Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

NGUYỄN VĂN DÂN – LOẠN NGÔN HAY PHẢN PHÚC?

 Sáng ngày 24/2/2022, khi Tổng thống Nga Vladimir Putin phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở miền Đông Ukraine thì trên các trang mạng xã hội ở nước ta tràn ngập những bình luận trái chiều, thực hư của cuộc xung đột đó như thế nào hãy đã các chuyên gia phân tích tường tận. Điều đáng nói ở đây là nhiều người hàng ngày vỗn dĩ chẳng quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội, thông qua sự kiện này bỗng dung trở thành nhà “phân tích trính trị” với những lập luận mơ hồ và thiếu hiểu biết cơ bản về nguồn gốc, lịch sử và quá trình phát triển của cả hai quốc gia Nga và Ukraine, với những người ít học mà ta gọi là thiếu hiểu biết cho lịch sự thì không có gì đáng bàn. Tiếc rằng, trong các trường hợp đó, có những người có học hàm, học vị cao trong xã hội mà ông Nguyễn Văn Dâng là ví dụ điển hình.

Ông Nguyễn Văn Dân là giảng viên thỉnh giảng của một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ông là người có học hàm Phó Giáo sư, học vị Tiến sỹ, từng công tác tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Trên trang facebook cá nhân của mình, ông này thể hiện quan điểm ủng hộ chính phủ Ukraine, lên án nước Nga. Tuy nhiên sẽ không có vấn đề gì xảy ra khi ông sử dụng đúng tri thức, tầm hiểu biết của một vị Phó Giáo sư, Tiến sỹ, một nhà giáo cao niên chuẩn mực để lập luận, dẫn chứng, bảo vệ cho quan điểm của mình về sự kiện xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraine. Thế nhưng ngược đời cho ông này là đi ngược với tầm kiến thức học rộng, uyên thâm của một nhà giáo mẫu mực, ông lại chọn cách ứng xử bằng việc lên tiếng với giọng điệu xuyên tạc, vô căn cứ khi cả gan dám"ngầm" so sánh Chủ tịch Hồ Chí Minh với Zelensky (từng là diễn viên hài, tổng thống Ukraine). Ngoài thái độ xấc xược, bất kính ra thì "lập luận" của ông Dân còn thể hiện sự ấu trĩ, khập khiễng, không có tính khoa học thậm chí lố bịch "đánh tráo khái niệm".

Thử hỏi chúng tôi thế hệ nhà giáo sau ông Dân, đứng trên quan điểm là một người dân Việt Nam, không đồng tình, phẫn nộ và coi thường ông. Bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè thế giới nói chung, trong mắt người dân Việt Nam nói riêng chính là một lãnh tụ thiên tài; anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Người chính là hình ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam và nhắc đến Việt Nam cũng chính là nhắc đến Người và ngược lại. Người là một nhân vật lịch sử được yêu thích khắp năm châu không chỉ bởi tài năng lỗi lạc mà còn bởi phẩm chất đạo đức trong sáng, đẹp đẽ, kết tinh những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc Việt trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Thế mà ông Nguyễn Văn Dân lại dám so sánh Hồ Chí Minh với Zelensky - Tổng thống Ukraine (từng là diễn viên hài), đúng là một thái độ, một nhận thức chính trị ấu trĩ”, biểu hiện sự suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong đội ngũ đảng viên. Trên thực tế khi còn đương chức, đang công tác thì ông Dân “im như thóc”, đến lúc về hưu sao lại như vậy? Phải chăng ông đang bộc lộ rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Việc làm của những người như ông hoàn toàn sai trái, cần phải lên án lối suy nghĩ, những hành động lệch lạc, phụ ơn đi ngược truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”... Đừng vì một chút lợi ích cá nhân, bán rẻ Tổ quốc, bán rẻ công lao của thế hệ cha ông, xúc phạm đến Lãnh tụ của dân tộc; làm ảnh hưởng đến hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mà trước hết là ảnh hưởng đến cơ quan, đơn vị nơi mà ông từng công tác. Thông qua việc này, thiết nghĩ, từng người nên nêu cao ý thức, tỉnh táo phân biệt đúng sai không bị lôi kéo, kích độc bởi những bài viết, bình luận thiếu tích cực, thiếu hiểu biết, nhất là các vấn đề quốc tế, phát ngôn theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, mỗi người hãy cùng tô thắm thêm hình ảnh cao đẹp của đất nước Việt Nam đối với bạn bè quốc tế./.

NHẬN DIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN

 Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Tính đến cuối năm 2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước không chấp nhận thực tế trên, chúng luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Các thủ đoạn thường thấy đó là tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là “Báo cáo”, “Phúc trình” thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo.

Chúng lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước “đàn áp tôn giáo”; tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng “tự do tôn giáo” là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước.
Ngoài ra chúng lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chúng thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình tập dượt cho “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” tại Việt Nam. Trong đó, nhiều vụ việc bị “chính trị hóa”, “quốc tế hóa”, từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)…

Bên cạnh đó, chúng lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn để chúng lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. như thành lập các nhóm “Nhà nước Đềga”, “Tin lành Đề ga”, “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong” hay “Nhà nước Mông” tự trị….

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân đòi hỏi các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tiếp tục tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào tôn giáo. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI VỀ LẬP TRƯỜNG CỦA VIỆT NAM XUNG QUANH VẤN ĐỀ NGA VÀ UKRAINE

 Tình hình xung đột Nga và Ukraine là vấn đề thời sự nóng bỏng đang được dư luận quốc tế quan tâm bởi nó tác động sâu sắc đến tình hình thế giới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trên các trang mạng xã hội, không ít tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí, các phần tử thù địch, cơ hội chính trị liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, quan điểm cách nhìn nhận, ứng xử của Việt Nam trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó, hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Đặc biệt sau khi có kết quả bỏ phiếu trong phiên họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 2/3/2022. Chúng cho rằng Việt Nam là nước yêu chuộng hòa bình mà lập trường không rõ ràng, hay dù không nói ra nhưng mà ủng hộ cuộc chiến của Nga, hoặc dựng chuyện rằng Ukraine thất vọng về lập trường của Việt Nam...

