Thứ Ba, 19 tháng 10, 2021

TĂNG CƯỜNG CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Các hình thức hoạt động công tác tư tưởng có vị trí to lớn và trực tiếp quyết định chất lượng công tác tư tưởng trong quân đội. Tạo cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Mục tiêu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình” là xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, có tinh thần cảnh giác cách mạng và ý chí quyết chiến quyết thắng, luôn luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực đang tập trung ráo riết tiến công trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng; bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn với nhiều hình thức khác nhau chống phá công cuộc xây dụng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong đó, chiến lược “Diễn biến hòa bình” vẫn là một nguy cơ của cách mạng Việt Nam..    vậy, phòng chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong tình hình hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của quốc gia, dân tộc.

Hình thức tiến hành công tác tư tưởng trong quân đội rất phong phú, đa dạng, mỗi hình thức có tính độc lập tương đối của nó và có những yêu cầu biện pháp cụ thể khác nhau. Tuy vậy, nhưng giữa các hình thức có quan chặt chẽ với nhau cùng tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi và tiêu diệt những mầm mống tiêu cực trong quân đội. Thực hiện đồng bộ, phát huy hiệu quả của các hình thức hoạt động công tác tư tưởng sẽ góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng hệ thống các tổ chức trong quân đội vững mạnh, giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; đấu tranh có hiệu quả trong nhiệm vụ phòng chống âm mưu “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch.

Vì vậy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp, cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải nhận thức đầy đủ vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ, phương thức tiến hành công tác tư tưởng. Từ đó có quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các hình thức hoạt động công tác tư tưởng theo chức năng nhiệm vụ được giao. Trước hết, phải quán triệt thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng về lãnh đạo công tác tư tưởng, lý luận và xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; các chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về xây dựng môi trường văn hoá trong quân đội.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ. Qua đó xây dựng, củng cố niềm tin vững chắc vào mục tiêu lý tưởng của Đảng; bồi dưỡng phẩm chất chính trị đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Tổ chức tốt phong trào thi đua quyết thắng ở các đơn vị, bởi “thi đua là một biện pháp rất quan trọng, một công tác thường xuyên để giáo dục tư tưởng, củng cố tổ chức, rèn luyện quân đội lớn mạnh, bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống”1. Công tác thi đua phải được tiến hành thường xuyên liên tục mang lại hiệu quả thiết thực, kịp thời phát hiện và biểu dương, khích lệ gương điển hình “người tốt, việc tốt”  để nhân rộng điển hình tiên tiến làm cho cái tốt, cái tiến bộ, nhân tố mới nảy nở và lấn át cái xấu, cái ác; thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đất nước”1.

Phát huy vai trò và sức mạnh của hoạt động văn hoá, văn nghệ, đa dạng hoá nội dung và hình thức thông tin báo chí, góp phần nâng cao sự hiểu biết toàn diện, xây dựng tư tưởng, tình cảm cách mạng và thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần của mọiquân nhân. Đồng thời giúp họ đấu tranh loại bỏ những ảnh hưởng của văn hoá xấu độc của kẻ thù. Để các hoạt động này đi đúng hướng, đạt mục đích đề ra, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chuyên trách phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra chặt chẽ công tác xuất bản, in ấn, sáng tác, biểu diễn; kịp thời loại bỏ các khuynh hướng “phi chính trị hoá”, “thương mại hoá” nhằm gieo rắc tư tưởng, tư sản để từng bước chuyển hoá quân đội về chính trị./.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN

 

          Lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang được triển khai xây dựng và hoàn thiện ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, quá trình đó, theo nhận định của Đại hội XIII là vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về nhận thức và tổ chức thực hiện; cùng với đó là những khó khăn, thách thức đến từ sự chống phá của các thế lực thù địch với mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp.

          Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trong thời gian tới cần chú trọng:

          Một là, đấu tranh với quan điểm “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”.

          Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm, luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”; rằng CNXH là chuyên chính, không có dân chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, tha hóa...

          Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.

          Hai là, đấu tranh với quan điểm lợi dụng “xã hội dân sự” để âm mưu gây chuyển hóa chính trị ở Việt Nam.

          Bằng nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa “công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất, tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

           “Xã hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình, kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.

          Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta.

          Ba là, đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát quyền lực”.

          Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN.

          Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy, “tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

          Bất kể thể chế chính trị nào, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ có thể thành công khi có quyết tâm chính trị cao, coi trọng công tác phòng ngừa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục, tu dưỡng rèn luyện là cơ bản với trừng trị nghiêm khắc những cá nhân vi phạm; hoàn thiện thể chế về chống tham nhũng, tăng cường năng lực của bộ máy nhà nước và tính đồng bộ về pháp luật, pháp chế, kỷ cương; thực hiện tốt việc giám sát của các tổ chức, cá nhân trong xã hội với hoạt động của cơ quan nhà nước; có chính sách đãi ngộ với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức...

 

CỤM NHÀ GIÀN DK1: SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU NHƯ NHỮNG ĐÓA HOA!

“Vietnam: A bird sitting on a tree is never afraid of the branch breaking, because her trust is not on the branch but on it’s own wings. Always believe in yourself”. Dịch nôm na có nghĩa là: “Việt Nam như là một con chim đậu trên cành cây và không bao giờ sợ cành gãy. Bởi vì niềm tin của con chim ấy không nằm ở cành cây mà nằm ở đôi cánh. Hãy luôn luôn tin tưởng chính bản thân mình”.

Đó là dòng viết của độc giả Philippines trên diễn đàn quân sự Asean Military Forum, kèm theo bức ảnh chụp nhà giàn DK của Việt Nam tại Biển Đông. Những dòng viết ấy được đăng tải vào thời điểm tháng 6 vừa qua. Và ở cùng mốc thời gian 9 năm về trước, bãi cạn Scarborough - tên tiếng Việt là Hoàng Nham, đã bị mất về phía tay Trung Quốc sau một lần Philippines hành động hồn nhiên ngây thơ khi rút lực lượng tự vệ tại nơi này.

“Tại sao chính phủ Philippines không xây dựng những nhà giàn như Việt Nam tại Hoàng Nham, họ đã xây dựng những nhà giàn từ hơn 30 năm về trước và những công trình này đang giúp Việt Nam bảo vệ vùng biển của họ” - tài khoản Raymon Aquino.

“Chúng ta không những đã chậm trễ 30 năm mà sẽ còn lâu hơn nữa, chúng ta không biết chắc rằng bao nhiêu lâu nữa, Scarborough mới về lại với Philippines” - tài khoản Ylana Sapphire.

“Người Việt đi sau chúng ta từ rất lâu. Nhưng họ lại vượt lên trước. Họ nghèo hơn chúng ta rất nhiều, họ xây những căn nhà giữa biển (nhà giàn DK), họ bồi lấp căn cứ tại đất của chúng ta (ý nói các đảo tại Trường Sa), họ mua tàu ngầm… Với ngân sách quốc phòng tương đương Việt Nam, chúng ta có một đội tàu có thể giao chiến sòng phẳng với tàu đánh cá Việt Nam” - tài khoản Delfin Guelan

Cụm nhà giàn DK là một trong những công trình vĩ đại nhất của nước từ từ sau giải phóng đến năm 2000, cùng với nhà máy thủy điện Sơn La và đường dây 500kV Bắc Nam. Điều khiến cụm nhà giàn DK vĩ đại không nằm ở quy mô, mà nằm ở ý nghĩa to lớn về an ninh, quốc phòng, bảo vệ tài nguyên biển đảo Tổ Quốc.

Ngay đến cả Trung Quốc, một quốc gia với tiềm lực mạnh hơn, kinh tế mạnh hơn, khoa học kỹ thuật nổi trội hơn, cũng không nghĩ rằng một dự án như nhà giàn DK có thể được thực hiện. Họ cũng không nghĩ rằng Việt Nam dám làm, dám thực hiện một dự án đầy tính mạo hiểm như vậy giữa lúc bộn bề khó khăn. Năm 1988, sau Hải chiến Trường Sa, Trung Quốc tăng cường sự hiện diện tại thềm lục địa Tây Nam của Việt Nam. Trung Quốc không loại trừ việc lấn lướt xuống phía Nam và Tây Nam Biển Đông vì ưu thế gần như tuyệt đối về hải quân của khu vực. Ngày 17/10/1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký Quyết định số 19/NQ-TW về việc tiến hành xây dựng các công trình trên tất cả các bãi đá ngầm với tên gọi “Trạm dịch vụ Kinh tế - Khoa học kỹ thuật”, gọi tắt là công trình DK1.

Cùng thời điểm đó, khi biết Việt Nam đưa ra quyết định như vậy. Các nước Đông Nam Á đều thấy khá lạ lùng, họ cho rằng đây là một dự án “dở hơi” của người Việt. Vì lúc ấy Việt Nam đang là quốc gia hạ cấp ở một khu vực vùng trũng của thế giới. Để triển khai các cụm nhà giàn như vậy là một điều phi lý và chưa từng có tiền lệ trên thế giới. Họ nghĩ rằng Việt Nam đang lãng phí lớn cho một dự án đầy mạo hiểm và không khả thi. Có quá nhiều lý do khiến họ không tin vào hiệu quả của một dự án như vậy: kĩ thuật, thiên tai, chi phí xây dựng - duy trì và cả áp lực từ Trung Quốc.

Nhưng chỉ trong 9 tháng từ khi có quyết định, khoảng giữa tháng 6/1989, nhà giàn đầu tiên đã được hình thành. Trong tháng 6 năm đó, ta hoàn tất 3 nhà giàn DK1 trong sự ngỡ ngàng của hải quân các quốc gia trong khu vực. Cùng với hệ thống nhà giàn được hình thành, con đường từ đất liền ra Trường Sa được rút ngắn lại, ngư dân có thêm một “cột mốc” xác định chủ quyền Việt Nam giữa biển cả.

Khi nhận thấy Việt Nam đã xây dựng thành công cụm nhà giàn DK, người Philippines đã nhận thấy rõ tác động to lớn của những công trình như vậy tại vùng thềm lục địa, hải đảo. Và họ còn tham vọng hơn khi muốn xây dựng một ngọn hải đăng lớn cùng một công trình nghiên cứu, quân sự, hỗ trợ ngư dân tại bãi cạn Scarborough. Jose T. Almonte, từng là Tổng Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia trong Nội các của Tổng thống Philippines Fidel V. Ramos, đã đề xuất xây dựng một cụm công trình như vậy với sự trợ giúp của Liên Hợp Quốc và Mỹ. Nhưng phía Mỹ và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Boutros Boutros-Ghali lại không muốn làm “mích lòng” Trung Quốc, vì thế dự án này mãi mãi trôi vào quên lãng và chỉ còn xuất hiện trong tiềm thức nuối tiếc của người dân Philippines. Trên thực tế, những thành phần của cụm công trình này đã được hình thành, nhưng chúng chưa bao giờ được đưa ra bãi cạn.

