là cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực toàn diện; có kiến thức chuyên môn cao khi khai thác, sử dụng internet; có năng lực tư duy phản biện với khả năng diễn đạt, luận chiến tốt; nhiệt huyết và dũng khí, quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy, cần đa dạng hóa hình thức và phương pháp đấu tranh theo hướng: thiết lập và sử dụng các website, blog, diễn đàn, đăng tải những bài viết sâu sắc về lý luận - thực tiễn; chủ động cung cấp thông tin, phối hợp các cơ quan báo chí để viết bài đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên internet, trực tiếp là mạng xã hội… Qua đó, vừa vô hiệu hóa các trang mạng “độc hại”, vừa góp phần hướng dẫn dư luận xã hội.

   Việt Nam được xem là quốc gia có tốc độ phát triển rất nhanh về internet và tính đến nay đã có hơn 60 triệu người sử dụng Facebook, chưa kể các mạng xã hội khác, đứng thứ 18 trên thế giới về tỷ lệ người dân sử dụng internet và là một trong 10 nước có người dùng Facebook, YouTube cao nhất thế giới. Vì vậy, việc chủ động đẩy lùi hiểm họa từ mặt tiêu cực của mạng xã hội cần huy động sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, với sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, kết hợp phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng. Và khi tham gia mạng xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên,... cần xác định trách nhiệm giữ vai trò nòng cốt, tự giác trong đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực, trực diện đấu tranh với thông tin xấu độc, tạo thành phong trào rộng khắp cùng hướng tới một văn hóa internet, trong đó có mạng xã hội, ngày càng tích cực, lành mạnh./.

MỘT SỐ ĐIỂM NHẤN, ĐIỂM MỚI VỀ DỰ BÁO TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ CỦA VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

   Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội lần thứ XIII là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng, của dân tộc và của đất nước ta. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII có nhiều điểm mới, bài viết trước, chúng tôi đã giới thiệu những điểm mới trong chủ đề Đại hội, trong bài viết này tiếp tục giới thiệu những nội dung quan trọng trong dự báo tình hình thế giới và trong nước.

   Với những biến động phức tạp của tình hình thế giới những năm qua cho thấy nhiều vấn đề cần có sự nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo, khách quan. Ngay tại thời điểm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Đặc biệt, Đại hội đã phải rút ngắn thời gian để các đại biểu trở về địa phương chỉ đạo công tác phòng chống đợt dịch covid-19 thứ 3 bùng phát mạnh ở Hải Dương và đang lan ra các tỉnh, thành phố khác…

   Có thể nhận thấy, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ, thuận lợi và nhiều khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Qua các chủ trương, đường lối, quyết sách đúng đắn của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ đã tiếp tục tạo niềm tin mạnh mẽ của cán bộ, đảng viên và nhân dân cùng với sự kỳ vọng đất nước sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn.

   Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu những dự báo mới so với Đại hội XII, đó là: Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và gay gắt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang bị thách thức bởi sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương toàn cầu đứng trước những thách thức lớn.

   Điều dễ nhận thấy trong những dự báo mới, đó là sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, tư duy biện chứng về tình hình. Dự báo mới được chứng minh ngay bằng việc Tổng thống Mỹ J.Biden lên năm quyền và các cuộc điện đàm với Chủ tịch Trung Quốc và kết quả cuộc đối thoại cấp cao Mỹ - Trung. Những vấn đề phức tạp trong quan hệ thường mại hai nước, vấn đề nội bộ Trung Quốc cũng như vấn đề Biển Đông đã đẩy đối thoại Mỹ - Trung nóng ngay từ những giây phút đầu và kết thúc không nằm ngoài dự báo. Ông J.Biden thể hiện rõ ngay quan điểm tăng cường củng cố, hàn gắn rạn nứt quan hệ với các đồng minh truyền thống, nhất là Khối NATO và “Bộ Tứ kim cương” - một liên minh quân sự kiểu NATO ở châu Á gồm  Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ…

   Điều đó cho thấy sự đúng đắn trong dự báo của Đại hội XIII, đó là: cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới.

   Văn kiện Đại hội XIII nhận định: “Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19”. Có thể thấy, thực tiễn những vấn đề khủng hoảng kinh tế không chỉ xuất phát từ các vấn đề biến đổi khí hậu hay dịch bệnh trên đàn vật nuôi, cây trồng, mà dịch bệnh lây truyền phức tạp trên chính con người. Đại dịch Covid-19 đang tiếp tục làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế thế giới. Đồng thời trong văn kiện lần này đã nêu vấn đề mới ảnh hưởng đến kinh tế thế giới, đó là “Chiến tranh thương mại” gắn với “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc”.

   Nhận định về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, Văn kiện Đại hội XIII nêu những dự báo mới: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. ASEAN có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực nhưng cũng đứng trước nhiều khó khăn.

   Nhận định về tình hình trong nước, Văn kiện Đại hội XIII nêu những dự báo mới: Sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

   Nhận định về năm năm tới, cùng với sự tồn tại của bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ: Việt Nam hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn và sẽ phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại  tự do thế hệ mới. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Xu hướng già hóa dân số nhanh; tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng mạnh; biến đổi khí hậu gay gắt, phức tạp... ngày càng tác động mạnh đến sự phát triển của đất nước.