Là công dân Việt chân chính, yêu hòa bình chúng ta cần thiết nhận diện rõ luận điệu sai trái trên; đồng thời, tin tưởng vào tính khách quan, hợp lý và rõ ràng trong lập trường của Việt Nam xung quanh vấn đề Nga - Ukraine. Tại sao?

Trước hết chúng ta thấy, tại cuộc bỏ phiếu của Đại hồi đồng Liên hợp quốc vừa qua, không chỉ có Việt Nam bỏ phiếu trắng mà có 35 nước bỏ phiếu trắng, điều này nói rằng lập trường của Việt Nam không phải là số ít.

Thứ hai, không thể dựa vào kết quả đó mà cho rằng lập trường của Việt Nam là không rõ ràng, đặc biệt là lập trường và đường lối ngoại giao của Việt Nam. Chúng ta thấy rằng: trong đường lối ngoại giao, Việt Nam luôn ủng hộ giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Cụ thể:

Trong ngày 1/3/2022 ngày thứ hai của phiên họp đặc biệt do Liên Hiệp Quốc tổ chức về tình hình Ukraine - hơn 100 nước và các tổ chức đã phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm về vấn đề quan trọng này. Tại đây, Đại sứ Đặng Hoàng Giang - trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Về tình hình Ukraine, đại sứ bày tỏ quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng.

Tiếp đó, tại cuộc họp báo ngày 3/3/2022, trả lời câu hỏi của phóng viên, đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về nghị quyết của phiên họp đặc biệt tại Đại hội đồng Liên hợp quốc 2/3 về tình hình Ukraine, Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thêm thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh nhằm đạt được giải pháp lâu dài, có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên, trên cơ sở phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Thứ ba, thực tiễn lịch sử chúng ta thấy, đã nhiều lần Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng là gì đối với các âm mưu và hành động của các nước nước có tư tưởng bá quyền, cho nên kết quả bỏ phiếu cũng chỉ là một căn cứ, thậm chí có tính chất biểu tượng.

Nếu các lá phiếu có tác dụng thì Hoa Kỳ đã không ở lại Việt Nam lâu đến như thế, Cuba đã không bị cấm vận, người Palestine đã không bị mất đất, tội ác diệt chủng Khmer Đỏ đã không được che giấu suốt bao nhiêu năm… Khi quân tình nguyện Việt Nam tham gia chiến dịch biên giới Tây Nam. Phần lớn các quốc gia trên thế giới chỉ trích Việt Nam. Sau khi tội ác Khmer Đỏ được phanh phui, hầu hết các quốc gia im lặng. Họ tập trung vào bú liếm công trạng xét xử Khmer Đỏ, không thèm quan tâm đến hàng ngàn người Việt Nam và hàng triệu người Campuchia bị thảm sát. Nghị quyết nào lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979? khi Mỹ và phương tây đem quân xâm lược Nam Tư, IRắc, các nước ở Trung Phi... Nghị quyết của Liên hợp quốc có vai trò gì trong những trường hợp đó?

Hãy nhớ rằng trong 30 năm qua, đã có 29 lần Liên Hợp Quốc yêu cầu các quốc gia thành viên bỏ phiếu lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba. Trong 29 lần đó, lần nào số phiếu lên án Hoa Kỳ cũng áp đảo và vượt trội, trong đó lần gần nhất có tới 184 phiếu thuận, 03 phiếu trắng (1 phiếu của Ukraine), 2 phiếu chống (Hoa Kỳ, Israel). Nghị quyết lên án Hoa Kỳ cấm vận Cuba là một trong những nghị quyết được ủng hộ lớn nhất lịch sử Liên Hợp Quốc, nhưng vẫn chẳng giải quyết được điều gì cả. Đất nước Cu Ba vẫn bị cấm vận.

Ukraine đã từng bỏ phiếu chống việc “lên án chủ nghĩa phát xít” trong một nghị quyết tại Liên Hợp Quốc vào năm 2014. Nên nhớ là chỉ có 3 quốc gia bỏ phiếu chống đó là Hoa Kỳ, Canada và Ukraine. Có 50 quốc gia, trong đó phần lớn là châu Âu bỏ phiếu trắng với cam kết “chúng tôi lên án chủ nghĩa phát xít, nhưng không muốn bày tỏ điều đó tại đây” và gần 120 quốc gia bỏ phiếu đồng ý.

Tại sao lúc Việt Nam ủng hộ Cuba, Palestine... các anh chị “khóc thuê” không lên bài, đăng trạng thái ủng hộ lá phiếu của Việt Nam đi? Hay tính mạng, công lý của người Cuba, Palestine với các anh các chị không bằng tính mạng người Ukraine? Hay khi sao Mỹ và phương Tây đem quân xâm lược Nam Tư, IRắc, các nước ở Bắc Phi không đăng bài lên án... Hãy thôi cái trò đạo đức giả đó lại. Tự nhiên quan tâm đến chính trị thế? Tự nhiên đề cao “tinh thần đấu tranh” một cách bất thường như thế? Chắc hẳn phải vì những mưu đồ nào đó!

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẤU TRANH CHỐNG LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VÀ TUYÊN TRUYỀN MÊ TÍN DỊ ĐOAN

 

Tư tưởng đoàn kết dân tộc trong đó có đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: đồng bào lương giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố quan trọng dẫn tới sự thành công của cách mạng Việt Nam. Với mọi tôn giáo, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự tôn trọng và thực hiện bình đẳng tôn giáo. Người nói: "Phải đoàn kết chặt chẽ đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng tổ quốc, phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo".