“Giá như, nếu Philippines xây được ngọn hải đăng ấy, thì một khi ngọn hải đăng này bị tấn công, sẽ kích hoạt được điều khoản phòng thủ chung với Mỹ” - Carlyle Thayer, vị giáo sư khá có tiếng về các vấn đề Biển Đông của Học viện Quốc phòng Úc. Học giả Richard Heydarian, Đại học De ​​La Salle ở Manila cho biết giá như Mỹ không bỏ rơi Philippines ngay từ đầu và hỗ trợ Philippines xây dựng những công trình trên biển, thì cục điện Biển Đông có thể đã rất khác.

Thẩm phán Tòa án Tối cao Philippines đã nghỉ hưu Antonio T. Carpio phát biểu trên tờ Philippine Daily Inquirer cho biết Philippines có “bằng chứng lịch sử về việc kiểm soát bãi cạn Scarborough. Nhưng trên thực tế, mặc dù hải quân Philippines từng kiểm soát khu vực này, nhưng chẳng có một tư liệu, công trình… nào cho thấy hải quân Philippines từng “thừa kế” hay “hiện diện” tại đây cả. Đó là vì sao từng có một giai đoạn người Philippines lấy những mảng rác từ Biển Đông để châm chọc hải quân Philippines: “Họ chỉ để lại rác mà thôi”.

Với cụm nhà giàn DK1,Việt Nam đã chứng minh cho thế giới thấy sự hiện diện của hải quân nhân dân Việt Nam tại đây và chỉ có Việt Nam mà thôi. Hơn 33 năm trôi qua, những công trình này đã vượt qua bao nhiêu gian khó, mưa bão, sự đe dọa của kẻ thù, biết bao nhiêu thế hệ, đang và sẽ chiến đấu, sống, làm việc để duy trì hình hài Tổ Quốc giữa biển. Những công trình trình ấy đứng vững chãi giữa biển khơi, như những đóa hoa giữa biển cả bao la./.

Môi Trường ST.


Tự hào huyền thoại Đoàn tàu "không số"

 

Tự hào huyền thoại Đoàn tàu "không số"

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961-23/10/2011), chiều 19/10, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt mặt đoàn đại biểu cựu chiến binh đường Hồ Chí Minh trên biển và đại diện cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân có chiến công xuất sắc, đặc biệt xuất sắc.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước tri ân các anh hùng liệt sĩ, các cựu chiến binh đường Hồ Chí Minh trên biển, Chủ tịch nước khẳng định, việc mở con đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện tầm nhìn chiến lược, sáng tạo, sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Cách đây 60 năm, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, trước đòi hỏi phát triển mạnh mẽ của cách mạng Miền Nam, ngày 23/10/1961, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 759 - Đoàn tàu Không số, đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, mở con đường biển chiến lược quan trọng vận tải chi viện chiến trường miền Nam. Bằng ý chí cách mạng tiến công, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, lực lượng đoàn tàu “Không số” với đường Hồ Chí Minh trên biển đã vận chuyển trên 150.000 tấn vũ khí, trang bị và hàng chục ngàn lượt cán bộ chi viện chiến trường Miền Nam, trực tiếp đến những nơi xa nhất, khó khăn nhất dọc các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nam Bộ để quân và dân ta làm nên những chiến công vang dội, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước khẳng định, việc mở con đường Hồ Chí Minh trên biển thể hiện tầm nhìn chiến lược, sáng tạo, sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Đó là kỳ tích trong chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Con đường mang tên Bác Hồ kính yêu giúp nối liền giữa hậu phương lớn miền Bắc với các chiến trường ác liệt miền Nam, đến các địa bàn xa xôi, khó khăn, gian khổ và ác liệt nhất mà tuyến đường Trường Sơn trên bộ chưa vươn tới được. Điều đó góp phần nâng cao khả năng chiến đấu, phát triển lực lượng, đặc biệt đã làm thay đổi cách đánh và tương quan về lực lượng giữa ta và địch, cổ vũ phong trào đấu tranh vũ trang ngay trong lòng địch, tạo ra bước phát triển mới cho cách mạng miền Nam.

Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường vận chuyển chiến lược, độc đáo, đạt hiệu quả cao, rút ngắn được thời gian vận chuyển và thương vong ít. Chỉ tính 100 tấn vũ khí chở bằng đường biển, trên một con tàu có 10 đến 15 cán bộ, chiến sỹ đi trong 10 ngày, nếu vận chuyển bằng đường bộ thì phải cần 1 Tiểu đoàn vận tải cơ giới hoặc 1 Sư đoàn bộ binh khuân vác, thời gian mất mấy tháng trời mới đến nơi. Chính vì vậy mà đã đáp ứng được yêu cầu “thần tốc”, “đại thần tốc” của Bộ Tư lệnh Chiến dịch lúc bấy giờ.