   Từ đó, Văn kiện Đại hội XIII nhận định: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới./.

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG, NÊU CAO LÒNG YÊU NƯỚC, Ý THỨC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO THẾ HỆ THANH NIÊN

    Sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, thế hệ thanh niên thời kỳ mới đã và đang tiếp nối truyền thống hào hùng của Đảng và dân tộc; không ngại khó khăn, gian khổ, có ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Đảng chủ trương khuyến khích, cổ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại. Đồng thời, “phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

   Tuy nhiên, hiện nay, trước những tác động nhiều mặt của tình hình kinh tế - xã hội, một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc… Học vấn của một bộ phận thanh niên, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp; nhiều thanh niên còn thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập quốc tế. Tính độc lập, tự chủ, ý chí, nghị lực, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

   Ngày nay, hầu hết thanh niên đều sinh ra, lớn lên khi đất nước đã hòa bình, độc lập, họ đã và đang được thừa hưởng những thành quả của nền hòa bình, độc lập dân tộc do các thế hệ cha anh đem lại. Trước những nội dung, yêu cầu mới của công cuộc đổi mới, trước những tác động cả thuận lợi và khó khăn, của cả thời cơ và thách thức, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

   Thứ nhất, phải giáo dục cho thanh niên có nhận thức đầy đủ, có khát vọng vươn tới giá trị chân, thiện, mỹ.

   Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về giá trị chân, thiện, mỹ có thể coi là hành trang đầu tiên của mỗi cá nhân trước khi hội nhập vào đời sống cộng đồng, nhất là với thế hệ trẻ hôm nay vốn sinh ra, lớn lên trong một môi trường chịu nhiều những tác động cả tích cực và tiêu cực từ nhiều phía, cả trong và ngoài nước. Nhiều giá trị văn hóa của dân tộc, giá trị đạo đức trong đời sống cộng đồng, trong mỗi gia đình dường như đang bị mai một trước xu thế hội nhập, trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Một bộ phận thanh niên trước ngưỡng cửa cuộc đời đang rất thiếu những hiểu biết cơ bản về giá trị cuộc sống, họ lúng túng trong phân biệt đâu là giá trị đích thực, đâu là sự hư vinh giả tạo. Điều đó dẫn đến hoặc là chạy theo lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, với lối sống hưởng thụ, hoặc là buông thả, phó mặc cuốn theo những tệ nạn xã hội.

   Những xu hướng đó đều dễ dẫn tới những nhân cách lệch lạc, tổn hại cho chính bản thân họ và cho cả cộng đồng. Bởi vậy, trong những nội dung giáo dục cho thanh niên, trước hết cần quan tâm trang bị cho họ những kiến thức, những hiểu biết về đạo đức, đạo lý, về truyền thống văn hóa của dân tộc. Dù rằng, những nội dung đó đã được trang bị cho mỗi người thanh niên từ trong nhà trường, trong mỗi gia đình từ thuở ấu thơ. Tuy nhiên, lứa tuổi thanh niên là lứa tuổi mà kinh nghiệm cuộc sống chưa nhiều, do vậy, họ vẫn đang rất cần sự quan tâm giáo dục, nâng đỡ của các thế hệ đi trước. Trên cơ sở những kiến thức, những hiểu biết cơ bản về giá trị chân, thiện, mỹ, cần hướng cho thanh niên biết đấu tranh để giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc, của quê hương nơi mà họ sinh ra, lớn lên.

   Thứ hai, giáo dục cho thanh niên hiểu biết những giá trị trong truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

   Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cho thế hệ trẻ. Theo Người, việc hiểu biết đầy đủ những giá trị truyền thống trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước là trách nhiệm của mỗi công dân, nhất là với thế hệ trẻ.

   Thế hệ trẻ hôm nay là những người được thừa hưởng những thành quả của biết bao thế hệ cha ông để lại. Trách nhiệm của họ là phải biết tri ân công lao của cha ông, phải viết tiếp những trang sử mới của dân tộc bằng những nỗ lực trên mặt trận lao động, sản xuất, học tập và công tác để nước ta thực sự là dân giàu, nước mạnh. Đúng như lời Bác dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

   Việc giáo dục những giá trị trong truyền thống đấu tranh dựng nước, lịch sử hào hùng của dân tộc cho thanh niên cần được bắt đầu từ rất sớm, từ trong mỗi gia đình với những bài học về đạo đức, về lòng biết ơn, sự tự hào với ông cha, với dân tộc; trong nhà trường với những kiến thức cần thiết và những phong trào, hoạt động tri ân, tưởng nhớ công lao của những anh hùng dân tộc, tôn vinh những tấm gương trong xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh…; và sự quan tâm góp sức của xã hội để thanh niên từng bước đảm nhận, gánh vác trách nhiệm của mình trước non sông, dân tộc qua các phong trào xã hội mà thanh niên đóng vai trò xung kích.

