Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Bài 1: Mệnh lệnh từ cuộc sống, sự thôi thúc từ trái tim

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc và giục giã từ trái tim của mỗi chúng ta.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng, cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XI (năm 2011), đã được ghi vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân trang trọng kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long.

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(1).

Dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng cách mạng chân chính do Người sáng lập và rèn luyện, dạn dày kinh nghiệm và bản lĩnh trong đấu tranh cách mạng trước đây, trong đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm nhuần và thực hành lời dạy của Người “dĩ bất biến ứng vạn biến”, nêu cao quyết tâm, tín tâm và đồng tâm (chữ dùng của Hồ Chí Minh), cố kết sức mạnh “ý Đảng-lòng dân-phép nước” để thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội nước ta: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đó cũng là tâm nguyện, hoài bão và khát vọng phát triển của Người, được Người nêu rõ trong Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước khi trở về với tổ tiên, với Mác-Lênin ở cõi vĩnh hằng: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với đạo đức và phong cách của Người trong một hệ thống chỉnh thể, hữu cơ không thể tách rời. Tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn thấm nhuần trong toàn bộ hệ thống chỉnh thể ấy, thể hiện nhất quán trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhất quán giữa tư tưởng và hành động, lời nói đi đôi với việc làm, suốt đời tranh đấu, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Khoa học, cách mạng, nhân văn là bản chất và đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn của Người trên tư cách nhà tư tưởng mác xít sáng tạo, nhà tổ chức thiên tài của cách mạng Việt Nam.

Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh qua thử thách của thời gian trở thành những giá trị bền vững, được chứng nghiệm qua lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc ta trong thế kỷ 20 đã qua cũng như hiện nay và mai sau, là kim chỉ nam hành động cho toàn Đảng, toàn dân trong đổi mới, hội nhập và phát triển.

Giá trị, sức sống và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định ở trong nước mà còn có sức lan tỏa rộng lớn trong đời sống chính trị quốc tế, trong văn hóa của thế giới nhân loại. Việt Nam đến với thế giới và có mặt xứng đáng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân là nhờ có Hồ Chí Minh-biểu tượng kiệt xuất cho cuộc đấu tranh không mệt mỏi vì Độc lập-Tự do-Hạnh phúc của dân tộc và nhân loại.

Bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo vệ chân lý và đạo lý

Thế giới hiểu Việt Nam, ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, yêu mến, tin cậy và tự hào về Việt Nam là nhờ có Hồ Chí Minh-vĩ nhân và danh nhân ở tầm vóc tư tưởng và văn hóa, sứ giả của hòa bình và hữu nghị, một biểu tượng kiệt xuất của văn hóa hòa bình, văn hóa khoan dung.

Hồ Chí Minh đi vào lịch sử với dấu ấn không thể phai mờ, là một trong những lãnh tụ hiếm hoi đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống như đánh giá của bạn bè quốc tế.

Khi Người qua đời, 53 năm về trước (ngày 2-9-1969), hàng nghìn bức điện và thư chia buồn từ khắp nơi trên thế giới gửi tới Đảng và nhân dân ta, trong đó có Cuba anh em với đánh giá sâu sắc, thấm thía của đồng chí Fidel Castro Ruz: Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt...

“Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”, đó không chỉ là lời ngợi ca thành kính và thiêng liêng dành cho Người mà còn là chứng thực của lịch sử, vượt thời gian và không gian, từ dân tộc tới nhân loại. Đó cũng là sự khẳng định chân giá trị Hồ Chí Minh.

Kiên quyết bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là thái độ tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ chân lý và đạo lý, giữ vững niềm tin khoa học, ra sức trau dồi đạo đức cách mạng trong sáng và rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng mà Người là một tấm gương cao cả để muôn đời noi theo mà còn là mệnh lệnh của cuộc sống, thôi thúc và giục giã tự trái tim của mỗi người chúng ta.

Cuộc sống mách bảo chúng ta, đó là điều cần thiết để phê phán và bác bỏ mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xúc phạm cả đời tư và phẩm hạnh của Người từ những kẻ chống đối, những thế lực phản động với dã tâm thâm độc, bất minh, bất chính.

Mọi sự xúc phạm Hồ Chí Minh là xúc phạm tới dân tộc, nhân dân và Đảng ta, tới lương tâm, lương tri của cả loài người tiến bộ đã từng tôn vinh những cống hiến vô giá của Người đối với lịch sử. Thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất, thước đo khách quan nhất của chân lý.

Thời gian là sự kiểm nghiệm, sự sàng lọc khách quan nhất, chân thực nhất giúp cho sự phân biệt tốt xấu, đúng sai, thật giả. Sự xuyên tạc thâm độc, thậm chí bỉ ổi của các thế lực thù địch, phản động, kể cả những kẻ phản bội, tự bán rẻ nhân cách của mình, tự tách mình ra khỏi cộng đồng nhân dân và dân tộc nhằm vào Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người không thể che lấp sự thật, không thể lung lạc được niềm tin và tình cảm của chúng ta đối với Hồ Chí Minh.

Đó là niềm tin khoa học bắt nguồn từ giác ngộ chân lý, là tình cảm bền chặt đã trở thành máu thịt làm nên sự sống, trong từng nhịp đập của trái tim, của tâm hồn mỗi người chúng ta.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nó phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Nó phản ánh cả một thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của nước ta và của thế giới”(3)...

Người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, người đã sống, làm việc, chiến đấu bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chục năm, người thấu hiểu và thấu cảm Hồ Chí Minh đã nói hộ lòng ta về niềm tin và tình cảm đối với Người...

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO, Chuyên gia cao cấp, nguyên Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), CTQG, H.2011, tr.32.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, CTQG, H.2011, tập 15, tr.624.

(3) Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh, Tinh hoa và khí phách của dân tộc, CTQG, H.2012, tr.89.