Nêu những ý nghĩa lớn đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, bài quan trọng học rút ra từ việc hình thành và vận hành thành công đường Hồ Chí Minh trên biển đó là chúng ta đã xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành tuyệt đối và luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, quyết chiến quyết thắng. Bài học nữa là luôn tích cực xây dựng lực lượng, chủ động sáng tạo phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thuyền trưởng, chính trị viên. Đặc biệt, phải trú trọng xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong nội bộ, đoàn kết với nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

“Những chiến công anh hùng và sự hy sinh cao cả của các lực lượng mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác trên Biển Đông mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc. Sự dũng cảm hy sinh của những cán bộ, chiến sĩ Đoàn tàu "không số" đã trở thành bất tử, trở thành huyền thoại cho lớp lớp đời sau ngưỡng mộ, trân trọng và tự hào. Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao của những đồng chí, đồng bào đã làm nên kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển. Hôm nay, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, một lần nữa, tôi đánh giá cao và tri ân những công lao to lớn của các cán bộ, chiến sỹ và đồng chí, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, hy sinh và làm nên trên con đường vận tải chiến lược huyền thoại trên biển mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu”, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho biết.

Để tiếp tục phát huy truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc trong tình hình mới, phát huy truyền thống của Quân chủng Hải quân, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ: “Việt Nam chúng ta chỉ có 33 vạn km2 đất liền, một đất nước tam sơn, tứ hải nhất phần điền, 3 phần là núi, 4 phần là biển, chỉ một phần đất đai nông nghiệp. Cho nên biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là bờ cõi thiêng liêng quốc gia. Chúng ta quyết bảo vệ và giữ gìn non sông bờ cõi quốc gia để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần ấy, tôi đề nghị Quân chủng Hải quân tập trung xây dựng Quân chủng tiến thẳng lên hiện đại như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Trong đó lấy xây dựng Quân chủng vững mạnh về chính trị làm cơ sở nền tảng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Quân chủng”.

Và với yêu cầu mới, tiếp tục phải bảo vệ trọn vẹn chủ quyền biển, đảo trong mọi tình huống, giữ vững được môi trường hoà bình, ổn định trên các vùng biển để phát triển đất nước; giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước, luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Đối với các cựu chiến binh đường Hồ Chí Minh trên biển, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc mong muốn, mỗi đồng chí cựu chiến binh tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng, vẻ vang của Đoàn tàu "không số" để mãi mãi là những tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của lòng dũng cảm, ý chí sắt đá, không ngừng nỗ lực tham gia xây dựng gia đình, quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Cùng với đó là thực hiện tốt công tác nghĩa tình đồng đội, hỗ trợ giúp đỡ nhau của các cựu chiến binh đường Hồ Chí Minh trên biển.

Các cựu chiến binh và các địa phương tôn tạo, gìn giữ các di tích của các con tàu không số, những nơi xuất phát, điểm đến với nhiều dấn ấn quan trọng để vừa tri ân các anh hùng liệt sĩ, vừa giáo dục cho các thế hệ mai sau.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Quốc phòng, Quân chủng Hải quân và các cấp ủy, chính quyền tiếp tục thực hiện thật tốt chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia các hoạt động của đường Hồ Chí Minh trên biển, nhất là các trường hợp có hoàn cảnh khó khăn, để góp phần làm vơi đi những mất mát, hy sinh to lớn của đồng chí, đồng bào ta./.

 

Tiêm vắc xin Covid-19 cho trẻ, phụ huynh phải lưu ý gì?

    “Tùy từng trẻ, có thể có những triệu chứng sau tiêm khác nhau, kéo dài 2-3 ngày. Một số trường hợp, triệu chứng có thể xuất hiện muộn hơn 7-14 ngày sau tiêm vắc xin Covid-19”, bác sĩ Hiền Minh chia sẻ. 

    Bộ Y tế đã có văn bản về việc tiêm phòng vắc xin phòng Covid-19 cho trẻ em 12-17 tuổi. Bộ cho hay Việt Nam sẽ mở rộng đối tượng tiêm cho trẻ từ 12- 17 tuổi theo lộ trình từ lứa tuổi cao đến thấp, theo tiến độ cung ứng vắc xin và tình hình dịch tại địa phương.

Về vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Hiền Minh, Phó trưởng đơn vị tiêm chủng Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đã đưa ra những lưu ý trước và sau khi tiêm vắc xin Covid-19 cho trẻ 12-17 tuổi.

    Theo Bác sĩ Nguyễn Hiền Minh, phụ huynh không tự ý ngừng thuốc trẻ đang điều trị bệnh lý mạn tính. Đem toa thuốc, bệnh án (nếu có) để bác sĩ khám sàng lọc tiêm chủng xem xét chỉ định vắc xin Covid-19 phù hợp. Đồng thời, không trì hoãn những lịch tiêm vắc xin khác mà trẻ đang tiêm chủng, đem theo sổ tiêm chủng những vắc xin khác của trẻ khi đến tiêm vắc xin Covid-19. 

    Bên cạnh đó, bác sĩ lưu ý, trẻ em gái đến ngày hành kinh cũng không cần thiết tạm hoãn tiêm chủng, trừ khi trẻ đau bụng nhiều, nôn ói, mệt mỏi kèm sốt. 