   Thứ ba, bồi dưỡng thanh niên có nhận thức đúng đắn về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, về con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

   Trải qua bao năm bôn ba nơi hải ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường duy nhất đúng đắn cho cách mạng nước ta là đấu tranh để giành cho được độc lập dân tộc, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường duy nhất để đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành những người làm chủ vận mệnh của bản thân và làm chủ cả xã hội. Những biến động khó lường của cách mạng thế giới những năm qua, với những hậu quả từ sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế càng cho thấy sự lựa chọn sáng suốt, đúng đắn của Người.

   Để thực sự xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần bồi dưỡng cho thanh niên hiểu và nắm vững mục tiêu, lý tưởng của Đảng, con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn để rèn luyện, phấn đấu, phụng sự cho sự nghiệp cao cả đó. Đây là quá trình lâu dài, công phu, và muốn đạt được thành công, chúng ta phải luôn nhớ tới sự chỉ bảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, đó là phải thông qua các phong trào thực tế của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp kiến thức trong nhà trường với kiến thức chính trị - xã hội… Từ đó, thanh niên thấm nhuần và khắc sâu về lý tưởng của thế hệ mình, biến nhận thức thành hành động tự giác qua các phong trào cách mạng, trong ứng xử hằng ngày.

   Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bồi dưỡng thế hệ trẻ.

   Thường xuyên nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và đội ngũ đảng viên đối với công tác bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Mỗi tổ chức đảng cần nhận thức rõ: việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ là chuẩn bị đội dự bị tin cậy bổ sung lực lượng cho Đảng. Vì vậy, cấp ủy đảng các cấp cần có kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ.

   Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về chủ trương, đường lối, chính sách đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ bằng các biện pháp thiết thực, hiệu quả, mạnh dạn bố trí và sử dụng cán bộ trẻ trên tất cả các lĩnh vực. Phát huy vai trò gương mẫu của mỗi đảng viên trong công tác tuyên truyền thanh niên về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; giúp đỡ, tạo điều kiện để thế hệ trẻ trưởng thành, tiến bộ.

   Sự lớn mạnh của mỗi quốc gia, dân tộc trong tương lai phụ thuộc vào chất lượng của công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ hiện tại. Vấn đề này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và đầu tư nhiều công sức, trí tuệ, đây cũng là tư tưởng xuyên suốt của Người. Tương lai của dân tộc sẽ vững vàng, vẻ vang sánh vai với các “cường quốc năm châu” nếu như chúng ta thực hiện đúng những lời căn dặn trong Di chúc thiêng liêng của Người./.

Việt Nam cam kết đẩy mạnh quyền năng kinh tế của phụ nữ

 

 "Việt Nam cam kết thúc đẩy thực hiện công tác bình đẳng giới và tăng cường quyền năng cho phụ nữ, đặc biệt là quyền năng kinh tế...".

Vang mãi thiên hùng ca trên biển

 

 

Chuyện về con đường biển và những người vận chuyển vũ khí trên con đường ấy được ví như một thiên hùng ca ngời sáng về lòng yêu nước. Trong điều kiện kẻ thù ngày đêm phong tỏa, nhưng với ý chí cao, sẵn sàng quyết tử, cán bộ, chiến sĩ trên những con tàu không số vẫn băng qua hiểm nguy, đạp sóng Biển Đông để vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, nhân lực, kịp thời chi viện cho quân và dân miền Nam đánh giặc.

Chăm sóc người bệnh như người thân của mình

 

 

Những ngày thực hiện nhiệm vụ ở Bệnh viện dã chiến truyền nhiễm số 5B nằm trên địa bàn phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, điều dưỡng Hoàng Ngọc Hóa đã chứng kiến nhiều bệnh nhân nặng rất đáng thương, mọi sinh hoạt phải nhờ sự hỗ trợ của các anh. Quá trình điều trị, việc phải tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân rất nguy hiểm nhưng các anh làm hết sức mình, chăm sóc như người thân của mình.

Đường Hồ Chí Minh trên biển - tầm vóc và ý nghĩa lịch sử

 


Tầm vóc của Đường Hồ Chí Minh trên biển

Người bác sĩ mang quân hàm lập nhiều thành tích

 

 

Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Công an tặng Bằng khen cho Đại úy Nguyễn Thị Thanh Thoảng, bác sĩ Bệnh xá Phòng Hậu cần Công an tỉnh Long An do có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nữ “Tư lệnh hồi sức” Bệnh viện Chợ Rẫy nhận Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2021

 



Sáng 15/10, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Hội và Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, đồng thời trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam và Cuộc thi phụ nữ khởi nghiệp năm 2021. PGS.TS Phạm Thị Ngọc Thảo – Phó Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy được vinh dự nhận Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2021. 

Hà Nội thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19

 


 

Thường vụ Thành uỷ Hà Nội khẳng định, thực hiện có lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 nhưng không chủ quan, nóng vội với mục tiêu nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm tốt an sinh xã hội, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

NHỮNG KẺ "MẬP MỜ"



Mới đây, trên Group Tạp Chí Xe 360 có gần 230.000 người thích đã đăng tải một số bức hình về một con đường bị "bong, trôi" với một dòng trạng thái lấp lửng, mập mờ: "Mưa có tý mà trôi cả con đường trăm tỷ".