Với tư cách là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn là tấm gương mẫu mực về thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng ấy được thể hiện nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn. Người luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng kiên quyết đấu tranh với những kẻ có âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của đồng bào.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống địch lợi dụng tôn giáo đã được thể chế hóa tại điều 7 sắc lệnh SL/234 về vấn đề tôn giáo: “Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật”.

Tính thời sự và nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần thúc đẩy và tăng cường khối đại đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và là minh chứng sinh động cho chân lý “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

 

LAN TOẢ GIÁ TRỊ PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"!

        Được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trong tình hình mới, việc đa dạng hóa các hình thức hoạt động đối ngoại quốc phòng của Quân đội ta trong thời gian qua đã không chỉ góp phần hiện thực hóa đường lối đối ngoại của Đảng, mà còn lan tỏa hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cùng những giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đến với đông đảo bạn bè, nhân dân thế giới.
Hơn 7 năm qua, Việt Nam đã cử gần 250 lượt cán bộ, nhân viên Quân đội đi làm nhiệm vụ giữ gìn hòa bình tại trụ sở Liên hợp quốc và tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi. Vượt lên những khó khăn bất đồng ngôn ngữ, tình hình an ninh ở các phái bộ bất ổn, điều kiện sinh hoạt hạn chế, khí hậu khắc nghiệt…, những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ; trong đó, 31% cán bộ, nhân viên được Chỉ huy các phái bộ đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (tỷ lệ trung bình ở các phái bộ là 2%). Hình ảnh những quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam ở các quốc gia châu Phi, đặc biệt là tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi đã không chỉ gắn với sứ mệnh gìn giữ hòa bình mà còn trở thành biểu tượng của văn hóa Việt Nam, với vai trò “đại sứ văn hóa”, mang những giá trị của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, ý chí và khát vọng hòa bình của Việt Nam ra thế giới. Bởi chính trong quá trình làm nhiệm vụ, thông qua những việc làm cụ thể, các cán bộ, nhân viên của Quân đội ta đã giúp đồng nghiệp quốc tế, nhân dân bản địa, nhất là lực lượng quân đội nhiều nước hiểu thêm về đất nước, Quân đội, truyền thống, văn hóa của người Việt Nam, và bản lĩnh, trí tuệ của những người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.
Đồng thời, phát huy phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”, bằng sự tích cực, chủ động, các chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam đã vừa hoàn thành tốt công việc tại các phái bộ, vừa tích cực tăng gia sản xuất, chủ động giúp đỡ người dân bản địa. Đó là việc các Bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tổ chức nhiều chương trình thiện nguyện để giúp đỡ người dân và đặc biệt là trẻ em tại Nam Sudan; hay cán bộ, nhân viên Quân đội ta làm nhiệm vụ tại Phái bộ Cộng hòa Trung Phi thường xuyên tổ chức dạy học cho trẻ em; tổ chức giới thiệu về đất nước, con người và truyền thống của dân tộc Việt Nam… Đặc biệt, với các loại hạt rau giống mang theo từ Việt Nam, họ đã chăm chỉ vỡ đất, trồng nhiều loại rau; đồng thời, hướng dẫn người dân bản địa tự trồng rau xanh, cải thiện đời sống. Rau xanh không chỉ đủ cung cấp cho toàn đơn vị mà còn mang tặng các đơn vị bạn như: Mông Cổ, Anh, Ghana và các cán bộ, nhân viên Liên Hợp quốc. Hình ảnh những vườn rau xanh mướt như khắc họa rõ hơn đức tính cần cù, tinh thần tự lực tự cường của những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” ở nơi châu Phi đầy khắc nghiệt.
Nhớ lại quãng thời gian tham gia vào Phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi, Trung tá Nguyễn Thị Liên vẫn không thể quên ánh mắt khâm phục của người dân bản địa khi đến thăm những vườn rau của đơn vị. “Tôi đã nhiều lần cùng đồng đội tặng hạt giống và hướng dẫn người dân sinh sống gần Phái bộ trồng rau xanh. Người dân bản địa rất khâm phục truyền thống anh dũng của dân tộc Việt Nam”, Trung tá Nguyễn Thị Liên chia sẻ.
Bên cạnh nhiệm vụ tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, việc Quân đội ta thực hiện các nhiệm vụ khác của công tác đối ngoại quốc phòng một cách chủ động, hiệu quả cũng trực tiếp góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế; khẳng định và lan tỏa rộng rãi những giá trị phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
Theo Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, những năm gần đây, kết quả đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đều đạt được mục đích về chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Đến cuối năm 2021, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 nước trên thế giới, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả các nước lớn với nhiều lĩnh vực, cơ chế hợp tác thực chất, bình đảng. Điển hình là các hoạt động như: Đào tạo, trao đổi đoàn quân sự, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng; Đối thoại chính sách quốc phòng; Giao lưu quốc phòng biên giới; Tuần tra chung trên biên giới, trên biển; Diễn tập phòng chống các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống; Tham gia Hội thao Quân sự Quốc tế Army Games, Hội thao Quân sự ASEAN; Hợp tác trong khắc phục hậu quả chiến tranh; xử lý ô nhiễm bom, mìn và chất độc da cam/dioxin…
Mới đây nhất, tháng 8/2021 vừa qua, Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã tham gia và đạt kết quả cao trong hàng loạt nội dung tại Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2021 như: Xe tăng hành tiến, Lộ trình an toàn, Kinh tuyến (địa hình quân sự), Đội quân văn hóa, Bắn súng chiến thuật, Xạ thủ bắn tỉa, Kỹ năng thành thục, Pháo thủ giỏi, Tiếp sức quân y... Đặc biệt, đây là năm đầu tiên, Hải quân nhân dân Việt Nam cử biên đội tàu hộ vệ tên lửa 015 - Trần Hưng Đạo, 016 - Quang Trung tham gia và đạt Huy chương Bạc nội dung thi Cúp biển. Hải quân Việt Nam cũng đã cử tàu hộ vệ tên lửa 012 tham gia Diễn tập Hải quân ASEAN-Nga cùng với Hải quân các nước ASEAN…
Có thể thấy, hiệu quả thiết thực từ các hoạt động nói trên vừa góp phần tăng cường sự tin cậy về chính trị, nâng cao tiềm lực quốc phòng của đất nước, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam và Quân đội ta trên trường quốc tế; vừa khẳng định rõ hơn phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tinh thần chủ động, sáng tạo và khả năng vươn lên làm chủ các loại vũ khí, khí tài hiện đại của Quân đội ta. Thông qua các hình thức hoạt động đối ngoại quốc phòng, giá trị văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã không chỉ được lan tỏa rộng rãi, vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, mà còn được đông đảo bạn bè quốc tế trân trọng, ngưỡng mộ./.