ÂM MƯU THÂM ĐỘC CỦA NHỮNG KẺ XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Mục đích của chúng nhằm phá hoại, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh từ gốc rễ, qua đó tiến công trực diện vào một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã xác định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và được bổ sung tại Đại hội XII của Đảng: “Tư tưởng của Người, cùng với Chủ  nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”(2). Việc khẳng định này cho thấy tầm quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và đối với nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó chúng tìm mọi cách để đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuân thủ đúng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản: “Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc, không theo Chủ nghĩa Mác-Lênin”; “Con đường Bác Hồ đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội” (!). Chúng còn cố ý minh họa bằng những những sự kiện lịch sử, như: Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trước vấn đề giai cấp... nhằm củng cố những luận điệu xuyên tạc này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc và giai cấp

Luận điệu xuyên tạc trên là vô căn cứ. Bởi lẽ, lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”, vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc(3). Cho nên, mấu chốt của cách mạng vô sản vẫn là giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, dù cho quốc gia đó đã trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay chưa trải qua giai đoạn này. Ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt và quan trọng bậc nhất là thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc giành lấy độc lập, quyền tự quyết dân tộc để làm cơ sở hiện thực làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng vô sản suy cho cùng cũng là vì quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc; việc giải quyết vấn đề giai cấp không đứng trên lập trường lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ không thể giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra của cuộc cách mạng, đôi khi còn dẫn đến thất bại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức, tiếp thu sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản. Người đã tích cực chuẩn bị tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành lấy độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới. Thắng lợi đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn giải quyết vấn đề dân tộc trước, sau đó giải quyết vấn đề giai cấp trên lập trường giai cấp vô sản, điều này đã thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng thực tiễn khách quan và bảo đảm tính lịch sử cụ thể của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc lựa chọn này không phải là sự ngẫu nhiên, “ăn may” mà là sự tìm tòi, phân tích thực tiễn cách mạng thấu đáo. Điều đó xuất phát từ tài năng, trí tuệ, sự nhạy bén chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi phân tích thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ, Việt Nam xuất phát từ một nước phương Đông truyền thống, nền nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, sự phân hóa giai cấp chưa sâu sắc, khi thực dân Pháp xâm lược thì nhiệm vụ nổi lên hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập dân tộc, tự do cho người dân, nên Người đã phê phán thẳng thắn quan điểm phiến diện, giáo điều, rập khuôn máy móc của một số người về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp ở Việt Nam: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (4).

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cái cẩm nang” thần kỳ, “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam. Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5). Người đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác-Lênin để nghiên cứu thực tiễn, tìm ra quy luật vận động và phát triển cách mạng Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, qua đó khắc phục được khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân tộc.

Những thành quả to lớn của cách mạng Việt Nam đạt được đã cho thấy những điều Người khẳng định là hoàn toàn đúng đắn, “Đảng ta nhờ kết hợp được Chủ nghĩa Mác-Lênin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác”(6), và sự thật là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành lại độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và đưa nước ta bước vào giai đoạn độc lập, tư do và phát triển.

Thực tế đó cho thấy, con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đường, dẫn lối là phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đó là: Người đã đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước giải phóng giai cấp nhưng không đối lập giữa nhiệm vụ giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc mà kết hợp chặt chẽ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp để tiến tới giải phóng con người; Người chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vì nhiệm vụ cách mạng của mỗi nước Đông Dương khác nhau, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, dân tộc, con người mỗi nước có sự khác nhau.

Tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần làm phong phú kho tàng lý luận Mác-Lê nin

Một trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc khác mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn lèo lái dư luận rằng “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam”; “bây giờ Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế Chủ nghĩa Mác-Lênin”(!).

Việc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp Chủ nghĩa Mác-Lênin vô hình trung đã phủ định nguồn gốc hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội lần thứ IX năm 2001 và Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” (7).

Sự khẳng định đó đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa Chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và phẩm chất, nhân cách của Người, cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại. Không có Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là Chủ nghĩa Mác-Lênin mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa này vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên lập trường của cách mạng vô sản. Cho nên “không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạ thấp, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin”(8).

Đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin là hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc lịch sử và logic vận động cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin về cách mạng vô sản thống nhất với nhau về mục tiêu, lý tưởng, đó là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Bản thân các nhà kinh điển mác-xít không đưa ra một khuôn mẫu cứng nhắc cho việc tiến hành cuộc cách mạng vô sản mà chỉ nêu ra những nguyên lý cơ bản, nên việc vận dụng những nguyên lý đó như thế nào, thành công đến đâu phụ thuộc vào tài năng của lãnh tụ phong trào cách mạng.

Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng thành công những nguyên lý đó để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc và đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng con người trên thế giới, qua đó khẳng định và củng cố tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

TS ĐẶNG VIẾT ĐẠT

(Học viện Chính trị khu vực IV, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Chính trị quốc gia-Sự  thật, Hà Nội, tr. 21

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.7-8

(3) C.Mác và Ph.Ănghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.105.

(4) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.312

(5) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.289

(6) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, t.12, tr.11

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.88

(8) Lê Hữu Nghĩa, “Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện nay”, trong sách Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr.23


Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam

 Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu Quân đội từ gốc

 Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.

Câu chuyện kỷ luật: Mắc lỗi bởi sự vô tâm

 

Gần 12 giờ đêm, trên đường đi gác về, Binh nhất Nam thấy một chiến sĩ ngồi một mình trên ghế đá ở góc vườn hoa đơn vị. Lại gần, nhận ra Long ở cùng trung đội đang... khóc, Nam vỗ vai, hỏi:

MỸ GIẢI QUYẾT “BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG” TỐT HƠN VIỆT NAM?

         Nhân có vụ "bạo lực học đường" xảy ra trong một trường Quốc tế ở Việt Nam vừa rồi, mấy anh của cái đài hóng hớt BBC, lập tức bình luận khen chê quá lố, bằng việc trích stattut của một cậu du học sinh có tên James Thạnh Nguyễn nào đó. Bản đài BBC thì ai cũng biết rồi, anh ta nói gì thì nên hiểu ngược lại mới đúng của một phần câu chuyện, nên bỏ qua không tính. Ở đây muốn nói đến cái cậu du học sinh người Việt tên Jemes kia, học ở Việt Nam bao nhiêu năm, sang bển lâu chưa, mà có cái nhìn phiến diện, mù mờ đến vậy !? 

Cậu ta cho rằng: tại Mỹ giải quyết vấn đề bạo lực học đường rất tốt, còn ở Việt Nam thì chậm trễ; ở Mỹ bạo lực học đường không có chốn dung thân (!!?).

Tốt? Tốt sao lại các vụ "bạo lực học đường" ở Mỹ nhiều đến thế, thậm chí có cả "thảm sát học đường" liên tiếp xảy ra, mà thủ phạm vốn là học sinh của chính ngôi trường đó gây ra? Tốt mà sao nạn kỳ thị chủng tộc nặng nề đè nặng trong các trường học, dẫn đến gây án đau lòng như vậy? Tốt mà sao dùng đến cảnh sát còng tay lôi xềnh xệch các cháu vị thành niên trong trường học như thế? Đáng lẽ tốt thì tình trạng "bạo lực học đường" phải ít đi chứ, phải từ gốc của vấn đề là kỷ cương, đạo đức, nhân văn của nền tảng giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội chứ.

 Còn nhanh hay chậm còn tùy từng trường hợp cụ thể, chứ không phải chuyện bắt cướp, để "hình sự hóa" mọi sự phát sinh dẫn đến va chạm của các cháu. Tất cả đều phải hướng tới tương lai tốt đẹp, sau những va chạm, hoặc "bạo lực học đường" đó, chứ không phải nhanh chậm bất chấp tổn thương, nguy hại sau đó.