Những bức hình về con đường đó thực chất là ở Thái Lan và nó đã được lan truyền trên mạng xã hội từ rất lâu. Nhưng với những cái tút "lấp lửng, mập mờ" đó, nó đã thu hút được hàng ngàn lượt thích, chia sẻ và bình luận. Đáng buồn là có nhiều người không chịu tìm hiểu tính chính xác của thông tin mà cho rằng đó là ở Việt Nam và có những bình luận thiếu thiện chí, quy chụp, phán xét về những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội.

Được đánh giá là đất nước có tỷ lệ người dùng Internet mạng và xã hội cao của thế giới. Bên cạnh những người tinh ý phát hiện ra đó không phải là ở Việt Nam thì không hiểu sao vẫn có rất nhiều người thiếu thông tin để cho những kẻ "thiếu thiện chí" lèo lái, dắt mũi. Đúng là thật đáng buồn!

AI CŨNG HIỂU CHỈ CÓ VÀI NGƯỜI MANG DANH VỊ, HỌC HÀM, HỌC VỊ NHƯNG LẠI KHÔNG HIỂU.

 Có một đám fan cuồng bè lũ phản quốc trong đó có những nhà sử tặc, nhà nghiên cứu rởm, nhà báo bẩn, luật sư đểu, nhà giáo dục tha hóa, v.v... đã và đang ra sức đào mồ bốc mả để "rửa mặt, thay áo mới, sang nhà mới" cho những Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký với những cái gọi là "Nỗi oan thế kỷ", "Nhà yêu nước, nhà bác học, nhà văn hóa vĩ đại của dân tộc", v.v...

Chúng trơ trẽn, tráo trở, trâng tráo, trần trụi khi hết lời tôn xưng bằng những lời có cánh, những danh xưng mĩ miều dành cho hai kẻ tội đồ dân tộc, tội nhân thiên cổ này, bất chấp lý lẽ đúng sai, phải trái và đạo đức, đạo lý.

Chỉ mới hôm qua thôi, có một nhóm học sinh THPT đã đến hỏi chúng tôi về nhân vật Trương Vĩnh Ký và sau khi nghe chúng tôi giảng giải, phân tích, chứng minh bằng những sự kiện lịch sử chân thật thì tụi trẻ đã kết luận rằng: "Bây giờ chúng cháu mới biết Trương Vĩnh Ký là một kẻ phản quốc hại dân, vậy mà bao năm nay ở trường chúng cháu đã được giảng dạy ông ta là một thiên tài".

Vậy đấy, nhưng giờ đây lại có không ít tỉnh thành cứ như mù kiến thức, mù lịch sử, mù văn hóa khi lấy tên của hai tên phản quốc, tội đồ dân tộc, tội nhân thiên cổ này để đặt tên đường, tên phố, tên trường học. Thật là thời thế đảo điên, chính tà lẫn lộn, vàng thau bất dị, còn những kẻ fan cuồng phản quốc kia với cái mác PGS, TS vẫn hàng ngày lên báo chí, truyền thông, truyền hình để rao giảng đạo lý dân tộc và đạo đức cách mạng. Thật là đáng buồn!

SỰ THẬT THÌ KHÔNG THỂ CHE ĐẬY VÀ BAO BIỆN BẰNG BẤT CỨ THỨ LUẬN ĐIỆU PHI THỰC TẾ, PHẢN KHOA HỌC NÀO ĐỂ THAY ĐỔI SỰ THẬT!

Sự thật là chân lý, là hiện thực khách quan, nó không phụ thuộc vào sự chủ quan, vì vậy nó không thể bị che đậy, bị lấp liếm, bao biện bằng bất cứ thứ luận điệu chủ quan duy lý chí, suy diễn, phi thực tế, phản khoa học nào để thay đổi. Ví dụ như: Thành - Trụ - Hoại - Không; Sinh - Trụ - Dị - Diệt; Vô thường; Vô ngã; Sinh - Lão - Bệnh - Tử, là những quy luật tất yếu khách quan, bất biến của vũ trụ vạn vật, vạn tượng và của kiếp nhân sinh. Không thể có bất cứ một chủ thuyết chủ quan bằng tưởng tri (hiểu biết do tưởng tượng), sở tri kiến (hiểu biết hạn chế bởi năng lực bản thân), bằng nhục nhãn (con mắt thế giới quan, nhân sinh quan bị hạn chế bởi năng lực cá nhân), vô thần hay hữu thần nào mà có thể che đậy, lấp liếm, biện hộ, suy diễn đối với sự thật khách quan.

(1) Đã 48 năm trôi qua kể từ ngày đế quốc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam thì cả thế giới đều biết rằng Mỹ đã xâm lược Việt Nam và đã thất bại tủi hổ, cay đắng. Thế nhưng cũng chừng đó năm, chưa bao giờ các chính quyền Mỹ trải qua các đời Tổng thống Mỹ chịu thừa nhận sự thật này, chịu chấp nhận là họ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ luôn cho rằng họ là đồng minh của cái gọi là "chính quyền VNCH", họ đã rút quân khỏi Việt Nam năm 1973 trong danh dự để không phải hy sinh một cách vô ích, để hàn gắn lại sự phân hóa, chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ, họ không muốn can thiệp vào chuyện nội bộ của những người Việt Nam nữa.

