Chuyện về con đường biển và những người vận chuyển vũ khí
trên con đường ấy được ví như một thiên hùng ca ngời sáng về lòng yêu nước.
Trong điều kiện kẻ thù ngày đêm phong tỏa, nhưng với ý chí cao, sẵn sàng quyết
tử, cán bộ, chiến sĩ trên những con tàu không số vẫn băng qua hiểm nguy, đạp
sóng Biển Đông để vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, nhân lực,
kịp thời chi viện cho quân và dân miền Nam đánh giặc.
Đường Hồ Chí Minh trên biển là kỳ tích có một không
hai trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, thể hiện nghệ
thuật quân sự tài tình, độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân, cũng như
tài trí, bản lĩnh, lòng quả cảm của những chiến sĩ tàu không số trên
con đường huyền thoại. Hơn 60 năm đã trôi qua nhưng dấu ấn khai mở con đường
như mới vừa hôm qua...
Chuyến
mở màn và dấu ấn Tập đoàn đánh cá sông Gianh
Trước diễn biến của tình hình thực tiễn,
ngày 13-1-1959, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tổ
chức Hội nghị lần thứ 15, ban hành nghị quyết xác định nhiệm vụ cách mạng Việt
Nam trong giai đoạn mới và vạch ra đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà.
Trung ương nhận định, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng
chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ giữa ta và địch. Đảng phải lường
trước khả năng ấy để chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó với mọi tình huống.
Để trực tiếp chi viện cho cách mạng miền Nam, tháng 5-1959, Đoàn Vận tải quân
sự 559 được thành lập với lực lượng nòng cốt gồm Tiểu đoàn 301 và Tiểu đoàn
603. Tiểu đoàn 301 vận tải đường bộ gồm 500 cán bộ, chiến sĩ được tuyển lựa từ
Lữ đoàn 305 do Đại úy Chu Đăng Chữ và Đại úy Nguyễn Danh chỉ huy, có nhiệm vụ
mở đường bộ vào Nam. Đây là con đường "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước", con đường của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do",
con đường đã làm kinh sợ nhiều đời tổng thống Mỹ. Ngoài con đường Trường Sơn
trên bộ còn có một con đường khác, đó là con đường biển vận chuyển vũ khí, hàng
hóa, lực lượng vào chiến trường, được hình thành từ ý đồ chiến lược của Đảng.
Cùng với con đường bộ xuyên Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển hình thành
một hướng vu hồi, góp phần quan trọng bảo đảm cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ
trang, bộ đội chủ lực và các địa phương nơi mà con đường bộ không vươn tới
được.
Thượng tướng, Anh hùng LLVT nhân dân
Phan Trung Kiên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ
Quốc phòng, đánh giá: "Với tài lãnh đạo kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài dồn sức mở Đường Hồ Chí Minh trên bộ xuyên
Trường Sơn thì việc mở con đường biển chiến lược bảo đảm cho cuộc kháng chiến
của chúng ta không lúc nào bị chia cắt. Để bảo đảm yếu tố bí mật, chúng ta phải
dùng những con tàu không ghi số hiệu nhằm qua mắt địch. Ta có Đường Hồ Chí Minh
trên bộ nhưng làm sao để đưa được nhiều vũ khí vào chiến trường miền Trung, Nam
Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long? Vậy nên chúng ta quyết tâm phải tổ
chức tuyến đường vận tải trên biển-Đường Hồ Chí Minh trên biển".
Bến K15
Đồ Sơn (Hải Phòng) được biết đến là nơi con tàu Phương Đông 1 lần đầu tiên xuất
phát vào đêm 11-10-1962, chở 30 tấn vũ khí vào bến Vàm Lũng (Cà Mau) thành
công, khai thông con đường biển huyền thoại. Trước đó đã có những con tàu không
số và những thủy thủ xuất phát từ sông Gianh (Quảng Bình). Đó là năm 1960,
trong khi Tiểu đoàn 301 mở đường xuyên Trường Sơn thì Tiểu đoàn 603 bắt đầu mở
con đường trên biển. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn 603 ẩn dưới cái tên là Tập đoàn
đánh cá sông Gianh. Nhiệm vụ chuyến đi đầu tiên của Tập đoàn đánh cá sông Gianh
là chở 5 tấn vũ khí, thuốc men chi viện cho Khu V. Địa điểm cập bến là khu vực
Hồ Chuối, nằm khuất dưới chân đèo Hải Vân (Đà Nẵng).
Chúng tôi cùng các cựu chiến binh của
Đoàn tàu Không số quê ở Quảng Bình trở lại sông Gianh-nơi con tàu đầu tiên xuất
phát (nay là thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình).
Chứng tích của chiến tranh không còn, bến bãi hai bên sông Gianh đã thay đổi,
nhưng ký ức và kỷ niệm của những ngày ấy thì vẫn không phai mờ. Ông Lê Ngọc
Hòe, nguyên Phó chủ tịch UBND xã Thanh Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình) cho biết:
"Cách đây 60 năm, những người dân của xã đã tham gia đóng những con tàu gỗ
đầu tiên cho Tập đoàn đánh cá sông Gianh. Chúng tôi không ngờ những con tàu đó
lại là những con tàu không số đầu tiên tham gia vận chuyển vũ khí vào chi viện
cho quân, dân miền Nam đánh giặc"...
Đặt
nền móng cho con đường lịch sử
Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày mở Đường Hồ Chí
Minh trên biển (23-10-2011), chúng tôi may mắn được gặp ông Huỳnh Ba, nhân
chứng duy nhất còn lại của chuyến đi đầu tiên đó. Ông đã kể về chuyến đi năm
ấy, chuyến đi của ông và đồng đội trên một con tàu gỗ nhỏ, đối mặt với bao thử
thách mà ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Chuyến đi dù
không đưa được hàng đến bến nhưng nó lại mở ra một hướng đi, một kỳ vọng mới,
đặt nền tảng cho con đường lịch sử-Đường Hồ Chí Minh trên biển. Chuyến đi đó,
ông Nguyễn Bất, Đại đội trưởng Đại đội 1 của Tiểu đoàn 603 làm thuyền trưởng,
ông Trần Mức làm thuyền phó, các thành viên là Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn
Nữ và Huỳnh Ba. Cả 6 thành viên quê ở Khu V, hồi chống Pháp từng ở trong đội
thuyền của đồng chí Võ Bẩm và Anh hùng Nguyễn Á, bí mật chở vũ khí từ Khu V vào
Khu VI.
Nhằm che mắt địch nên tàu phải lựa khi
sóng to, gió lớn để ra khơi. 18 giờ ngày 27-1-1960, khi nghe tin có gió mùa
Đông Bắc tràn về, 6 thành viên cho thuyền nhổ neo. Chuyến đi ấy có Đại tướng,
Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến động viên, tiễn cán bộ, thủy thủ lên đường. Đêm
đầu, anh em cho tàu chạy thẳng ra vùng hải phận quốc tế rồi men dần vào chân
đèo Hải Vân. Đến ngày hôm sau thì sóng dữ quá, thuyền chồm qua chồm tới và có
nguy cơ bị chìm. Anh em vẫn cố sức chèo lái nhưng không lại được với sóng gió
nên thuyền cứ dạt vào phía Nam và bị gãy mất một lái. Sang ngày thứ ba thì
thuyền lạc vào Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), cán bộ, thủy thủ định cho thuyền ngược
lên thì lái thứ hai cũng bị gãy nốt. Lúc này trên biển sóng đã êm, nhiều tàu
tuần tra của địch đổ ra tuần tiễu, kiểm soát. Trước tình huống nguy cấp, để giữ
bí mật con đường, anh em đành ngậm ngùi thả hàng xuống biển trước khi bị bắt.