 "Bạo lực học đường không có chốn dung thân ở Mỹ", vậy thì ở đâu hay ở Việt Nam thì "có chốn dung thân " ? Ý này được hiểu theo nghĩa nào đây? Là sự khuyến khích, bao che hoặc có hay không có tình trạng "bạo lực học đường"?! 

Tình trạng "bạo lực học đường" là điều không ai muốn, cũng không quốc gia nào muốn; không có bất kỳ ở đâu, chế độ nào lại đi khuyến khích, bảo vệ hiện tượng phản giáo dục này cả; vậy mà cậu Jemes người Việt nào đó lại nói như chỉ có ở Mỹ mới có điều đó hay sao ?

Thật đáng buồn đến xấu hổ với những kẻ cuồng đến mức nhìn mà không thấy, không hiểu đến mức lố bịch, phiến diện như thế./.
Yêu nước ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA!

THẦY VÀ TRÒ
HỌC SỬ, GIẢNG SỬ
Tôi xin kể 2 câu chuyện liên quan đến môn Sử mà hiện nay tôi may mắn dạy cho SV năm thứ 2:
- Câu chuyện thứ nhất:
Năm 1970 tôi là SV năm thứ 2, khoa Toán, ĐHTH HN.
Một lần tôi lên Thư viện của Trường mượn tài liệu, bất chợt tôi thấy thầy tôi, GS. Hoàng Hữu Như, (cố Chủ nhiệm Khoa Toán, ĐHTH HN)
đang chăm chú đọc SGK Lịch sử lớp 8,9,10 (thời tôi học hệ 10 năm). Tò mò và hơi chút ngạc nhiên, tôi hỏi thầy: Thưa Thầy, thầy đọc cái này để dạy thêm cho con thầy ạ? Gỡ cặp kính dày cộp, thầy nhẹ nhàng: mình đọc cho mình đấy, Toàn ạ! Hồi kháng chiến chống Pháp, mình không được học hành đầy đủ như bây giờ và mình thấy còn thiếu nên đọc bổ sung. Hồi mình làm NCS nước ngoài, bạn bè họ hỏi về Lịch sử VN, mình rất xấu hổ vì nắm không chắc nên trả lời không đúng.
Chuyện đã già nửa thế kỷ nhưng nó làm tôi nhớ mãi và luôn nhắc nhở tôi: "Dân ta phải biết sử ta...".

- Chuyện thứ hai:
Từ học sinh chuyên Toán, tốt nghiệp Khoa Toán, làm Toán rồi do yêu cầu của Đảng, Nhà nước và xã hội, tôi sang học 5 năm và tốt nghiệp 1 ngành KHXH-NV. Giờ đây thầy Hoàng Hữu Như yêu kính của tôi đã mất hơn 20 năm, còn tôi đã 73 tuổi, vẫn đứng vững là Giảng viên cơ hữu của một trường đại học tên tuổi. Thật may mắn trên bục giảng, tôi được giảng cho SV năm thứ 2 về Lịch sử Văn minh thế giới và lịch sử Việt Nam. Tôi nhận thấy các em hổng rất nhiều kiến thức về lịch sử thế văn minh thế giới và đặc biệt là lịch sử Việt Nam. Tôi cố gắng thổi vào hồn các em phương pháp khoa học khi học Sử, rằng cái gì nên nhớ, cái gì thì Google nhớ cho, cách Seach tài liệu, truyền cảm hứng cho các em sự say mê yêu thích môn sử, tự đọc thêm, tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy. Và tôi cũng nói với các em rằng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Big Data (Dữ liệu lớn), Internet of Things (vạn vật kết nối), Artificial Intelligence(Trí tuệ nhân tạo - AI) and Cloud (Đám mây lưu trữ) có thể và sẽ thay thế các em rất nhiều công việc. Rằng, các em có thể học rất giỏi về khoa học kĩ thuật và công nghệ nhưng robot có thể nó còn giỏi hơn các em. Vậy các em hơn robot ở điểm nào? đó là lịch sử đất nước mình, tình yêu quê hương đất nước mình, xác định được mình là ai và mình làm gì trước những sự biến động trong xã hội Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung./.
Ảnh: Hoàng Hữu Như (1932 - 2009) ông là một Giáo sư, Tiến Sĩ Toán học Việt Nam, ông là một trong những người nghiên cứu Lý thuyết Xác suất và Thống kê Toán học hiện đại đầu tiên ở Việt Nam.
Yêu nước ST.