Cả thế giới đều nghe thấy truyền thông Mỹ tuyên truyền không biết mệt mỏi về thứ luận điệu này trong suốt 48 năm qua, nhưng cả thế giới cũng chẳng có ai tin vào thứ luận điệu phi sự thật này. Tất nhiên, sẽ mãi mãi không bao giờ chính quyền Mỹ từ bỏ luận điệu này.

Cái luận điệu này cũng chẳng khác gì những luận điệu khi họ đã lấy cớ để xâm lược Afghanistan, Iraq và Syria là tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, và rồi sau đó họ cũng đã rút quân “chiến lược” trong danh dự ra khỏi các quốc gia này.

Quay trở lại với vấn đề Việt Nam, thật nực cười thay, mặc dù người Mỹ rêu rao rằng họ tham gia vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam là để bảo vệ “đồng minh VNCH”, cũng giống như Pháp đã từng rêu rao trước đó rằng “Quốc gia Việt Nam” cũng là đồng minh của Pháp. Nhưng chính người Mỹ lại nói về cái gọi là đồng minh của họ ở Việt Nam như thế này:

- “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ (chỉ Việt Nam Cộng hòa) thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó.” (John F. Kennedy – Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ).

- “Nó (Việt Nam Cộng hòa) phải tự chống đỡ thôi... Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được!” (Richard Nixon - Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ).

Đối với giới chính trị, giới quân sự, các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học cả thế giới đều biết rất rõ “Quốc gia Việt Nam” là sản phẩm tay sai ngụy quyền của thực dân Pháp, “Việt Nam Cộng hòa” là sản phẩm tay sai ngụy quyền của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Chúng được thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lập nên tại Việt Nam nhằm mục đích lấy người Việt trị người Việt, xây dựng thế lực thù địch bản địa để đối lập và tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, đồng thời làm tay sai, nô lệ chính trị cho Pháp và Mỹ.

(2) Đối với giới chính trị, giới quân sự, các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học cả thế giới đều biết rất rõ năm 1974 Mỹ đã bắt tay với Trung Quốc để Trung Quốc cướp mất quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, xa hơn là trước năm 1954 Mỹ đã hậu thuẫn, tiếp viện cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Pháp đối với Việt Nam, còn khi ký kết Hiệp định Genève 1954 thì Mỹ đã từ chối ký vào Hiệp định và tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”, để rồi sau khi dựng ra “chính quyền Ngô Đình Diệm” thì Mỹ đã hậu thuẫn cho chính quyền tay sai (ngụy quyền) này phá vỡ Hiệp định.

(3) Đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa vốn đã thuộc về Việt Nam ngay từ triều đại phong kiến nhà Nguyễn, khi ấy trong bản đồ địa lý của triều đại phong kiến nhà Thanh ở Trung Quốc cũng không xuất hiện quần đảo này. Vì vậy, hiển nhiên là khi Việt Nam trở thành một nước độc lập, tự do, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 thì chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này đã được nhấn mạnh lại lần nữa sau khi HĐ Genève 1954 được ký kết. Ngày 13/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khi trả lời hãng thông tấn AP (Mỹ): “Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ đấu tranh mạnh hơn để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước. Đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Genève 1954 thừa nhận… Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất. Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước riêng biệt…”, còn trước đó vào ngày 22/7/1954, sau khi ký kết HĐ Genève, Ngoại trưởng của chính phủ Bảo Đại, Trần Văn Đỗ rơi nước mắt, nhưng trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lên tiếng: “Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hòa bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây”.

(4) 46 năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc chiến tranh, hoàn toàn thống nhất đất nước thì vẫn tồn tại một bộ phận tàn dư ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn và hậu duệ của chúng ở hải ngoại vẫn không ngừng chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam còn phần lớn những người từng thuộc về chế độ Sài Gòn cũ, kể từ sau ngày 30/4/1975, trước việc thực hiện chủ trương, chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc rất tốt của Đảng và nhà nước ta thì họ đã sớm hòa nhập vào đời sống xã hội chung dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta, dân tộc ta. Những người mà chúng ta cần hòa giải hòa hợp thì đã hòa giải hòa hợp rồi, số ít chống phá một cách cực đoan còn lại ở hải ngoại thì đừng bao giờ hy vọng chúng sẽ thay đổi bởi vì chúng chống cộng được coi là một nghề để chúng kiếm ăn chứ không phải vì bất đồng về tư tưởng, ý thức hệ chính trị. Với bọn này không bao giờ tồn tại cái ý thức hệ vì lợi ích dân tộc ở trong tư tưởng, tư duy và hành động của chúng. Đây là sự thật.