Môi Trường ST.

NÓI KHÔNG ĐI ĐÔI VỚI LÀM - “ BỆNH TRỌNG” CẦN GIẢI NGUY, CHỮA GẤP!

         Người xưa từng răn dạy “Nói chín thì phải làm mười/Nói mười làm chín kẻ cười người chê”. Dẫu đã làm được chín phần, chỉ có một phần không làm được như lời đã nói, đã hứa thì cũng bị kẻ cười, người chê! Thế mà thời nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) không những nói và làm không nhất quán, nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, mà nguy hại hơn là nói một đằng, làm một nẻo.
Cũng là một biểu hiện mị dân, lừa dân
Hệ lụy đáng nói nhất là khi những người có chức, có quyền chỉ nói mà không làm, chỉ hứa hão mà không thực hiện, chỉ thích nói hay làm dở, nói suông làm giả, thậm chí làm những việc trái ngược hoàn toàn với những điều mình đã nói thì họ không chỉ tự bêu gương xấu trước thiên hạ, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị, bộ máy công quyền và những người giữ vai trò “cầm cân nảy mực” trong xã hội.
Thực ra vấn nạn “nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo” không phải chỉ tồn tại trong một bộ phận CB, ĐV ở nước ta, mà nó là một thực trạng khá nhức nhối ở hầu hết các thể chế chính trị-xã hội và nhiều quốc gia trên thế giới. Nói chung, những quan chức nói không đi đôi với làm thường là những người có lợi thế hoạt ngôn, diễn thuyết giỏi, thích hô khẩu hiệu suông, bị chi phối bởi chủ nghĩa dân túy tầm thường nên họ lợi dụng vị trí xã hội, vị trí công tác để chau chuốt, vuốt ve những câu từ mỹ miều, rót những lời đường mật vào “tâm lý đám đông” nhằm thu hút, lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin “tiền hô hậu ủng” cho bản thân mình. Nhưng sau khi đạt được mục đích chính trị, những quan chức này dần sa vào tình trạng làm không hay như nói, nói đâu bỏ đấy, hứa hão rồi cho qua, thậm chí cố tình tìm cách nói dối như Cuội nhằm che đậy, lấp liếm những việc làm khuất tất của mình.
Chủ động phòng ngừa, loại bỏ những trường hợp “nói đúng-làm sai”

Trong xã hội phong kiến trước đây, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm. Nhắc lại điều đó để thấy, thời nào cũng vậy, khi những người có vị trí, “vai vế” trong xã hội luôn được ví như một trong những biểu tượng, hình ảnh, danh dự của thể chế xã hội đương thời, do vậy họ luôn phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của cán bộ khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” của họ cũng dễ trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm của họ có phù hợp, nhất quán với nhau hay không.
Trong tác phẩm “Tư cách người cách mệnh” viết năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ một trong những yêu cầu phẩm chất cần phải có của người cách mệnh là “nói thì phải làm”. Một trong 3 nguyên tắc cơ bản về xây dựng, rèn luyện đạo đức cách mạng của CB, ĐV theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nói phải đi đôi với làm, phải tự giác nêu gương về đạo đức. Bác Hồ từng khẳng định: "Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước".
Trong bài viết “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Ðại hội XIII của Ðảng” mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ, một trong những trường hợp phải kiên quyết cảnh giác, không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII khi đã mắc khuyết điểm: “Nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm”.
Những quy định nhất quán trên đã cho thấy, “nói đi đôi với làm” của CB, ĐV không chỉ là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; từ mong muốn, kỳ vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; mà đó còn là một trong những tiêu chí cơ bản, quan trọng trong việc giới thiệu, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ. Ở chiều sâu hơn, việc Đảng ta yêu cầu CB, ĐV, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp luôn bảo đảm thống nhất giữa lời nói với việc làm, đã nói là làm, làm nhiều nói ít, làm đến nơi đến chốn, làm có hiệu quả thực chất, là thiết thực góp phần xây dựng đạo đức, bồi đắp văn hóa trong Đảng Cộng sản Việt Nam, tô đẹp tính chính danh của người chiến sĩ cộng sản và qua đó góp phần phòng ngừa, ngăn chặn một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của CB, ĐV./.
Yêu nước ST.

 

Tôn trọng nguyên tắc khách quan, toàn diện, đánh giá đúng mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”

 

Trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình là công việc rất quan trọng. Bởi đây chính là cơ sở để từng tổ chức đảng xác định quyết tâm và đề ra các biện pháp đủ mạnh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Để làm tốt công việc ấy đòi hỏi cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN THEO QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Nhìn lại 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng Đảng đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, thực sự đi vào cuộc sống, có nhiều bước đột phá quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ...”