Chúng tôi cùng ông Huỳnh Ba và các cựu
chiến binh Đoàn tàu Không số khu vực Đà Nẵng ra chân đèo Hải Vân-nơi con tàu
không số đầu tiên có ý định cập bến. Tại đây, chúng tôi cảm nhận được sự thú vị
của lịch sử. Thời đó, ông Huỳnh Ba chỉ biết đưa vũ khí vào chân đèo Hải Vân,
còn ai ra đón thì ông không rõ. Cùng khoảng thời gian đó, Tỉnh ủy Quảng Nam
nhận được tin từ Trung ương điện vào: “Chờ đón hàng ở Hồ Chuối, chân đèo Hải
Vân vào đêm 30 Tết”. Khi ấy, đồng chí Nguyễn Chơn, phụ trách quân sự tỉnh (sau
này là Thượng tướng, Anh hùng LLVT nhân dân, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng), được cử
đi đón tàu, thế nhưng lực lượng đến Hồ Chuối thức trọn hai đêm mà không thấy
tín hiệu; chờ thêm một tuần cũng không thấy, mà một tháng cũng vẫn bằn bặt nên
đành quay về căn cứ. Mọi người không hay, các thủy thủ của con tàu không số ấy
đều đã bị địch bắt.
Ngày đó, sau khi hủy tàu, ông Huỳnh Ba
cùng các thủy thủ bị bắt, giam ở Đà Nẵng rồi chuyển vào khám Chí Hòa. Không
khai thác được gì, địch lại chuyển ông và đồng đội sang nhà giam Phú Lợi (Sài
Gòn), rồi từ đây lại đày ra Côn Đảo. Vài năm sau bị giải về đất liền, không bao
lâu sau lại ra Côn Đảo. Cứ như vậy trong suốt 14 năm, ông bị chuyển đi chuyển
lại tới hơn chục lần. Năm 1974, theo Hiệp định Paris, ông được địch thả.
Ông tìm về đến Đà Nẵng thì cũng vừa lúc quê hương được giải phóng.
Ông Huỳnh Ba quê ở xã Duy Hải, huyện Duy
Xuyên (Quảng Nam). Tôi được gặp ông năm 2011, khi đó ông đã cao tuổi, nhìn khắc
khổ nhưng vẫn nhanh nhẹn. Từ chuyến đi đầu tiên của Tập đoàn đánh cá sông Gianh
chở 5 tấn vũ khí, thuốc men vào chiến trường Khu V đến thời điểm tôi được gặp
ông Huỳnh Ba đã hơn 50 năm. Hơn nửa thế kỷ với bao thăng trầm, biến đổi của
cuộc sống nhưng có một bất biến là chất lính tàu không số không hề thay đổi.
Tham gia chở vũ khí cho Nam Bộ kháng chiến chống Pháp từ năm 1946, đến năm 1960
đi chuyến tàu không số đầu tiên... qua hai cuộc kháng chiến trường chinh của
dân tộc nhưng chiến sĩ Huỳnh Ba không quân hàm, không chức tước, địa vị, trở về
đời thường làm ăn lương thiện, sống chất phác, thật thà, không mảy may nói về
công lao khai mở.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể thấy
rõ chuyến tàu tuy không cập bến nhưng đó là tiền đề, là bài học để có những
chuyến tàu sau này cập bến thành công. Từ những con người bình dị, suốt đời
chịu đựng hy sinh, chính họ đã góp phần khai mở con đường biển chiến lược. Sự
hy sinh thầm lặng mà cao cả ấy là một trong những nhân tố làm nên con đường vận
chuyển vũ khí trên biển huyền thoại trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của thế
hệ cha ông, trở thành biểu tượng của ý chí giành độc lập, tự do; là tượng đài
của lòng quả cảm quyết đánh thắng giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng./.
Chuyện về con đường biển và những người vận chuyển vũ khí trên con đường ấy được ví như một thiên hùng ca ngời sáng về lòng yêu nước.
Trả lờiXóa