Vì vậy, với tất cả những sự thật trên đây, đừng bao giờ các nhà sử học lại đưa ra những thứ luận điệu cực kỳ viển vông, hoang đường, ảo tưởng, phi thực tế, phản khoa học, vô lương tâm, mất lương tri, băng hoại tư cách đạo đức, suy đồi ý thức chính trị, suy thoái tinh thần dân tộc tự lập, tự cường, tự chủ, độc lập tự do, ví dụ như: “Thừa nhận VNCH để đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa” (PGS.TS sử học Nguyễn Mạnh Hà); “Thừa nhận VNCH để thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện” (TS sử học Nguyễn Nhã); “Không gọi ngụy quân, ngụy quyền để tránh miệt thị, để thu phục nhân tâm, để hòa giải, hòa hợp dân tộc” (GS.TS sử học Vũ Minh Giang, PGS.TS sử học Trần Đức Cường), v.v… để che đậy, lấp liếm, bao biện cho tư tưởng, dã tâm mang lịch sử dân tộc ra để đánh đổi, để thỏa hiệp cho một lợi ích chính trị hay kinh tế nào đó với Hoa Kỳ hay với bất cứ quốc gia nào. Đây là một hành động hèn hạ, bán đứng lịch sử dân tộc, chà đạp lên xương máu và phẩm giá của những người chiến sĩ cách mạng Việt Nam, là sự phản bội lại tư tưởng, đạo đức, nhân cách, lý tưởng Hồ Chí Minh, rộng hơn là phản bội lại dân tộc.

Đất nước ta ngày nay, không thiếu gì những thành phần được gọi là GS, PGS, TS khoa học nhưng bằng một cách phản khoa học, phi thực tiễn nào đó mà họ có được những học hàm, học vị ấy, và họ tiến thân bằng con đường cửa hậu, bằng sự lăng xê của truyền thông, bằng sự bao bọc, nâng đỡ của nhóm lợi ích. Ngay từ đầu họ đã sai, đã băng hoại về tư tưởng, đạo đức, nhân cách, sự liêm sỉ khi họ lập thân, lập nghiệp, lập vị trí, lập danh (học hàm, học vị), thì giờ đây họ có bán đứng lịch sử dân tộc nói riêng và lợi ích dân tộc nói chung cũng là điều dễ hiểu. Chỉ có điều, sự thật là chân lý, là hiện thực khách quan, nó không phụ thuộc vào sự chủ quan, do đó nó không thể bị che đậy, bị lấp liếm, bao biện bằng bất cứ thứ luận điệu chủ quan duy lý chí, suy diễn, phi thực tế, phản khoa học nào để thay đổi sự thật./.






Yêu nước ST.

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 


Quán triệt tinh thần đó, để đấu tranh ngăn chặn tình trạng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị - tư tưởng, chúng ta cần phải tập trung các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển.

Hai làđề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Ba là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cần đến những chủ trương, giải pháp hành động mạnh mẽ, đồng bộ. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải bắt đầu “tu thân”, phải học làm người rồi mới làm cán bộ như Bác Hồ đã dạy. Tăng cường kỷ luật, pháp luật, sự công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bố trí và quản lý cán bộ, bảo đảm lựa chọn đúng người có đức, có tài vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo các cấp; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh, khoa học để cán bộ, công chức không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức. 

Bốn là giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”. Phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng đồng thời tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả. 

 Năm là, nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Cuối cùng là sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng XHCN; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của mọi cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thì công tác này nhất định thành công.

 

NHỮNG NGUY CƠ VÀ CẦN THIẾT ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN TÌNH TRẠNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 


Đại hội XII của Đảng nhận định: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hóa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ có mặt bị giảm sút”. Và dự báo: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra tiếp tục tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp; khoảng cách giàu - nghèo, phân hóa xã hội ngày càng tăng, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng và Nhà nước”. Trong khi đó mặt trái của cơ chế thị trường là nguyên nhân cộng hưởng trực tiếp làm gia tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều này được minh chứng khi một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều hành vi vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hạn chế về năng lực, phẩm chất, lối sống thiếu lành mạnh; tình trạng tham nhũng, tiêu cực chưa đẩy lùi; xuất hiện ngày càng nhiều các biểu hiện mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ ở không ít tổ chức đảng, chính quyền các cấp. Nguy hiểm hơn đó là xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn tại, phát triển của chế độ XHCN. Một số cá nhân, tổ chức lợi dụng danh nghĩ “phản biện”, “góp ý” để bày tỏ “quan điểm” chính trị tự do dân chủ theo kiểu phương Tây... Đứng trước tình hình đó, Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Sự nhấn mạnh này không chỉ đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, mà còn xuất phát từ thực tiễn tình hình, từ quyết tâm giải quyết triệt để một vấn đề cấp bách hiện nay, đáp ứng nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Còn nhớ, trong lời nói chuyện tại lễ bế mạc Lớp bổ túc trung cấp, được Báo Vệ quốc quân đăng lại trên số 15, ngày 10/10/1947, Bác Hồ ví một tập thể, một tổ chức như một cơ thể và mỗi khâu, mỗi cá nhân là một bộ phận hợp thành cơ thể ấy. Người nói: “Mệnh lệnh cũng như dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi. Nếu chảy đến tay mà tắc nghẽn, thì tay bại. Tay bại thì người sẽ yếu đi”. Chủ trương xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cũng như “dòng máu chảy từ tim ra đến đầu, các tứ chi”, tắc ở bộ phận nào là “bại” ở bộ phận ấy, “bại” ở một bộ phận cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện chủ trương lớn của Đảng.

Bởi vậy, trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Từng tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay, thấy đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác làm. Từng cán bộ, đảng viên từ cấp cao đến cơ sở cùng làm. Nếu mỗi người tự chỉnh đốn bản thân mình trước thì cả tổ chức sẽ chuyển động”.