Cùng học, giúp nhau học để xây dựng xã hội học tập


"Khi người dân, xã hội còn quan tâm, góp ý thì đó là may mắn cho những người làm công tác giáo dục có động lực để sửa mình, để phát triển", Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam trao đổi tại hội thảo quốc gia với chủ đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực tại chỗ thông qua việc thực hiện các mô hình học tập", tổ chức vào sáng 24/5, tại Hà Nội, do Hội Khuyến học Việt Nam phối hợp Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ GD&ĐT tổ chức.
Tham dự hội thảo có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; GS.TS. Nguyễn Thị Doan, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam và lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương, hội khuyến học 63 tỉnh, thành phố, các chuyên gia, nhà khoa học giáo dục…
Trong những năm qua, Việt Nam đã chú trọng đến việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tuy nhiên, hiện nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Theo thống kê, tỉ lệ lao động có bằng cấp chứng chỉ của Việt Nam mới đạt được 30%, năng suất lao động chất lượng cao còn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Do đó, xây dựng mô hình "Công dân học tập", "Đơn vị học tập" là một trong những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực tại chỗ.
Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản quan trọng nhất trong sự phát triển. Trong bối cảnh kinh tế số, hội nhập quốc tế, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực tại chỗ cần phải được đẩy mạnh. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phụ thuộc vào đầu tư phát triển nền giáo dục hiện đại, giáo dục mở thời đại số, tạo ra sự bình đẳng ai cũng có thể học hành. Do vậy, mỗi tổ chức, cơ quan, cần có biện pháp phù hợp để thúc đẩy với chủ trương mô hình công dân học tập, học tập suốt đời trong nhân dân. Đặc biệt là đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ cho các cấp quản lý, cán bộ trong các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: "Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ chỉ đạo hệ thống tuyên giáo phối hợp chặt chẽ với Bộ GD&ĐT, Hội Khuyến học và các cơ quan có liên quan cùng nhau chắt lọc những kết quả nghiên cứu, cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn tham mưu với Đảng, Nhà nước về các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để nâng cao ý thức học tập, ý thức tự học thường xuyên, học suốt đời… học mọi nơi mọi lúc, để nâng tầm trí tuệ, trình độ kỹ năng của từng công dân học tập, thành tố hạt nhân, yếu tố cơ bản của gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập".
Các đại biểu tại hội thảo đã tập trung làm rõ thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực theo mô hình "Công dân học tập" ở các ngành, các lĩnh vực, các nhóm đối tượng lãnh đạo, quản lý, người lao động, nhất là chất lượng nhân lực đội ngũ cán bộ trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, đội ngũ nhà giáo trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Để cụ thể hóa việc thúc đẩy học tập suốt đời, xây dựng "Xã hội học tập" từ cơ sở, nâng cao nguồn nhân lực tại chỗ, các đại biểu cho rằng, việc chuyển đổi mô hình đào tạo giáo dục cần phải được chú trọng ngay từ các cấp cơ sở, để thuận lợi nhất và tạo điều kiện cho mọi người đều có thể học tập. Đồng thời triển khai đồng bộ các mô hình học tập phù hợp từng ngành, từng lĩnh vực làm nòng cốt lan tỏa tới "Công dân học tập" .
Thực tế cho thấy, những khó khăn về công nghệ lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, môi trường bị ô nhiễm... sẽ được giải quyết nếu biết sử dụng, bồi đắp, làm giàu nguồn vốn là lực lượng nhân lực dồi dào và đầy ắp trí thông minh - những người đủ năng lực làm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: Đổi mới giáo dục là một quá trình, có những việc phải 10 năm sau mới có kết quả. Trong quá trình đổi mới giáo dục từng bước một, khi chưa hoàn thành thì vẫn còn điểm này, điểm kia. Nhưng điều quan trọng là khi nghị quyết của Trung ương, những nghiên cứu khoa học đủ chắc chắn, phù hợp với xu thế thế giới thì phải có kiên định chiến lược, kiên nhẫn thực hiện. Đồng thời, phải gắn chặt với điều kiện trong nước về hệ thống chính trị, truyền thống văn hoá, trình độ phát triển kinh tế-xã hội.
"Khi người dân, xã hội còn quan tâm, góp ý thì đó là may mắn cho những người làm công tác giáo dục có động lực để sửa mình, để phát triển", Phó Thủ tướng chia sẻ.
Theo Phó Thủ tướng, nhìn lại suốt mấy chục năm qua, đặc biệt từ khi có Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục tiếp tục có những bước phát triển vững chắc, toàn diện. Các bậc học (mầm non, phổ thông, dạy nghề, đại học) đều có bước tiến bộ. Các giải pháp đổi mới đã theo xu thế rất tốt.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh: Nghị quyết 29-NQ/TW đề ra rất nhiều giải pháp toàn diện. Bên cạnh việc tập trung vào các nhiệm vụ đổi mới trong nhà trường, thì liều lượng dành cho các giải pháp xây dựng xã hội học tập ở bên ngoài nhà trường cần được chú trọng hơn nữa.
Qua các ý kiến tại hội thảo, Phó Thủ tướng nhận định các cấp, các ngành đang tích cực thực hiện Quyết định 1373/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030".
Trong thời gian tới, cả hệ thống chính trị, chính quyền, đoàn thể cần vào cuộc, bằng các giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải học tập suốt đời. Không chỉ người dân mà từng cơ quan, đơn vị cũng thấy rằng phải học tập để duy trì, đáp ứng được yêu cầu công việc, nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cho rằng phải làm sao để mỗi người thích học, thông qua nhiều giải pháp như xây dựng phong trào vận động xây dựng xã hội học tập, tôn vinh những người có kiến thức, hiểu biết, khơi dậy sự sáng tạo, đóng góp của người dân trong mọi hoạt động của đời sống văn hoá, xã hội.
Phó Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành làm tốt hơn nữa việc tạo điều kiện thuận lợi để người lớn học tập, từ xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế chính sách để hệ thống giáo dục mở thực sự, phát huy tối đa các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề, cho đến chương trình để người lao động được học tập thuận lợi, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
Đồng thời cần lưu ý đến những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội như người khuyết tật, người có khó khăn, đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa.

Đình Nam 

KHÔNG THỂ XÉT LẠI CUỘC CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM!

         Kể từ ngày nó kết thúc, vào năm 1975, đã có những nỗ lực xét lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam, để làm cho nó có thể chấp nhận được, thậm chí là để có danh dự. Rốt cuộc, có rất nhiều khía cạnh của câu chuyện. Nó rất phức tạp, rất nhiều sắc thái. 

Hiện đang có áp lực rất lớn và rất nhiều tiền bạc để thay đổi lịch sử liên quan đến Việt Nam, khiến chúng ta phải mặc cảm và xấu hổ về nó. Nhưng chính cảm giác tội lỗi của người dân, sự xấu hổ của họ trước những gì được thực hiện dưới danh nghĩa của họ, và lòng dũng cảm tố cáo điều đó sẽ khiến chính phủ không thể thực hiện hành vi dã man này nữa
 
Điều rõ ràng là luôn thực sự tồn tại chủ nghĩa anh hùng, trong quân đội của các bên. Tất nhiên, điều này là đúng, như nó vẫn đúng với mọi cuộc chiến, nhưng không phải vì thế mà nó có thể là lý do cứu rỗi cho bất kỳ cuộc chiến nào. Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là không thể cứu chuộc, cần phải được ghi nhớ và lên án về thảm họa mà nó đã gây ra. “Chiến tranh Việt Nam là một trong những thảm họa chính sách đối ngoại lớn nhất của Mỹ trong thế kỷ XX” - Đó không phải là lời của một nhà bác học cánh tả hay một người có tinh thần chống Mỹ mới chỉ biết đọc biết viết, mà đó là lời của HR McMaster, cố vấn An ninh Quốc gia đương nhiệm của Tổng thống Hoa Kỳ.
 
Tại sao cuộc chiến tranh ở Việt Nam cần phải được ghi nhớ và lên án vì sự thất bại của nó?
 
Thứ nhất, Mỹ đã phản bội lý tưởng của chính mình vẫn thường đưa ra để biện minh cho chiến tranh. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam đã đến gặp Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman để yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ trong việc đuổi người Pháp đã chiếm Việt Nam làm thuộc địa từ những năm 1860. Chẳng phải chính Hoa Kỳ cũng đã từng tiến hành một cuộc chiến tranh giành độc lập để thoát khỏi sự thống trị của thực dân châu Âu hay sao?
 
Thật vậy, những lời mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam đã được Hồ Chí Minh lấy cảm hứng từ Tuyên ngôn Hoa Kỳ. Chúng vang vọng đến mọi người Mỹ yêu nước: “Tất cả mọi người (đàn ông) được tạo ra bình đẳng. Họ được Tạo hóa ban tặng cho một số quyền bất khả xâm phạm, và trong số đó là Sự sống, Tự do và theo đuổi Hạnh phúc".