    Vào trước ngày tiêm, gia đình nên cho trẻ nghỉ ngơi, ngủ sớm. Phụ huynh nên giải thích cho trẻ về việc tiêm vắc xin Covid-19, tạo tâm lý thư giãn thoải mái cho trẻ. Bố mẹ cũng có thể cho trẻ dùng thêm một bữa ăn nhẹ 1 tiếng trước khi đi tiêm, để tránh chờ lâu sẽ khiến trẻ đói bụng. Trẻ có thể uống những viên sủi multivitamin hoặc vitamin C (sau ăn) trước khi đi tiêm.  

    “Uống nhiều nước vào ngày tiêm vắc xin có thể giúp trẻ bớt sốt, bố mẹ cho trẻ mặc trang phục thoải mái, rộng rãi khi đi tiêm. Nếu không có vắc xin nào khác tiêm cùng ngày thì vị trí tiêm vắc xin Covid-19 nên là tay không thuận (ví dụ trẻ thuận tay phải thì nên tiêm vắc xin tay bên trái) để giảm những khó khăn trong sinh hoạt học tập của trẻ do đau, nhức mỏi cánh tay sau tiêm vắc xin. Lưu ý không để băng keo cá nhân ở vị trí tiêm quá lâu, sau 30 phút có thể giúp trẻ gỡ ra”, Bác sĩ Hiền Minh tư vấn. 

    Ngoài ra, quan sát theo dõi sức khỏe trẻ ít nhất 30 phút sau tiêm tại điểm tiêm chủng. Bạn nên dặn dò trẻ nếu có bất cứ những triệu chứng khó chịu nào nên báo ngay cho ba mẹ hoặc nhân viên y tế. Sau đó, phụ huynh cho trẻ về nhà nghỉ ngơi ngay, không nên đi chơi hay tham gia những hoạt động thể lực khác vào ngày tiêm chủng. 

    Phó trưởng đơn vị tiêm chủng Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cũng đưa ra những lưu ý khi chăm sóc trẻ sau khi tiêm vắc xin Covid-19. Đó là phụ huynh hay người trong gia đình nên bên cạnh trẻ 24/24 giờ, ít nhất là trong 3 ngày đầu sau tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 để có thể kịp thời phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm sau tiêm vắc xin.  

    “Tùy từng trẻ, có thể có những triệu chứng sau tiêm khác nhau, kéo dài 2-3 ngày. Có những trường hợp, triệu chứng có thể xuất hiện muộn hơn 7-14 ngày sau tiêm vắc xin Covid-19”, bác sĩ chia sẻ. 

    Cụ thể, tại chỗ tiêm, trẻ có thể bị sưng, đỏ, đau nhức, có thể nổi cục nhỏ, ngứa hoặc nhức mỏi cánh tay. Gia đình không nên bôi, chườm, đắp bất cứ thứ gì (lá cây, dầu gió, trứng gà…) vào chỗ sưng đau, có thể mát xa nhẹ nhàng cánh tay cho trẻ. Những thuốc kháng dị ứng nên được dùng với sự hướng dẫn của nhân viên y tế. 
    Về toàn thân, trẻ có thể sốt, mệt mỏi, nhức đầu, nhức mỏi toàn thân, buồn nôn. Một số trẻ có thể dễ buồn ngủ hoặc đói bụng nhiều hơn bình thường. Đồng thời, người thân thường xuyên đo thân nhiệt cho trẻ.

    Nếu sốt dưới 38,5 độ C, bố mẹ cho trẻ mặc quần áo mỏng, thoáng mát nhưng lưu ý không để nhiễm lạnh. Bố mẹ nên nhắc trẻ uống nhiều nước. 

    Nếu sốt từ 38,5 độ C trở lên hoặc sưng đau nhiều tại chỗ tiêm, sử dụng thuốc cho trẻ 12-17 tuổi 1 viên x 3-4 lần/ ngày Paracetamol 500mg (tên gọi trên thị trường Panadol, Hapacol, Tylenol, Efferalgan…) 

    Đặc biệt, phụ huynh theo dõi những dấu hiệu có liên quan đến biến chứng viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim sau tiêm vắc xin mRNA ở trẻ 12-17 tuổi, nhất là ở trẻ nam và sau mũi thứ hai, thường 2-4 ngày sau tiêm vắc xin (cũng có thể gặp sớm 12h sau tiêm hoặc muộn hơn).

    Đó là đấu hiệu đau ngực, cảm giác ép nặng hoặc khó chịu ở ngực, thở hụt hơi, khó thở, cảm giác nhịp tim nhanh hay chậm bất thường, không đều hoặc đập thình thịch, hồi hộp đánh trống ngực.

    “Bạn nên đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất khi trẻ có than phiền những dấu hiệu trên. Phụ huynh không nên quá lo lắng vì hầu hết những ca viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim cấp tính rất hiếm gặp sau tiêm vắc xin Covid-19, đều khá lành tính và thường sẽ hồi phục nhanh chóng. Không cho trẻ ăn những thức ăn mà trẻ đã từng dị ứng (bất cứ mức độ nào) ít nhất 2 tuần sau tiêm vắc xin”, bác sĩ Hiền Minh nhấn mạnh.

 


Bảo vệ bí mật quân sự - đòi hỏi tất yếu để bảo vệ Tổ quốc: Nhìn từ kinh nghiệm nước ngoài

    Xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phải có những nguyên tắc nghiêm ngặt để bảo vệ bí mật quân sự, bí mật quốc gia. Đó là vấn đề có tính quy luật không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới. Thế nhưng, thời gian gần đây, có những người vì nhiều lý do đã có những kiến nghị thể hiện tư duy đơn giản, đi ngược với những nguyên tắc ấy.

    Nhưng thực tiễn lịch sử cũng chứng minh, hoạt động quân sự dù là việc cơ mật, quốc gia đại sự nhưng không tách rời hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước. Quản lý Nhà nước không tách rời quản lý hoạt động quân sự song nội dung, phương thức quản lý có tính đặc thù. Nếu không nắm vững được nguyên tắc đặc thù ấy, có thể dẫn đến những tác hại khôn lường.

    Câu chuyện xung quanh các sự cố tai nạn máy bay gần đây và những luồng ý kiến trên mạng xã hội cùng những kiến nghị quân đội phải cung cấp bí mật quân sự, phải công khai các thông tin về quốc phòng… cho thấy những suy nghĩ đơn giản, chưa phù hợp các nguyên tắc quản lý xã hội. Xin được dẫn chứng một ví dụ về cách giải quyết sự việc của nước Mỹ. Vào năm 1996, chuyến bay mang số hiệu 800 của hãng Trans World Airlines (TWA) phát nổ ngoài khơi bờ biển New York, lấy đi sinh mạng của 230 người. Các nhân chứng ở hiện trường đều cho rằng, có một vệt sáng bay tới phía chiếc máy bay trước khi nó bị nổ, nghi vấn máy bay bị trúng tên lửa làm nóng dư luận. Một cuộc điều tra kỹ lưỡng đến mức các cơ quan chức năng đã thu gom gần như toàn bộ các mảnh vỡ của chiếc máy bay và phục dựng lại 97% nguyên bản với sự hỗ trợ của hàng trăm kỹ sư, chuyên gia đầu ngành về hàng không vũ trụ. Sau 4 năm, các chuyên gia kết luận không có sự tấn công quân sự nào mà chỉ do thùng dầu ở cánh máy bay đã phát nổ. Nhưng với các tai nạn máy bay quân sự, nước Mỹ cũng như nhiều quốc gia khác, đều không công khai, công bố thông tin tỉ mỉ vì nó chứa đựng bí mật quốc gia. Cách đây vài tháng, một máy bay chiến đấu thuộc đội bay biểu diễn Thunderbird của Không lực Mỹ đang biểu diễn nhân lễ tốt nghiệp của Học viện Không quân Mỹ khi bay qua đám đông đang tập trung để nghe Tổng thống Biden phát biểu đã bất ngờ gặp sự cố lao thẳng xuống đất. Ông Biden đã chia sẻ trước tai nạn này, đề cao sự rèn luyện, cống hiến của những phi công và dư luận cũng không có gì quá ồn ào hay phê phán, đòi “công khai”.

    Theo tài liệu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước ta, khi xây dựng Luật Tiếp cận thông tin thì các quốc gia trên thế giới đều có những chính sách chặt chẽ để bảo vệ bí mật quân sự. Năm 2013, Nhật Bản thông qua Luật Bí mật và năm 2014 nước này tiếp tục thông qua Luật Bảo vệ bí mật đặc biệt trong đó xác định loại tài liệu bí mật để bảo đảm an ninh quốc gia. Theo quy định của luật này thì 382 loại thông tin được xác định là mật và do đó ước tính có khoảng 460.000 tài liệu mật mà công chúng không thể tiếp cận. Thái Lan tuy chưa có Luật Bí mật nhà nước nhưng có Quy tắc về giữ bí mật nhà nước được ban hành năm 2001. Luật An toàn 2015 của nước này cùng với Luật Hình sự có quy định rằng: Cán bộ gìn giữ hòa bình có thể ngăn chặn sự tuyên truyền bất kỳ tin tức, phân phát sách báo, ấn phẩm hoặc bất kỳ tài liệu nào khác có chứa các thông tin sai lệch có thể gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng và gây hoang mang trong dư luận xã hội. Ở Hàn Quốc, Luật An ninh quốc gia năm 1948 quy định hình phạt tử hình cho hành vi tiếp cận, thu thập, tuyên truyền, rò rỉ thông tin làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

 

Đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân

    Chủ nghĩa cá nhân là một tệ nạn xã hội, nó làm hư hỏng cán bộ, phá hoại tổ chức một cách ngấm ngầm, âm ỉ như loài sâu mọt đục khoét thân cây từ bên trong, rất khó nhìn thấy, không dễ diệt trừ tận gốc. Người mắc bệnh chủ nghĩa cá nhân thì làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng, chỉ lo thu vén cho mình, không muốn mình vì mọi người mà chỉ muốn mọi người vì mình. Hơn thế nữa, bệnh cá nhân chủ nghĩa làm cho cán bộ ngại khổ, ngại khó, thấy lợi là hám, thấy tiền là thích, thấy gái là mê và nó dẫn đến bệnh tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa.

     Sự phát tác của căn bệnh chủ nghĩa cá nhân đẻ ra tính tự cao, tự đại, coi mình là tài giỏi, đứng trên tập thể, xem thường quần chúng và tất yếu nảy sinh tính độc đoán, chuyên quyền, gia ơn, ban phát. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự mất dân chủ, thiếu công khai, minh bạch, mất tính đoàn kết, xa rời kỷ luật, ra sức chạy chức, chạy ghế, chạy quyền; kém tinh thần trách nhiệm, dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; làm hư hỏng tổ chức, phá hỏng chế độ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của dân tộc; là kẻ thù của cách mạng, là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm tha hóa Đảng. Người chỉ ra các loại bệnh nảy sinh từ chủ nghĩa cá nhân là: bệnh quan liêu; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh “hữu danh vô thực”; bệnh tị nạnh; bệnh nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh…

    Tác hại của chủ nghĩa cá nhân vô cùng to lớn, hiện nay trong Đảng vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên chưa thấy hết được tác hại của chủ nghĩa cá nhân, của lối sống cá nhân chủ nghĩa và như vậy chừng nào chủ nghĩa cá nhân còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên thì khi đó sẽ còn là một trở ngại lớn đối với tổ chức đảng và ngay chính bản thân của người cán bộ, đảng viên trong quá trình phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình hiện nay vừa được xem là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

    Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần phân tích, làm rõ tác hại của chủ nghĩa cá nhân. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tư cách đảng viên; khắc phục mọi biểu hiện cơ hội, thực dụng, mơ hồ mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu và những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống.

    Các cấp ủy đảng cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức xây dựng đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh; đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa thiết thực, khả thi; kết hợp “chống và xây”, “xây và chống”, nói đi đôi với làm, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất hiện nay. Quá trình tiến hành kiểm điểm phải bảo đảm thật sự dân chủ, nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần xây dựng, đúng yêu cầu, nội dung, cách làm. Cấp trên phải làm gương tự phê bình trước, cấp dưới làm sau; tập thể làm trước, cá nhân làm sau; các đồng chí trong thường vụ, cấp ủy viên cấp trên gương mẫu, nghiêm túc tự phê bình và phê bình, làm gương cho cấp dưới.

    Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc giám sát, tích cực đấu tranh, phê phán những hành động sai trái của cán bộ, đảng viên, góp phần phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, phòng chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức, làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sơ tổng kết, rút kinh nghiệm gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị; các cấp ủy đảng cần có nghị quyết lãnh đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa đơn vị; đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng.

Giữ gìn và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"

    Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của quân nhân cách mạng được hình thành và phát triển trong suốt gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” trong chiến tranh trước đây cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay luôn in đậm trong lòng nhân dân, làm cho mối quan hệ quân dân luôn luôn gắn bó, tạo nên sức mạnh to lớn để Quân đội ta chiến thắng mọi kẻ thù.

    Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, do những tác động nhiều mặt của tình hình thế giới, trong nước; tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; từ sự quản lý không chặt chẽ của các cơ quan, đơn vị và sự thiếu rèn luyện của một số cán bộ, chiến sĩ... đã xuất hiện những lời nói, cử chỉ, hành động không đúng. Nhiều trường hợp quân nhân vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước ở mức độ nghiêm trọng, đăc biệt nghiêm trọng hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, lô đề, cờ bạc, vay nợ không có khả năng chi trả... làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống của Quân đội; đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây cũng chính là một nội dung mà kẻ thù tập trung chống phá, nhằm làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết quân dân. Để góp  phần xây dựng Quân đội ta thực sự vững mạnh các cơ quan đơn vị cần quan tâm đặc biệt đến việc giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

    Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Tập trung, nâng cao sức mạnh của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm cao; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân. Các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” bằng những nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực.   

    Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và hoàn thiện thông qua hoạt động thực tiễn. Vì vậy, cần tổ chức cho bộ đội tích cực tham gia các nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, quản lý vùng trời; tăng cường các biện pháp quản lý, duy trì nền nếp, chế độ ở từng cơ quan, đơn vị; quản lý chặt chẽ quân số, nhất là trong các giờ nghỉ, ngày nghỉ; quản lý chắc các mối quan hệ xã hội của quân nhân; quan tâm sâu sát, nắm và quản lý tốt tình hình tư tưởng bộ đội, chú trọng các đối tượng cá biệt trong cơ quan, đơn vị mình; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, tạo sân chơi bổ ích để thu hút bộ đội tham gia. Đồng thời, đẩy mạnh công tác dân vận và thông qua hoạt động thực tiễn để đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng đối tượng. 

    Để việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đạt yêu cầu đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác phấn đấu, rèn luyện theo các tiêu chí đã xác định; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi quần chúng, cấp dưới, công tâm trong xử lý các công việc; giải quyết hài hoà các mối quan hệ; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ.

    Coi trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho bộ đội hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; phản bác các quan điểm sai trái, lối sống thiếu lành mạnh, ngại phấn đấu, rèn luyện.

    Bên cạnh đó, mỗi quân nhân phải là người tuyên truyền, giáo dục thuyết phục nhân dân bằng chính lời nói và việc làm của mình, phải ra sức giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Bộ đội đi đến đâu đều phải được nhân dân yêu mến, tin tưởng, thực hiện đúng khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”; trong quan hệ với nhân dân, không được đụng đến “cái kim, sợi chỉ” của dân, càng không được làm điều gì phương hại đến lợi ích của nhân dân, trực tiếp là nhân dân địa phương nơi đóng quân.

    Mỗi cán bộ, chiến sĩ không những phải tích cực tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà còn phải tham gia tích cực và có hiệu quả trong các nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở các địa bàn, nhất là đối với các phân đội đóng quân ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo; phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và phòng chống các tệ nạn xã hội...