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, đó là: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...”

Theo Ban Chấp hành Trung ương, nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình; chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân.

Đúng như Ban Chấp hành Trung ương đánh giá, trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII việc nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại các địa phương, cơ quan, đơn vị còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là tình trạng vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn khi phân tích, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ chỗ đánh giá chưa đúng, nhận diện chưa đầy đủ nên chưa xác định rõ quyết tâm và thiếu các biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém.

Nguyên tắc khách quan đặt ra yêu cầu khi đánh giá, phân tích sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải phản ánh trung thực với tất cả những bản chất vốn có của nó. Chúng ta tuyệt đối không được lấy ý muốn chủ quan để áp đặt, gán ghép cho sự vật, hiện tượng cái mà nó không có. Mọi biểu hiện tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện tượng đều là vi phạm nguyên tắc khách quan.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thế giới tồn tại như một thể thống nhất. Các sự vật, hiện tượng vừa tồn tại tách biệt với nhau và có tính độc lập tương đối, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Do vậy khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đơn lẻ mà đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.

 HỆ LỤY DO VI PHẠM NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN, TOÀN DIỆN

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chỉ có quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện mới giúp chúng ta phân tích, đánh giá, nhận diện đầy đủ về sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó có quyết tâm và biện pháp giải quyết đúng đắn, hiệu quả các vấn đề.

Trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, cũng vậy, đánh giá đúng, nhận diện đầy đủ về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị là cơ sở để chúng ta xác định quyết tâm và đề ra biện pháp đủ mạnh nhằm tạo chuyển biến tình hình. Thế nhưng, hiện nay, việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện, đánh giá tình hình cũng như đề ra các chủ trương, giải pháp đang nổi lên nhiều vấn đề đáng bàn.

Thực tiễn cho thấy rất rõ tình trạng cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại địa phương, cơ quan, đơn vị quán triệt và thực hiện chưa tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện trong đánh giá, nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra khá phổ biến, biểu hiện dưới nhiều hình thức và để lại nhiều hệ lụy.

Đáng chú ý là tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có chức, có quyền mắc bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ tại một số địa phương, cơ quan, đơn vị. Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này thường nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, coi ý kiến của mình luôn đúng, thiếu tôn trọng ý kiến tập thể. Khi dân chủ trong sinh hoạt đảng không được tôn trọng và phát huy, đánh giá, nhận định chỉ dựa vào ý kiến của một người hoặc một nhóm người có quyền quyết định mà không nghiên cứu kỹ lưỡng, không mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, thấu đáo tình hình thực tế thì thường dẫn đến tình trạng ảo tưởng, chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ mà không tính hết những khó khăn, trở ngại phát sinh do cả yếu tố khách quan và chủ quan và chắc chắn những chủ trương, quyết sách ban hành sẽ không phù hợp, kém hiệu quả.

Cũng do quán triệt và thực hiện không tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện mà trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình ở không ít cấp ủy, tổ chức đảng thường nể nang, né tránh theo kiểu “đóng cửa bảo nhau”, tránh “vạch áo cho người xem lưng” hoặc xử lý sai phạm theo kiểu “nặng nhẹ tùy người”, “giơ cao đánh khẽ”... Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên mắc “bệnh thành tích”, “giấu khuyết điểm” vẫn chưa được khắc phục triệt để. Do bị ảnh hưởng của căn bệnh ấy mà mọi thành tích, yếu kém của các tập thể, cá nhân không được nhìn nhận một cách công tâm, khách quan, toàn diện mà thường mang tính áp đặt chủ quan, không phản ánh đúng sự thật khách quan. Tình trạng này không chỉ khiến cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu không thấy hết được vấn đề, không xác định được quyết tâm và biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém mà còn khiến cấp trên nếu thiếu kiểm tra, thanh tra, giám sát cũng bị che mắt, khó nắm bắt, không hiểu đúng thực trạng tình hình cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo và làm cho cấp dưới suy giảm niềm tin, giảm sút ý chí quyết tâm phấn đấu.

Cũng vì thiếu công tâm, không khách quan, toàn diện trong nhận diện vấn đề nên cán bộ, đảng viên được phân công phụ trách mảng công tác nào thì luôn tìm cách che đậy các khuyết điểm, bảo vệ cho mảng công tác của mình. Một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý lồng ý chủ quan của mình vào xem xét, đánh giá về sự vật, hiện tượng. Họ nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng chỉ qua lăng kính chủ quan của một người hoặc một nhóm người có thẩm quyền. Chắc chắn cách nhìn nhận, đánh giá như vậy thì không thể thấy hết được vấn đề và biện pháp đề ra cũng không thể phù hợp, hiệu quả.

ĐẨY LÙI CĂN BỆNH CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN

Muốn nhận diện đầy đủ mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình, đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu phải giữ vững và vận dụng đúng nguyên tắc khách quan, toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm gì và làm như thế nào để quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện hay nói cách khác là để phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh chủ quan, phiến diện một chiều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một trong những phẩm chất quan trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”. Người cán bộ, đảng viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cần phải có phương pháp, tác phong làm việc khoa học, thiết thực. Muốn có phương pháp, tác phong làm việc khoa học thì cán bộ, đảng viên phải có lý luận cách mạng và tri thức khoa học. Trình độ lý luận cách mạng và tri thức khoa học chính là nền tảng cho phương pháp, phong cách tư duy khoa học. Sự non kém về lý luận là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Khi không nhận diện đầy đủ về tình hình và mức độ thì khó mà có quyết tâm, hành động đúng đắn. Do vậy, trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, yêu cầu đầu tiên đối với đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên học tập, rèn luyện, đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận, tri thức khoa học để không ngừng hoàn thiện phương pháp, tác phong tư duy, làm việc khoa học thiết thực, đáp ứng với nhiệm vụ được giao.