(Ở đây, người dịch xin phân tích thêm: những lời đó đã được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện quan điểm tiến bộ hơn hẳn nội dung trong Tuyên ngôn Hoa Kỳ. Người khẳng định quyền bình đẳng thuộc về tất cả các dân tộc và các quyền con người cơ bản là quyền của cả nhân loại chứ không chỉ là “all men” – tất cả mọi người, thực tế chỉ là quyền của riêng đàn ông da trắng ở Mỹ khi đó, mà không phải “all humans” - tất cả con người hay “Human” - nhân loại).

Nhưng Hồ Chí Minh là một người cộng sản. Và chỉ vì vậy, mà Truman đã từ chối ông và thay vào đó là hỗ trợ cho người Pháp. Đó chính là “nguyên tội” khiến Mỹ không thể nào “thu phục nhân tâm” của người dân Việt Nam. Đó cũng là nguyên nhân sâu xa nhất khiến Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên, đó cũng không phải là tội lỗi đạo đức duy nhất mà Hoa Kỳ phạm phải chống lại những lý tưởng giả định của chính họ.
 
Eisenhower đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Genève 1954, dàn xếp cuộc chiến tranh cùng với người Pháp và thiết lập chế độ bù nhìn ở miền Nam. Do đó, chế độ “miền Nam” Việt Nam, không có gì đáng ngạc nhiên, đã nhanh chóng thất bại ngay sau khi người Mỹ phải cuốn cờ. Ông ta đã nhồi nhét một quan chức Công giáo giàu có từ New Jersey - Ngô Đình Diệm - vào vị trí cai trị những người dân mà đa số là dân nghèo, theo Phật giáo và là nông dân.
 
Diệm, với sự chúc phúc của Eisenhower, đã tẩy chay các cuộc bầu cử thống nhất đất nước được quy định rõ trong Hiệp định. Sau đó, chính Eisenhower tiết lộ rằng lý do của sự tẩy chay là "thằng con trai của chúng ta sẽ thua trong cuộc bầu cử". Và khi Diệm không còn có thể trấn áp được cuộc nổi dậy bùng phát chống lại chế độ chia rẽ và quá áp bức của mình, Kennedy đã ám sát ông ta.
 
Thứ hai, Mỹ đã tiến hành “bạo lực ngày tận thế” đối với Việt Nam, vượt quá mọi tiêu chuẩn đạo đức có thể hình dung được. Nó đã thả số bom xuống Việt Nam nhiều gấp ba lần so với lượng bom được tất cả các bên sử dụng tại tất cả các chiến trường trong Thế chiến II cộng lại. Như “bắn cá trong thùng”, bởi Việt Nam chỉ có diện tích tương đương với New Mexico và vào thời điểm đó, có dân số lớn hơn cả New York và California cộng lại.
 
Hoa Kỳ đã mất hơn 58.000 sinh mạng trong cuộc chiến tranh này. Nhưng hơn bốn triệu người Đông Nam Á - Việt Nam, Campuchia, Lào - đã bị giết hại, hầu hết là dân thường. Cứ 1 người Mỹ thì có 69 người Đông Nam Á bị giết. Đó không phải là một cuộc chiến. Đó là một cuộc thảm sát, và trên quy mô gần với Holocaust (cuộc diệt chủng do phát xít Đức tiến hành - người dịch).
 
Mỹ đã rải 21 triệu gallon chất khai quang gây ung thư xuống Việt Nam, trong đó có chất độc da cam khét tiếng. Hơn một nửa số rừng của quốc gia này đã bị phá hủy. Việt Nam là thảm họa môi trường do con người cố ý gây ra lớn nhất trong lịch sử thế giới. Cho đến nay, trẻ em ở đất nước này vẫn đang được sinh ra với dị tật bẩm sinh do ảnh hưởng của chất độc còn sót lại.
 
Trên đất nước láng giềng Lào, năm 1965 có dân số 2,4 triệu người, nhưng Mỹ đã thả tới 270 triệu quả bom bi. Tức là 113 quả bom bi cho mỗi người đàn ông, phụ nữ và trẻ em của đất nước này. Hơn 80 triệu quả bom vẫn chưa nổ cho đến ngày nay. Điều quan trọng cần nhớ là cả Việt Nam, Lào hay Campuchia đều chưa bao giờ tấn công Hoa Kỳ. Họ không bao giờ muốn tấn công. Họ không bao giờ cố gắng tấn công. Họ không bao giờ có khả năng tấn công. Họ chỉ đơn giản là muốn có cuộc sống của riêng họ.
 
Cuối cùng, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được thiết lập và tiến hành với sự nối tiếp không ngừng của những lời nói dối cần phải bị truy tố. Mẹ bạn đã từng dạy bạn, như tất cả những bà mẹ tốt đều làm, rằng nếu bạn phải nói dối về điều gì đó thì rõ ràng điều đó là sai.
 
Các cơ quan “tình báo” đã không ngớt lời nói dối chúng ta về mối đe dọa từ một quốc gia của những người nông dân thời kỳ tiền công nghiệp ở phía bên kia thế giới, những người sau gần một thế kỷ chịu ách thống trị thuộc địa, chỉ đơn giản là muốn được các thế lực đế quốc phương Tây để họ được yên...
 
Năm đời tổng thống kế tiếp sau đã nói dối người dân Mỹ về sự cần thiết của cuộc chiến tranh và khả năng chiến thắng của nó. Không ai trong số họ muốn tỏ ra “mềm mỏng với chủ nghĩa cộng sản”. Không ai muốn trở thành "tổng thống Mỹ đầu tiên thua trận".
 
Báo cáo của Lầu Năm Góc tiết lộ rằng quân đội đã bị bão hòa với những lời dối trá, cả từ các đơn vị cấp thực địa đến các cơ quan điều hành chiến lược. Những người nói ra sự thật đều bị loại bỏ, nhằm đảm bảo rằng chỉ có những lời dối trá mới lọt được vào dây chuyền. Những lời nói dối sẽ không bị phát hiện cho đến khi trở nên quá muộn.
 
Trên thực tế, chính sự dối trá của chúng ta về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cả lúc bấy giờ và bây giờ, và sự hiểu biết của chúng ta về những lời nói dối đó, mà chưa bao giờ công khai, phủ nhận chúng một cách rõ ràng, đã tiếp tục làm cho chiến tranh trở nên đáng ghê tởm hơn.
 
Tất nhiên, nỗi nhục không thuộc về hàng triệu binh lính đã phục vụ ở đó mà thuộc về chính Cuộc chiến tranh. Nó thuộc về hệ thống các tổ chức - cả công và tư - hưởng lợi từ Chiến tranh và liên tục nói dối để biện minh cho nó, và cho những người mà sự im lặng và chấp nhận đã khiến họ trở thành đồng lõa với những lời nói dối.
 