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

HUYỀN THOẠI MỘT CON ĐƯỜNG

    Đường Hồ Chí Minh trên biển là kỳ tích có một không hai trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, thể hiện nghệ thuật quân sự tài tình, độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân, cũng như tài trí, bản lĩnh, lòng quả cảm của những chiến sĩ tàu không số trên con đường huyền thoại. Hơn 60 năm đã trôi qua nhưng dấu ấn khai mở con đường như mới vừa hôm qua...

     Chuyến mở màn và dấu ấn Tập đoàn đánh cá sông Gianh

   Trước diễn biến của tình hình thực tiễn, ngày 13-1-1959, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tổ chức Hội nghị lần thứ 15, ban hành nghị quyết xác định nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới và vạch ra đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà. Trung ương nhận định, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ giữa ta và địch. Đảng phải lường trước khả năng ấy để chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó với mọi tình huống. Để trực tiếp chi viện cho cách mạng miền Nam, tháng 5-1959, Đoàn Vận tải quân sự 559 được thành lập với lực lượng nòng cốt gồm Tiểu đoàn 301 và Tiểu đoàn 603. Tiểu đoàn 301 vận tải đường bộ gồm 500 cán bộ, chiến sĩ được tuyển lựa từ Lữ đoàn 305 do Đại úy Chu Đăng Chữ và Đại úy Nguyễn Danh chỉ huy, có nhiệm vụ mở đường bộ vào Nam. Đây là con đường "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", con đường của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", con đường đã làm kinh sợ nhiều đời tổng thống Mỹ. Ngoài con đường Trường Sơn trên bộ còn có một con đường khác, đó là con đường biển vận chuyển vũ khí, hàng hóa, lực lượng vào chiến trường, được hình thành từ ý đồ chiến lược của Đảng. Cùng với con đường bộ xuyên Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển hình thành một hướng vu hồi, góp phần quan trọng bảo đảm cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ trang, bộ đội chủ lực và các địa phương nơi mà con đường bộ không vươn tới được.

   Thượng tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phan Trung Kiên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đánh giá: "Với tài lãnh đạo kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài dồn sức mở Đường Hồ Chí Minh trên bộ xuyên Trường Sơn thì việc mở con đường biển chiến lược bảo đảm cho cuộc kháng chiến của chúng ta không lúc nào bị chia cắt. Để bảo đảm yếu tố bí mật, chúng ta phải dùng những con tàu không ghi số hiệu nhằm qua mắt địch. Ta có Đường Hồ Chí Minh trên bộ nhưng làm sao để đưa được nhiều vũ khí vào chiến trường miền Trung, Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long? Vậy nên chúng ta quyết tâm phải tổ chức tuyến đường vận tải trên biển-Đường Hồ Chí Minh trên biển".

   Bến K15 Đồ Sơn (Hải Phòng) được biết đến là nơi con tàu Phương Đông 1 lần đầu tiên xuất phát vào đêm 11-10-1962, chở 30 tấn vũ khí vào bến Vàm Lũng (Cà Mau) thành công, khai thông con đường biển huyền thoại. Trước đó đã có những con tàu không số và những thủy thủ xuất phát từ sông Gianh (Quảng Bình). Đó là năm 1960, trong khi Tiểu đoàn 301 mở đường xuyên Trường Sơn thì Tiểu đoàn 603 bắt đầu mở con đường trên biển. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn 603 ẩn dưới cái tên là Tập đoàn đánh cá sông Gianh. Nhiệm vụ chuyến đi đầu tiên của Tập đoàn đánh cá sông Gianh là chở 5 tấn vũ khí, thuốc men chi viện cho Khu V. Địa điểm cập bến là khu vực Hồ Chuối, nằm khuất dưới chân đèo Hải Vân (Đà Nẵng).

   Chúng tôi cùng các cựu chiến binh của Đoàn tàu Không số quê ở Quảng Bình trở lại sông Gianh-nơi con tàu đầu tiên xuất phát (nay là thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình). Chứng tích của chiến tranh không còn, bến bãi hai bên sông Gianh đã thay đổi, nhưng ký ức và kỷ niệm của những ngày ấy thì vẫn không phai mờ. Ông Lê Ngọc Hòe, nguyên Phó chủ tịch UBND xã Thanh Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) cho biết: "Cách đây 60 năm, những người dân của xã đã tham gia đóng những con tàu gỗ đầu tiên cho Tập đoàn đánh cá sông Gianh. Chúng tôi không ngờ những con tàu đó lại là những con tàu không số đầu tiên tham gia vận chuyển vũ khí vào chi viện cho quân, dân miền Nam đánh giặc"...

     Đặt nền móng cho con đường lịch sử

   Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển (23-10-2011), chúng tôi may mắn được gặp ông Huỳnh Ba, nhân chứng duy nhất còn lại của chuyến đi đầu tiên đó. Ông đã kể về chuyến đi năm ấy, chuyến đi của ông và đồng đội trên một con tàu gỗ nhỏ, đối mặt với bao thử thách mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Chuyến đi dù không đưa được hàng đến bến nhưng nó lại mở ra một hướng đi, một kỳ vọng mới, đặt nền tảng cho con đường lịch sử-Đường Hồ Chí Minh trên biển. Chuyến đi đó, ông Nguyễn Bất, Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 603 làm thuyền trưởng, ông Trần Mức làm thuyền phó, các thành viên là Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ và Huỳnh Ba. Cả 6 thành viên quê ở Khu V, hồi chống Pháp từng ở trong đội thuyền của đồng chí Võ Bẩm và Anh hùng Nguyễn Á, bí mật chở vũ khí từ Khu V vào Khu VI.