Mặt khác, các cấp ủy đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị phải đề cao ý thức dân chủ, phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể cũng là biểu hiện của phương pháp, tác phong làm việc khoa học trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Đề cao dân chủ sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên chống được căn bệnh gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phát huy tốt tính năng động, sáng tạo, tích cực của quần chúng nhân dân trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nói chung, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị nói riêng.

Cùng với đó, để kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn, xử lý kiên quyết, nghiêm minh những biểu hiện chủ quan, phiến diện, áp đặt ý kiến cá nhân gây tổn hại đến lợi ích của tập thể, lợi ích của nhân dân, cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, đặc biệt là kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu và những cán bộ lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền ban hành quyết định về chủ trương, chính sách.

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên tự giác rèn luyện cho mình phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực và hiệu quả. Bởi đây là cơ sở nền tảng giúp cán bộ, đảng viên quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn diện, tránh mắc vào căn bệnh chủ quan, phiến diện. Nếu thiếu phương pháp, tác phong công tác khoa học, thiết thực, hiệu quả thì căn bệnh chủ quan, phiến diện rất dễ tái phát.

Cùng với phát huy ý thức tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng của mỗi người, các cấp ủy, tổ chức đảng, cần quan tâm giáo dục, động viên tinh thần cầu thị, thái độ khiêm tốn tích cực học hỏi và tạo mọi điều kiện để cán bộ, đảng viên chủ động tiếp cận, cập nhật kiến thức mới, làm giàu tri thức, năng lực trí tuệ cho bản thân. Có trình độ lý luận, tri thức khoa học và tư tưởng tiến bộ là cách tốt nhất để cán bộ, đảng viên tôn trọng nguyên tắc khách quan, toàn diện, tự mình đấu tranh phòng ngừa, loại bỏ mọi biểu hiện chủ quan, phiến diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.

 

GIỮ VỮNG RƯỜNG CỘT NƯỚC NHÀ!

     Tuổi trẻ cả nước đang tổ chức đại hội đoàn các cấp, hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027.
     Trong lúc đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) cả nước, với vai trò, vị thế là cánh tay đắc lực, đội dự bị tin cậy của Đảng, là rường cột của nước nhà, đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, thì các thế lực thù địch cũng nhân cơ hội này đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá...

Ngụy biện thông tin, lèo lái dư luận
     Giới trẻ nói chung, ĐVTN nói riêng vừa là mục tiêu, đối tượng, vừa là công cụ được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, tập trung chống phá. Các chiến dịch tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch từ trước đến nay đều đặt giới trẻ ở vị trí trung tâm, trọng tâm. Mục tiêu của chúng là hủy hoại “cánh tay đắc lực của Đảng”, làm tan rã “đội dự bị tin cậy”, phá vỡ “rường cột” đất nước. Chúng muốn thanh niên Việt

Nam bị mất phương hướng, bị kích động, quay lưng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, đi theo con đường phản nước, hại dân... 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” xuyên suốt ấy, chúng thường bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản đã được vạch sẵn. Bám vào đại hội đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII và kỷ niệm 91 năm truyền thống của Đoàn để đẩy mạnh chiến dịch công kích, xuyên tạc, chống phá là hoạt động nằm trong chuỗi chiến lược ấy. Bình tĩnh, sáng suốt nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có phương án đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch là trách nhiệm, bổn phận trước hết của mỗi tổ chức đoàn, mỗi ĐVTN yêu nước.

Theo dõi tình hình, chúng ta thấy rõ, sau
những chiến dịch truyền thông dồn dập trên không gian mạng chống phá Đại hội XIII của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19... chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào tuổi trẻ Việt Nam, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Cụ thể những ngày gần đây, bám vào tình hình thời sự nóng bỏng từ cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine, tình hình phức tạp trên Biển Đông và những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nước... chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện, lèo lái dư luận xã hội nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với tuổi trẻ đất nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bằng các hình thức “tọa đàm”, phỏng vấn, lấy ý kiến thế hệ trẻ Việt Nam, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.

Từ việc ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ còn là “cái vỏ hình thức”, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những bạn trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng lộng ngôn, ngoa ngôn, kiểu như: “Nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà phản biện xã hội” v.v.., cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời xa Đảng. Thời gian qua, có không ít đối tượng núp bóng một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường để tập hợp, lôi kéo thanh niên tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, không ít bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng, đã tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Có thể thấy, chiến lược, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ở thế hệ rường cột nước nhà. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chú trọng các hình thức, giải pháp củng cố trận địa tư tưởng trong thanh niên, nhất là thanh niên giới trí thức và công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, giữ vững lực lượng rường cột nước nhà.

Khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”
Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, bên cạnh khẳng định thành tích của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn là rất to lớn và đáng tự hào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên là “tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Sự chỉ đạo, lời căn dặn của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta rất súc tích, vừa mang tính khái quát cao, vừa cụ thể.

Tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” xuất phát từ thực tế công tác Đoàn và phong trào thanh niên còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới. Một số hoạt động của Đoàn còn nặng về bề nổi, dàn trải, hình thức, kết quả thiếu bền vững. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc...

Sau 5 năm nhìn lại, với tinh thần khách quan, thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta thấy rằng, nhiều mặt hạn chế, bất cập trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên vẫn chậm được khắc phục. Tại các hội nghị góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII do Trung ương Đoàn tổ chức, nhiều đại biểu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên hiện nay.