Nỗi nhục nhã đó thuộc về những người đã đặt những người lính của chúng ta, con cái của chúng ta, trong hoàn cảnh éo le không phải để làm những điều danh dự một cách danh dự, mà phải cố gắng làm những điều ô nhục. Bởi vì, bất chấp những động cơ cao cả nhất mà họ viện ra để có thể tạo ra sự khởi đầu của nó, không thể nghi ngờ gì nữa, Cuộc chiến tranh cuối cùng đã trở thành “cái gì”.
 
Vào tháng 3 năm 1965, trước khi quân đội Mỹ đưa quân trên bộ vào khiến Chiến tranh không thể đảo ngược được nữa, trước khi phần lớn các vụ đánh bom và giết chóc sẽ được thực hiện, tại một cuộc họp ngắn của Lầu Năm Góc, Johnson đã tuyên bố rằng mục tiêu thực sự trong Chiến tranh là: “… 70% để tránh một thất bại nhục nhã của Hoa Kỳ; 20% để giữ miền Nam Việt Nam (và các vùng lãnh thổ liền kề) khỏi tay Trung Quốc; và 10% để cho phép người dân Việt Nam có một cuộc sống tốt hơn, tự do hơn”.
 
Đó là những gì mà sự tàn bạo loạn thần ở Việt Nam đã từng xảy ra. Chúng tôi tin rằng những người có khả năng nhận thức lịch sử sẽ không thể tin tưởng vào ý đồ xóa mờ lịch sử một cách vụng về. Bởi cuộc chiến tranh đó không phải để mang lại dân chủ; không để chống lại chủ nghĩa cộng sản; không phải để giúp đỡ nhân dân Việt Nam. Mà nó là "để tránh một thất bại nhục nhã của Hoa Kỳ". Đó là những lời chính thức, mặc dù vào thời điểm bí mật khi đó, của chính phủ Hoa Kỳ.
 
Chúng ta có thể triệu tập một người có thẩm quyền lớn hơn HR McMaster để xác nhận rằng Cuộc chiến tranh đã sai. Robert McNamara từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ trong cả nội các của Kennedy và Johnson. Ông ta là kiến ​​trúc sư và chiến lược gia chính của Cuộc chiến tranh.Trong hồi ký của mình, McNamara đã viết: “Chúng tôi, trong chính quyền Kennedy và Johnson, những người tham gia vào các quyết định về Việt Nam đã hành động theo những gì chúng tôi nghĩ là nguyên tắc và truyền thống của quốc gia chúng ta. Chúng tôi đã đưa ra quyết định của mình dựa trên những giá trị đó. Vậy mà chúng tôi đã sai, sai một cách khủng khiếp. Chúng tôi nợ các thế hệ tương lai việc giải thích lý do tại sao”.
 
Không có hai nhà chính trị nào có thể đại diện cho những khác biệt trong nhận thức về cuộc chiến tranh ở Việt Nam hơn hai người này (HR McMaster và McNamara – người dịch). Họ đại diện cho cái cũ và cái mới, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa, dân thường và quân nhân, diễn viên và nhà phê bình, thực tế và hồi tưởng. Tuy nhiên, họ đều đã đi đến cùng một kết luận đáng nguyền rủa.
 
Đang có một áp lực rất lớn và rất nhiều tiền bạc để xét lại cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, khiến chúng ta phải mặc cảm và xấu hổ về nó. Nhưng trước đây, chính cảm giác tội lỗi của người dân, sự xấu hổ của họ trước những gì đã được thực hiện dưới danh nghĩa của họ, và lòng dũng cảm tố cáo điều đó đã khiến chính phủ của họ không thể thực hiện hành vi dã man này nữa. Liệu rằng trong chúng ta ngày nay có còn cảm giác tội lỗi, xấu hổ và can đảm như vậy nữa hay không?
 
Hãy nhớ rằng: nếu chúng ta phải nói dối về điều gì đó, thì rõ ràng điều đó đã sai. Logic này vẫn luôn đúng, với ngày nay cũng như những ngày đó, phải không? Và điều sai không thể trở thành đúng chỉ bởi sự lặp lại lớn hơn hoặc lặp đi lặp lại của những lời nói dối ban đầu. Hoặc, chỉ bởi sự liên kết “đầy nghệ thuật” của những cái mới hơn, bóng bẩy hơn, cá tính hơn.
 
Quên bài học đó, hoặc tệ hơn, rửa sạch nó khỏi ký ức của chúng ta để chúng ta có thể tiếp tục với lương tâm đã được thanh tẩy và lòng nhiệt thành được củng cố cho những kẻ săn mồi tàn ác hơn nữa, sẽ là một sự phản bội chính mình. Điều này chính những người dân Mỹ chúng ta mới có thể chống lại.
Trong khi đó, sách của một số "xử ra" cuốc sử nhà ta và cả phim ảnh của các hãng phim “chính thống” ở Việt Nam lại vô tư, trơn tuột sử dụng khái niệm “Vietnam War - Chiến tranh Việt Nam” theo chiêu bài tâm lý chiến của Mỹ ngụy xưa, bê gần như nguyên xi bộ phim “The Vietnam War” của Mỹ với cả lời bình vào các tập phim của mình, và... nhận giải. Trong khi đó, chính tại nước Mỹ, bộ phim này đã nhanh chóng chính thức bị ném vào sọt rác vì các chi tiết sai lệch, tẩy xoá lịch sử./.
Ảnh: bìa cuốn sách “Cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam - Tội ác hay sự kỷ niệm” của tác giả Mỹ John Marciano.
Môi trường ST.

ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI KHÔNG CẦN THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”

 