    Trong thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào, ở đâu, cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều phải ra sức phát huy truyền thống tốt đẹp “vì nhân dân quên mình”, thật sự là người chiến sĩ của quân đội cách mạng, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xứng đáng với phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

  

Nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ Quân đội

    Đoàn kết nội bộ Quân đội là sự gắn kết chặt chẽ giữa quân nhân với quân nhân, quân nhân với tổ chức, các tổ chức trong Quân đội với nhau trên cơ sở tình cảm giai cấp, tình thương yêu con người, tình đồng chí, đồng đội, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhằm xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

     Những năm qua, mối quan hệ đoàn kết trong nội bộ Quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    Tuy nhiên, thời gian qua đoàn kết nội bộ trong Quân đội có nơi còn mang tính hình thức; tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quân phiệt, bè phái, cục bộ địa phương dẫn đến mất đoàn kết, biểu hiện bằng mặt mà không bằng lòng… Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là nhân tố hiện hữu tác động xấu đến sự đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị. Có người tuy là cán bộ, đảng viên nhưng có tư tưởng thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu trung thực, gây bè kéo cánh, phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đơn vị.

    Tình trạng trên đang là một trong những nguyên nhân để các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với Quân đội ta. Chúng lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và những yếu kém, khuyết điểm, hạn chế của ta, để bôi nhọ, nói xấu, xuyên tạc mối đoàn kết trong nội bộ đơn vị, gây hoài nghi lẫn nhau, làm giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ vào lãnh đạo, chỉ huy, khoét sâu mâu thuẫn, bất đồng trong cơ quan, đơn vị nhằm chia rẽ nội bộ Quân đội ta, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội...

    Để nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ Quân đội, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng mối đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị. Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức đảng gắn với việc lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng cao, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt phải là người mẫu mực về tinh thần đoàn kết, biết kết hợp, giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích, đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, có khả năng quy tụ tinh thần đoàn kết trong cấp ủy, chi bộ, đảng bộ.

    Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp phải thực sự nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, tổ chức xây dựng tinh thần đoàn kết nội bộ. Thường xuyên quán triệt và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng quyền của đảng viên; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quy chụp, áp đặt ý kiến cá nhân, thành kiến, trù dập hoặc e dè nể nang, thiếu trung thực, không dám đấu tranh với những nhận thức và hành động sai trái. Tăng cường kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến”, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, những biểu hiện mất đoàn kết nội bộ.

    Các cấp cần tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và quần chúng có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao tinh thần đoàn kết nội bộ; bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao tính tiền phong gương mẫu, tình thương yêu đồng chí, đồng đội cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, xem đó vừa là chuẩn mực đạo đức cách mạng, vừa là nhân tố cơ bản để xây dựng và bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng, có lòng tự trọng, xây dựng nếp sống kỷ cương, tình thương, trách nhiệm với tổ chức, đồng chí, đồng đội; có biện pháp đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, kích động chia rẽ đoàn kết trong đơn vị. Có cơ chế, chính sách bảo đảm tốt quyền lợi, lợi ích chính đáng của quân nhân. Chăm lo, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, chống tham nhũng, lãng phí, bớt xén tiêu chuẩn, không để bộ đội khó khăn, thiếu thốn về vật chất, tinh thần; mọi bức xúc về tư tưởng của bộ đội phải được giải quyết kịp thời, chính xác. Đồng thời, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu, có thành tích trong xây dựng đoàn kết nội bộ, qua đó động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 


“Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”

    Đó là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11-9-1950.

    Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

    Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc quan tâm chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị; xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, là tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng vững chắc tạo sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

“Cán bộ phải thương yêu đội viên”

    Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài phát biểu tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong 2, họp từ ngày 23 đến 28-10-1950 tại tỉnh Cao Bằng.

    Tình đồng chí, đồng đội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của quân đội cách mạng, vừa là cơ sở tạo nên sức mạnh của quân đội, trong đó quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ là mối quan hệ đặc trưng bản chất. Mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được hình thành, phát triển trong quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của quân đội. Một mặt, dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội; mặt khác, dựa trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội sâu sắc, đoàn kết gắn bó chặt chẽ keo sơn “lúc thường cũng như lúc ra trận” giữa những con người cùng chung lý tưởng, mục tiêu, cùng thực hiện nhiệm vụ cao cả của người quân nhân cách mạng. Đó cũng là nguồn sức mạnh vô tận để bộ đội ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
    Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ phải luôn là tấm gương sáng để cấp dưới và chiến sĩ học tập, noi theo. Tình thương yêu đồng chí, đồng đội được tôi luyện, thiết lập vững chắc trong Quân đội ta qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trở thành nét đẹp truyền thống, thành bản chất, là một trong những nhân tố cấu thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta.

    Học tập và làm theo lời Bác Hồ căn dặn, đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội các thời kỳ luôn quan tâm thiết thực, chu đáo đến đời sống tinh thần và vật chất của bộ đội, hết lòng chăm lo xây dựng đơn vị, tôn trọng và thương yêu cấp dưới như “chân tay”, do vậy cấp dưới sẽ kính trọng, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu óc”, như người thân; từ đó họ sẽ mang hết khả năng của mình để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh một cách tự giác và có hiệu quả cao nhất. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy phải thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng là người anh, người “chị hiền” tận tuỵ chăm lo cho tập thể, cho bộ đội, là hạt nhân đoàn kết thống nhất xây dựng đơn vị VMTD.