Đại hội đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc nhiệm kỳ 2022-2027 là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thanh niên cả nước. Đây cũng là giai đoạn thanh niên Việt Nam thể hiện sứ mệnh là lực lượng chủ lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trọng tâm là công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng. Với phương châm “lấy xây để chống”, việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong thanh niên phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình tập hợp, giáo dục thanh, thiếu niên phù hợp với nguyện vọng, mục tiêu phấn đấu của tuổi trẻ, tích cực, mạnh dạn, quyết liệt đổi mới để công tác Đoàn và phong trào thanh niên thực sự hấp dẫn, thu hút thanh niên, là những vấn đề đã và đang được Trung ương Đoàn lấy ý kiến rộng rãi.

Với tư cách là “Đội dự bị tin cậy của Ðảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Ðảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, thanh niên Việt Nam phải luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, khuynh hướng chính trị sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để mỗi ĐVTN thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phức tạp, nhiều thách thức này, tổ chức đoàn các cấp phải khắc phục tình trạng hình thức, hời hợt, thiếu bền vững trong các phong trào, chương trình hành động.

Biến quy trình giáo dục thành tự giáo dục để ĐVTN có ý thức tự giác, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức, thái độ, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng là những mục tiêu, giải pháp tổ chức đoàn các cấp dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn cần có các mô hình thực hiện một cách bài bản, kiên trì, hiệu quả.

Thanh niên vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của không gian mạng. Khi ĐVTN được giáo dục, trang bị đầy đủ lý luận chính trị, được tập hợp, thống nhất dưới ngọn cờ Đoàn, sẽ tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ, là bức tường thành vững chắc của trận địa tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi các khuynh hướng lệch lạc, giữ vững rường cột nước nhà. Giáo dục, vận động ĐVTN về thái độ sử dụng mạng xã hội, về văn hóa ứng xử trên không gian mạng để ngày hội lớn của tuổi trẻ cả nước trở thành sắc màu, nội dung chủ đạo trên các tài khoản cá nhân và các trang, nhóm trên mạng xã hội là điều cần làm của tổ chức đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cách lấy xây để chống, ngăn chặn sự xâm nhập của các thông tin độc hại, phản động mà các thế lực thù địch đang hướng vào thanh niên./.

Yêu nước ST.

Sống trong áp lực

Hè sắp đến, học sinh sắp bước vào một mùa thi mới - sẽ là lúc mà khắp nơi, trên các diễn đàn, trang báo, trong các câu chuyện, nhiều người lại than vãn và đòi loại bỏ áp lực học tập cho các em.

Tôi không hẳn nghĩ như vậy. Những đứa trẻ sẽ trở thành ai, sẽ đối diện với các vấn đề của cuộc sống sau này thế nào, nếu ngay từ bây giờ, chúng được "miễn hoàn toàn" áp lực.

Có hai vấn đề ở đây. Một là phân loại áp lực tốt - xấu cho các con và hai là hướng dẫn các con cách đối diện và xử trí khi chẳng may gặp áp lực xấu.

Cuộc sống không thể nào thiếu áp lực. Vì vậy, đòi loại bỏ hoàn toàn áp lực là điều không tưởng và không nên. Vấn đề là làm sao tạo ra áp lực tốt, giúp trẻ coi đó là thách thức để vươn lên, thay vì khiến chúng nhìn nhận như một mối đe dọa, dẫn tới căng thẳng, trầm cảm và bệnh tật.

Giáo dục tại các quốc gia phát triển rất coi trọng việc tạo ra áp lực tốt cho trẻ thông qua việc trao cho chúng rất nhiều sự tự quyết và chủ động.

Tôi có cậu con trai du học ở Mỹ. Muốn tốt nghiệp trung học, các cháu phải đảm bảo có đủ 28 tín chỉ, để ra trường và có bằng. Cháu nào thích ra sớm có thể đẩy nhanh tiến độ học. Cháu nào muốn ra trễ cứ việc học rề rà.

Để trẻ con chủ động, 28 tín chỉ này cũng không bắt các cháu phải học theo thứ tự như nhau. Học sinh có thể chọn các môn yêu thích để học trước, môn khó học sau; hoặc là cân đối giữa các môn vừa dễ vừa khó, tránh mất cân bằng.

Trong các môn học, có những môn hoàn toàn do thầy dạy, nhưng có nhiều môn trò tự học trên lớp. Con tôi có một lớp mà thầy chỉ yêu cầu thuyết trình về một đề tài tự chọn. Tụi nhỏ có thể chọn bất cứ đề tài nào chúng thích, chẳng hạn như ôtô, máy bay, con vật nuôi, bảo vệ trẻ em, nạn buôn người, du lịch, chống nghiện chất cấm... Với cách này, các con học được nhiều điều từ bạn bè. Còn thầy chỉ nghe và góp ý chứ không đánh giá phê phán gì ghê gớm cả.

Thầy và trò có những ngày học trong phòng. Nhưng vào mùa xuân khi trời rất đẹp, thầy sẽ hỏi ý học trò, sau đó cả lớp có thể ra sân học ngoài bãi cỏ một vài giờ tùy thích. Nhà trường không can thiệp.

Học trò cũng không mấy học thêm. Chỉ cháu nào đạt dưới mức điểm trường chấp nhận thì sẽ phải học kèm với thầy cô hay bạn học do trường tuyển chọn, nhưng hoàn toàn miễn phí. Tiền dạy thêm sẽ do trường trả.

Khi chuẩn bị nộp đơn vào đại học, các cháu có thể dự các kỳ thi tiêu chuẩn như SAT hay ACT, AP bao nhiêu lần cũng được; và được lấy điểm cao nhất để nộp. Khi tham gia chơi thể thao, học sinh tự chọn môn yêu thích và được tự do bỏ giữa chừng nếu thấy không phù hợp. Bằng cách này, các đội tuyển thể thao của trường sẽ sàng lọc bớt các cháu chỉ tham gia lớt phớt cho vui, giữ lại các cháu ưa thích thật sự. Khi đó đội tuyển sẽ thi đấu rất quyết liệt.