Các thế lực thù địch sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tiến hành nhiều thủ đoạn, nhiều hướng tấn công theo phương châm đánh “mềm, ngầm, sâu” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và tác động đến mọi đối tượng bằng con đường kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm suy yếu nội bộ của chúng ta.
Trong đó, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, với luận điểm kích động: “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội".
Đòn đánh nham hiểm nhằm làm suy yếu quân đội từ gốc
Thời gian qua, các thế lực thù địch xác định tiến hành nhiều thủ đoạn tinh vi, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo lộ trình “5 hóa”, trong đó có “vô hiệu hóa quân đội”. Bởi lẽ, các thế lực thù địch đưa ra nhận định rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm chắc quân đội, công an nên chưa thể lật đổ được vai trò cầm quyền, vai trò lãnh đạo xã hội”.
Vì thế, chúng xác định âm mưu cơ bản, lâu dài là thực hiện “vô hiệu hóa quân đội” thì phải theo kịch bản, con đường “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Khi đó quân đội không còn là lực lượng chính trị tin cậy, tách rời khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ không còn công cụ đắc lực để bảo vệ Đảng nên dễ lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Mục đích phản động của luận điệu nêu trên là làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ ảo tưởng, rồi dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, không trung thành với mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nếu quân nhân nào bị ảo tưởng, nhận thức không đúng về mục tiêu, lý tưởng của Quân đội ta phải phục tùng mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thì sẽ mất phương hướng chính trị.
Thực hiện thủ đoạn lấy tư tưởng là khâu đột phá, các thế lực thù địch đưa ra những luận điểm rất đa dạng và biến hóa: “Quân đội là trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị”, “quân đội không cần tham gia chính trị”, “quân đội chỉ cần đề cao tính nhân dân, tính dân tộc”... Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng con đường vòng là kích động truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, buông thả, thờ ơ với chính trị để làm suy thoái về đạo đức lối sống dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị và phai nhạt về mục tiêu, lý tưởng trong đội ngũ cán bộ, chiến sĩ.
Chưa dừng lại ở đó, các thế lực thù địch, bất mãn chính trị từng đưa ra cái gọi là kiến nghị rằng: Lời thề thứ nhất trong "10 Lời thề danh dự của quân nhân" chỉ cần diễn đạt ngắn gọn lại là “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam”, bỏ cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” và cụm từ “phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”... Chúng cũng đưa ra đề xuất "quân đội chỉ cần thực hiện “công tác chính trị”, chứ không cần thực hiện “công tác đảng” và không cần xác định "Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội"(!).
Nếu cán bộ, chiến sĩ quân đội không có bản lĩnh chính trị vững vàng, phân biệt rõ đúng, sai mà lại bị kích động và nhận thức không đúng đắn về sự thống nhất giữa mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam với mục tiêu chiến đấu của Quân đội ta thì tác hại rất lớn. Tác hại là không chỉ gây mơ hồ, ảo tưởng về nhận thức tư tưởng chính trị mà sẽ dẫn đến hành động dễ bị lệch lạc trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Giữ vững mạch sống, “linh hồn” của Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, phục vụ. Cội nguồn hàng đầu làm nên sức mạnh, sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta trong gần 8 thập niên qua là do sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của QĐND Việt Nam. Vì vậy, việc thấm nhuần và thực hiện mục tiêu, lý tưởng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” phải được xác định là mạch sống và “linh hồn” của QĐND Việt Nam, là phương châm hành động của mọi cán bộ, chiến sĩ.
Việc cần làm thường xuyên, bất di bất dịch là giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo và kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên quyết phản bác, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch. Đánh giá của Đảng ta về nguy cơ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”(1). Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải tuân thủ triệt để cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo lực lượng vũ trang là: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với QĐND, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”(2). Bởi vì, có Đảng lãnh đạo mới có đường lối đúng, mới thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng. Đối với LLVT thì còn Đảng là còn tất cả; nếu Đảng ta không còn giữ quyền lãnh đạo xã hội, giữ quyền lãnh đạo LLVT thì sẽ mất chế độ XHCN.
Để vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch làm biến chất về chính trị Quân đội ta, cần tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhiều lực lượng xã hội. Trong đó, cần phát huy vai trò chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Ban chỉ đạo 35, cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đối với các cấp ủy đảng trực thuộc, thường xuyên nắm chắc và nhận diện đúng bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm vô hiệu hóa Quân đội ta về chính trị.
Nâng cao tính khoa học trong tổ chức hoạt động đấu tranh làm thất bại luận điểm sai trái “Quân đội không cần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch. Về lý luận, phải chỉ rõ quân đội ra đời gắn liền với sự ra đời của nhà nước do yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ quân đội nào cũng mang bản chất và phục vụ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của giai cấp sinh ra.
Công khai bản chất giai cấp công nhân của LLVT cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân và Công an Xô viết là phải đặt dưới sự lãnh đạo, phải thực hiện mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng Bolshevik Nga (Đảng Cộng sản Liên xô). Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt” của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”.
Vì thế, trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(4). Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(5).
Các thế lực thù địch sử dụng đòn đánh nguy hiểm làm suy yếu nội bộ Quân đội ta về chính trị thì chúng ta phải có giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, mà trực tiếp là giáo dục sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nội dung giáo dục chính trị nói chung, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta nói riêng ở mỗi đơn vị phải phù hợp với mỗi đối tượng quân nhân, bảo đảm những nội hàm của mục tiêu “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” trong mỗi giai đoạn cụ thể, đặc biệt bám sát tinh thần mới mà Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra.
Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, ngăn chặn và làm thất bại các hoạt động chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Chú trọng công tác dân vận, kết hợp với cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phản bác, vạch trần các luận điểm sai trái, phản động trên lĩnh vực tư tưởng chính trị.
QĐND Việt Nam nguyện mãi mãi là lực lượng chính trị trung thành với mục tiêu, lý tưởng “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, không có một thế lực thù địch nào có thể làm thay đổi bản chất, mục tiêu chính trị của QĐND Việt Nam-một quân đội "nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Trong giai đoạn hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội ta nỗ lực phấn đấu thực sự là đội quân chiến đấu tinh nhuệ, lực lượng chính trị tin cậy cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, vì "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Đại tá, PGS, TS LƯU NGỌC KHẢI (Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Học viện Chính trị)
………………………………
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.108.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.160.
(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 14, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.435.
(4) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 11, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.365.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.65.

ANGOLA ĐẶT TÊN ĐẠI LỘ HỒ CHÍ MINH TẠI THỦ ĐÔ LUANDA


Tại thủ đô Luanda của Angola, đại lộ to nhất, đẹp nhất có tên “Avenida Ho Chi Minh” (có nghĩa là đại lộ Hồ Chí Minh). Con đường này nối liền với đường Cách mạng tháng 10, hướng ra sân bay Luanda.Năm 1975, Việt Nam là quốc gia thứ 2 trên thế giới công nhận nền độc lập của Angola.
Và Việt Nam là nước truyền cảm hứng cho các nước bị áp bức để đứng lên đấu tranh giành lại độc lập trên toàn thế giới. 


BÀN GIAO ĐỐI TƯỢNG BỊ YÊU CẦU DẪN ĐỘ CHO BỘ NỘI VỤ LIÊN BANG NGA

Thực hiện quy định Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga năm 1998, ngày 03/6/2022, ại Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp thuộc Bộ Công an Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức bàn giao đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov bị yêu cầu dẫn độ cho Bộ Nội vụ Liên bang Nga theo Quyết định giải quyết yêu cầu dẫn độ để đảm bảo công tác thi hành án số 01/2020/DĐHS-DĐ ngày 02/3/2020 và Quyết định thi hành Quyết định dẫn độ số 01/2020/QĐ-CA ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov (tên gọi khác: Serebryakov Dmitrii, sinh ngày 05/03/1982, quốc tịch: Nga) bị cơ quan có thẩm quyền của Liên bang Nga ra lệnh truy nã quốc tế để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối hoặc lợi dụng tín nhiệm, được thực hiện bởi nhóm tội phạm có thỏa thuận trước (khoản 2 Điều 159 Bộ luật hình sự Liên bang Nga)…
Trước đó, đối tượng đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử và kết án 10 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/10/2019, được đưa đến Cơ sở lưu trú số 2 thuộc Trại giam Long Hòa.
Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã ra quyết định thi hành dẫn độ đối với đối tượng Dmitriy Viktorovich Serebryakov từ năm 2020, tuy nhiên, do tình hình COVID-19 nên việc bàn giao đối tượng đến nay mới thực hiện được.
Phát biểu tại buổi bàn giao, đại diện Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an - đơn vị đầu mối của Bộ Công an về công tác dẫn độ cho rằng việc dẫn độ thành công là một minh chứng cho sự quyết tâm của Việt Nam và Liên bang Nga trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Liên bang Nga nói riêng và quan hệ giữa hai quốc gia nói chung. Đồng thời, bày tỏ hy vọng trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền của hai nước sẽ tiếp tục duy trì và phát triển hơn nữa trong việc giải quyết các yêu cầu dẫn độ.
Kết thúc Buổi bàn giao, đại diện hai Bên đã ký Biên bản bàn giao đối tượng và Đoàn công tác Liên bang Nga đã áp giải đối tượng về Liên bang Nga bằng đường hàng không. 
- Cổng thông tin Chính phủ-


KHAI TRỪ RA KHỎI ĐẢNG ĐỒNG CHÍ CHU NGỌC ANH VÀ ĐỒNG CHÍ NGUYỄN THANH LONG!

         Hôm nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII đã họp bất thường để xem xét, thi hành kỷ luật đồng chí Chu Ngọc Anh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành uỷ, Bí thư Ban cán sự đảng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, nguyên Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ và đồng chí Nguyễn Thanh Long, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế.
Sau khi xem xét đề nghị của Bộ Chính trị, căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm; theo quy định của Đảng về kỷ luật đảng viên vi phạm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thi hành Khai trừ ra khỏi Đảng đồng chí Chu Ngọc Anh và đồng chí Nguyễn Thanh Long.
Yêu cầu các cơ quan chức năng khẩn trương xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính theo đúng quy định đối với cá nhân đã bị kỷ luật đảng./.
Môi trường ST.

BẦM ƠI!


Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm...
Bầm ơi có rét không bầm!
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!
Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
Con ra tiền tuyến xa xôi
Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.
Nhớ thương con bầm yên tâm nhé
Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.
Con đi xa cũng như gần
Anh em đồng chí quây quần là con.
Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí
Bầm quý con, bầm quý anh em.
Bầm ơi, liền khúc ruột mềm
Có con có mẹ, còn thêm đồng bào
Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!
Bao bà cụ từ tâm như mẹ
Yêu quý con như đẻ con ra.
Cho con nào áo nào quà
Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.
Con đi, con lớn lên rồi
Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!
Nhớ con, bầm nhé đừng buồn
Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.
Mẹ già tóc bạc hoa râm
Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con...
(1948)

TỐ HỮU 

VUA GIA LONG- NGUYỄN ÁNH, ĐỂ VUA YÊN NGHỈ HAY BỚI LÊN TRUY TỘI?

      Quả thật tôi không Đọc nhiều về thời, giai đoạn Nguyễn Ánh làm Vua vì lúc còn học đã nghe rằng Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà rồi. Tuy nhiên tôi đọc nhiều về "thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ", do đó từ góc nhìn lý luận quân sự tôi thấy:
1, Công lớn của Nguyễn Ánh là nguyên nhân ghi danh vào sử sách trận "Rạch Gầm - Xoài Mút", đặc biệt, khiến cho "người Xiêm mà nghe đến Tây Sơn (người Việt) là sợ như sợ cọp" (Hoàng lê thống nhất chí".

2, Việc dành ngôi Vua thì giết cả cha mình người ta cũng làm, cho nên việc Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm, quân Pháp cũng không có gì là lạ, tuy nhiên, phải khẳng định đó là hành động "cõng rắn cắn gà nhà" như đã truyền tụng trong dân gian là đúng hoàn toàn, cấm cãi.
3, Có cái lão "sử học" nào đó muốn đề nghị cả nước vinh danh Nguyễn Ánh (dòng họ của nhà "sử học"). OK! Vậy thì lão hãy giải quyết các mâu thuẫn sau đây:
*** Phủ nhận trận Rạch Gầm-Xoài Mút là một chiến công hiển hách chống quân xâm lược của dân tộc Việt Nam (cả trăm họ chiến đấu ngoại trừ gia tộc họ Nguyễn Ánh)...

*** Công nhận Pháp lã "Mẫu quốc" là quốc gia đi "khai phá văn minh cho dân tộc Việt gần một thế kỷ" (đến 1975, dân tộc Việt đổ không biết bao xương máu mới đuổi được 2 nên "văn minh" ấy đi). Bở vì sau khi Pháp "mượn đường để xâm lược nhà Thanh" thì thấy con gái tộc Nguyễn Ánh đẹp quá nên ngủ lại gần 100 năm...tất cả đều liên can đến dòng tộc Nguyễn Ánh cả.

*** Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ là kẻ thù không đội trời chung, trong khi đó, Nguyễn Huệ, toàn bộ dân tộc Việt, từ cổ chí kim đều coi là người anh hùng dân tộc, áo vải cờ đào chống quân xâm lược; là niềm từ hào của giới quân sự, nghệ thuật quân sự Việt Nam, là vị tướng bách chiến bách thắng trong lịch sử quân sự NHÂN LOẠI.

Nguyễn Huệ và Nguyên Ánh như 2 thái cực, nếu phủ nhận người này là công nhận người kia. Vây ông (nhà sử học kia) định dìm cái người mà cả trăm họ (dân tộc Việt) tôn sùng, ghi nhớ để đưa tộc của ông làm Vua lại ư?

Nói thì nói vậy thôi chứ không ai đào mồ tiên tổ để trách cứ, vì đó là lịch sử. Không có Nguyễn Ánh thì không có Rạch Gầm-Xoài Mút; có Nguyễn Huệ, hay Nguyên Huệ sống thọ hơn thì không bao giờ Pháp đặt chân nổi lên Đà Nẵng 1858 và cũng không xuất hiện Nguyễn Tất Thành- Hồ Chí Minh. 

Người ta nói: "Nếu bắn vào lịch sử một viên đạn thì lịch sử sẽ đáp trả lại một phát đại bác" lại rất đúng với con cháu dòng họ nhà Nguyễn Ánh. Đừng thấy đám lật sử nổi lên như nấm vừa qua mà tưởng dễ rồi a dua lật lại sử, gia phả dòng họ. Hãy để các bậc tiên tổ yên nghỉ và lên thiên đường hay địa ngục theo công tội của mình. Trăm họ dân Việt thờ ai, suy tôn ai không phải là chuyện chơi, không phải là từ những kẻ dở hơi đề nghị, quảng bá....
Yêu nước ST.