   Nhằm che mắt địch nên tàu phải lựa khi sóng to, gió lớn để ra khơi. 18 giờ ngày 27-1-1960, khi nghe tin có gió mùa Đông Bắc tràn về, 6 thành viên cho thuyền nhổ neo. Chuyến đi ấy có Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến động viên, tiễn cán bộ, thủy thủ lên đường. Đêm đầu, anh em cho tàu chạy thẳng ra vùng hải phận quốc tế rồi men dần vào chân đèo Hải Vân. Đến ngày hôm sau thì sóng dữ quá, thuyền chồm qua chồm tới và có nguy cơ bị chìm. Anh em vẫn cố sức chèo lái nhưng không lại được với sóng gió nên thuyền cứ dạt vào phía Nam và bị gãy mất một lái. Sang ngày thứ ba thì thuyền lạc vào Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), cán bộ, thủy thủ định cho thuyền ngược lên thì lái thứ hai cũng bị gãy nốt. Lúc này trên biển sóng đã êm, nhiều tàu tuần tra của địch đổ ra tuần tiễu, kiểm soát. Trước tình huống nguy cấp, để giữ bí mật con đường, anh em đành ngậm ngùi thả hàng xuống biển trước khi bị bắt.

   Chúng tôi cùng ông Huỳnh Ba và các cựu chiến binh Đoàn tàu Không số khu vực Đà Nẵng ra chân đèo Hải Vân-nơi con tàu không số đầu tiên có ý định cập bến. Tại đây, chúng tôi cảm nhận được sự thú vị của lịch sử. Thời đó, ông Huỳnh Ba chỉ biết đưa vũ khí vào chân đèo Hải Vân, còn ai ra đón thì ông không rõ. Cùng khoảng thời gian đó, Tỉnh ủy Quảng Nam nhận được tin từ Trung ương điện vào: “Chờ đón hàng ở Hồ Chuối, chân đèo Hải Vân vào đêm 30 Tết”. Khi ấy, đồng chí Nguyễn Chơn, phụ trách quân sự tỉnh (sau này là Thượng tướng, Anh hùng LLVT nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), được cử đi đón tàu, thế nhưng lực lượng đến Hồ Chuối thức trọn hai đêm mà không thấy tín hiệu; chờ thêm một tuần cũng không thấy, mà một tháng cũng vẫn bằn bặt nên đành quay về căn cứ. Mọi người không hay, các thủy thủ của con tàu không số ấy đều đã bị địch bắt.

   Ngày đó, sau khi hủy tàu, ông Huỳnh Ba cùng các thủy thủ bị bắt, giam ở Đà Nẵng rồi chuyển vào khám Chí Hòa. Không khai thác được gì, địch lại chuyển ông và đồng đội sang nhà giam Phú Lợi (Sài Gòn), rồi từ đây lại đày ra Côn Đảo. Vài năm sau bị giải về đất liền, không bao lâu sau lại ra Côn Đảo. Cứ như vậy trong suốt 14 năm, ông bị chuyển đi chuyển lại tới hơn chục lần. Năm 1974, theo Hiệp định Paris, ông được địch thả. Ông tìm về đến Đà Nẵng thì cũng vừa lúc quê hương được giải phóng.

   Ông Huỳnh Ba quê ở xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam). Tôi được gặp ông năm 2011, khi đó ông đã cao tuổi, nhìn khắc khổ nhưng vẫn nhanh nhẹn. Từ chuyến đi đầu tiên của Tập đoàn đánh cá sông Gianh chở 5 tấn vũ khí, thuốc men vào chiến trường Khu V đến thời điểm tôi được gặp ông Huỳnh Ba đã hơn 50 năm. Hơn nửa thế kỷ với bao thăng trầm, biến đổi của cuộc sống nhưng có một bất biến là chất lính tàu không số không hề thay đổi. Tham gia chở vũ khí cho Nam Bộ kháng chiến chống Pháp từ năm 1946, đến năm 1960 đi chuyến tàu không số đầu tiên... qua hai cuộc kháng chiến trường chinh của dân tộc nhưng chiến sĩ Huỳnh Ba không quân hàm, không chức tước, địa vị, trở về đời thường làm ăn lương thiện, sống chất phác, thật thà, không mảy may nói về công lao khai mở.

   Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể thấy rõ chuyến tàu tuy không cập bến nhưng đó là tiền đề, là bài học để có những chuyến tàu sau này cập bến thành công. Từ những con người bình dị, suốt đời chịu đựng hy sinh, chính họ đã góp phần khai mở con đường biển chiến lược. Sự hy sinh thầm lặng mà cao cả ấy là một trong những nhân tố làm nên con đường vận chuyển vũ khí trên biển huyền thoại trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của thế hệ cha ông, trở thành biểu tượng của ý chí giành độc lập, tự do; là tượng đài của lòng quả cảm quyết đánh thắng giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hung./.