Vì được chủ động và tự do, được tôn trọng ý kiến trong khuôn khổ các quy tắc và kỷ luật của trường, học trò sẽ coi mọi áp lực là thử thách do chúng đặt ra cho bản thân. Áp lực lúc đó sẽ tự nhiên chuyển thành động lực để vượt qua trở ngại.

Ngược lại, nếu ép chúng học toàn các môn chúng không hề thích, ép chúng phải hoàn thành theo một lịch trình bất khả thi, ép chúng học thêm quá nhiều, ép chúng chạy theo thành tích mà chúng không hào hứng..., tất cả sẽ tạo ra áp lực xấu, dẫn chúng tới sự chán nản, mất sức và căng thẳng.

Trong khi chờ đợi ngành giáo dục thay đổi, các bậc cha mẹ có thể linh hoạt áp dụng trước, tạo cho các con nhiều cơ hội tự do, chủ động thiết kế mục tiêu của bản thân thay vì chạy theo thành tích ảo và sống theo ước mơ của bố mẹ. Đích đến của giáo dục và dạy dỗ là mang lại lợi ích cao nhất cho đứa trẻ, chứ không phải là làm rạng danh gia đình, dòng họ.

Vấn đề thứ hai là cách xử trí với áp lực xấu khi không thể loại bỏ nó, hay trong các trường hợp bất khả kháng. Vì không có cuộc sống nào chỉ bao gồm áp lực tốt, đứa trẻ phải học cách cân bằng.

Điều này đặc biệt nan giải với những đứa trẻ được gia đình bao bọc quá kỹ. Khi có bất cứ điều gì xảy ra với mình, thay vì tìm cách xử trí, chúng sẽ nhờ cha mẹ làm tất, hoặc là bỏ mặc tới đâu hay tới đó. Những đứa bé này rất sợ thất bại vì chúng không dám đối mặt với thất bại, chưa nói tới việc học hỏi từ thất bại để sau này sống tốt hơn.

Kinh nghiệm nhiều năm làm mẹ giúp tôi nhận ra một sự thật rằng, rất khó dạy bọn trẻ bằng những bài học lý thuyết. Tất cả các bài học sẽ trôi tuột đi rất nhanh. Nhưng từng bước một, cha mẹ có thể cho phép con làm quen với thất bại, coi đó là chuyện đương nhiên phải có để từ đó đứa trẻ không sợ hãi và chủ động học được từ thất bại của mình. Tất nhiên, những bậc cha mẹ ưa thành tích sẽ rất khó chấp nhận sự thất bại, dù là nhỏ, của con. Nhưng khó, cũng phải học.

Nhiều cha mẹ vì quá tập trung, lo lắng cho sự học của con mà quên mất đào tạo kỹ năng cho chính mình.

TƯƠNG TÁC, ỨNG XỬ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG SAO CHO PHÙ HỢP

 Thời gian qua trên trên Internet, mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin giả chưa xác thực xung quanh sự kiện Nga – Ukraine gồm cả những hành động hay phát ngôn của cá nhân hay người đại diện cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.. Đáng chú ý trong số đó có cả những bài do người Việt nam đăng tải, bình luận và chia sẻ.

Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Mục tiêu là chấm dứt những khổ đau, đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển trên thế giới. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”.

Do vậy mỗi người cần cân nhắc về cách ứng xử trên không gian mạng khi tiếp cận với bất kỳ sự kiện nào phải thận trọng, nên kiểm chứng lại nguồn tin rõ ràng, kỹ lưỡng tránh việc đưa ra những bài viết, bình luận, những cảm xúc cá nhân dựa trên những thông tin không đúng sự thật. Khi quyết định chia sẻ thông tin nào đó cần cân nhắc lựa chọn những nguồn tin phù hợp, chính xác, khách quan. Tránh việc chúng ta là công cụ cho việc lan truyền những thông tin không chính xác, thông tin chưa được kiểm chứng, tin giả, tin rác. Đó là những điều hết sức cơ bản trong việc ứng xử trên không gian mạng.

Những bài viết, bình luận, chia sẻ trên mạng xã hội hiện nay không phù hợp với quan điểm của Việt Nam gây ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh đất nước, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam cần phải được đấu tranh, loại bỏ./.

Các chú đã thực hiện khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”.

 

Sau sự kiện Không quân Nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích đánh to và thắng lớn không lực Hoa Kỳ trong các ngày 3 và 4-4-1965, ngày 5-4-1965, Bác gửi thư khen ngợi: “Các chú đã chiến đấu dũng cảm, đã tiêu diệt máy bay Mỹ. Các chú đã thực hiện khẩu hiệu “Đã đánh là thắng”. Như thế là xứng đáng với truyền thống anh hùng của quân và dân ta... Chúc các chú lập nhiều chiến công hơn nữa”.

Cùng ngày, trả lời phỏng vấn nhà báo Iuxi Takanu của báo “Akahata” của Đảng Cộng sản Nhật Bản, Bác đã đưa ra giải pháp để chấm dứt chiến tranh nếu Mỹ không can thiệp vào miền Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc thì “sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đi đến một hội nghị như kiểu Hội nghị Giơnevơ năm 1954. Đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý, có lợi cho hòa bình và có lợi cho nhân dân Mỹ”. Trong bức điện cảm ơn gửi cùng ngày tới Quốc trưởng Campuchia N.Xihanuc, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Trước sức mạnh đoàn kết của các dân tộc Việt Nam, Khơme và Lào biểu hiện rõ rệt trong Hội nghị nhân dân Đông Dương vừa qua do Ngài triệu tập, mọi âm mưu xâm lược và gây chiến của đế quốc Mỹ đối với các nước Đông Dương nhất định sẽ bị thất bại hoàn toàn”.

HAIVAN