Tư tưởng đoàn kết dân tộc trong đó có đoàn kết
tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: đồng bào lương giáo là bộ phận quan trọng
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố quan trọng dẫn tới sự thành công
của cách mạng Việt Nam. Với mọi tôn giáo, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự
tôn trọng và thực hiện bình đẳng tôn giáo. Người nói: "Phải đoàn kết chặt
chẽ đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà
thuận ấm no, xây dựng tổ quốc, phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do
tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo".
Với tư cách là người đứng đầu
Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn là tấm gương mẫu mực về thực hiện quyền tự do
tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng ấy được thể hiện nhất quán cả trong tư duy lý luận
và thực tiễn. Người luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng
kiên quyết đấu tranh với những kẻ có âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của đồng bào.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống
địch lợi dụng tôn giáo đã được thể chế hóa tại điều 7 sắc lệnh SL/234 về vấn đề
tôn giáo: “Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn
kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự
do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật”.
Tính thời sự và nhân văn
trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần thúc đẩy và tăng cường khối đại đoàn kết
tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác và là minh chứng sinh động cho chân lý “Đoàn kết, đoàn kết,
đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét