Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

NHỮNG ĐIỂM MỚI, ĐỘT PHÁ TRONG QUY ĐỊNH 57

 
Ngày 8/2/2022, Ban Bí thư ban hành Quy định số 57-QĐ/TW về đối tượng, tiêu chuẩn và phân cấp đào tạo lý luận chính trị (gọi tắt là Quy định 57). Quy định 57 thể hiện sự quan tâm, lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo lý luận chính trị, phù hợp với đối mới công tác cán bộ nói chung. Quy định 57 bao quát tất cả 3 cấp đào tạo lý luận chính trị, gồm sơ cấp, trung cấp và cao cấp; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng bên liên quan trong việc hoạt động đào tạo lý luận chính trị từ Trung ương tới cơ sở. Quá trình nghiên cứu xây dựng Quy định 57 được tổ chức công phu, khoa học và dựa trên những chứng cứ khách quan, có sự tiếp thu ý kiến của nhiều bên liên quan(3).
Nội dung Quy định 57 được bố cục gọn, rõ, mạch lạc trong 4 chương, 12 điều, bao quát tổng thể đối tượng, tiêu chuẩn, phân cấp và trách nhiệm các bên liên quan trong công tác đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị. Những điểm mới, mấu chốt, đột phá của Quy định 57 cụ thể như sau:
Thứ nhất, thẩm quyền ban hành Quy định 57 là Ban Bí thư. Lần đầu tiên trong lịch sử công tác đào tạo lý luận chính trị của Đảng, Ban Bí thư ban hành Quy định 57, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với công tác này trong tình hình mới. Chính vì thế, hiệu lực thực thi rất cao, yêu cầu sự tuân thủ thực hiện từ Trung ương tới cơ sở, trong toàn hệ thống chính trị. Quy định này thay thế các điều khoản trong các quy định trước đây không còn phù hợp.
Trong Chương 1, Quy định 57 xác định rõ khái niệm (thuật ngữ) về đào tạo lý luận chính trị,sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị, phân cấp đào tạo lý luận chính trị. Có thể nói đây là chuẩn mực để chúng ta tham khảo, hiểu thống nhất trong quá trình triển khai Quy định này, đồng thời để chiếu dẫn cho các văn bản khác và nghiên cứu học thuật.
Thứ hai, Quy định 57 mang tính hệ thống, tổng hợp. Quy định này bao quát đầy đủ 3 cấp học sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị trong một văn bản. Điều này khắc phục được những hạn chế, bất cập trước đây là có những quy định riêng lẻ, tản mạn về sơ cấp, trung cấp, cao cấp lý luận chính trị của các cơ quan, ban đảng như đã nêu trên. Việc xác định mạch lạc các cấp học thể hiện tính hệ thống của đào tạo lý luận chính trị, có tính liên thông về nội dung từ thấp tới cao cho từng đối tượng cán bộ.
Thứ ba, Quy định 57 xác định rõ, cụ thể, mạch lạc từng loại đối tượng tham gia 3 cấp học. Đối tượng học từng cấp không trùng lắp, chồng chéo với nhau, bảo đảm sự tách bạch, nâng cao hiệu lực công tác tổ chức thực hiện. Điều 4 quy định về đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị. Đối tượng học sơ cấp lý luận chính trị là rất rộng, đa dạng, có những đối tượng rất đặc biệt nhưng rất phù hợp với thực tiễn cơ sở như “người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; một số đối tượng khác có nguyện vọng phù hợp với yêu cầu chung”.
Điều 5 và Điều 6 quy định về đối tượng học trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Trong đó đáng lưu ý một số điểm mới. Cụ thể, 1) Lần đầu tiên, có tiểu mục riêng quy định đối tượng cán bộ thuộc Ngành Công an và Quân đội. Điều này xuất phát từ thực tiễn đặc thù của lực lượng vũ trang, nhiều chức danh, chức vụ không đồng nhất tên gọi như khu vực dân sự nên cần xác định rõ, cụ thể để tiện cho việc tổ chức thực hiện và quản lý. 2) Quy định 57 bổ sung một số đối tượng phù hợp với nhu cầu thực tiễn hiện nay, gồm cán bộ có nhu cầu có đủ điều kiện thi nâng ngạch, đội ngũ giảng viên giảng dạy lý luận chính trị trong các cơ sở đào tạo lý luận.
Thứ tư, Quy định 57 xác định rõ việc phân cấp đào tạo lý luận chính trị đối với các cơ sở đào tạo, các cơ quan liên quan.
Điều 7 xác định rõ việc phân cấp nhiệm vụ đào tạo, cụ thể: (1) Trung tâm chính trị cấp huyện đào tạo sơ cấp lý luận chính trị; (2) Trường chính trị cấp tỉnh đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ của địa phương và của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang. (3) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo cao cấp lý luận chính trị. Riêng các trường chính trị cấp tỉnh được giao thêm nhiệm vụ là đào tạo cán bộ của các ban, bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương làm việc trên địa bàn. Đối với một số học viện, trường của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho cán bộ lực lượng vũ trang, cần phải có khảo sát, đánh giá và lựa chọn cụ thể. Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan sẽ quyết định sau.
Thứ năm, Quy định 57 xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm các bên liên quan trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo lý luận chính trịsơ cấp, trung cấp và cao cấp. Điều 8, 9 và 10 quy định thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan đào tạo sơ cấp, trung cấp và cao cấp lý luận chính trị. Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, cơ quan tham mưu, cơ sở đào tạo trong công tác đào tạo lý luận chính trị, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan, không trùng lặp, chồng chéo.
Thứ sáu, Quy định 57 xác định rõ lộ trình cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc các ban, bộ ngành, đoàn thể phải dừng đào tạo trung cấp lý luận chính trị. Quy định 57 xác định “Các cơ sở đào tạo thuộc các ban, bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương hiện đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị sẽ kết thúc nhiệm vụ đào tạo trung cấp lý luận chính trị từ ngày 1/1/2024. Các cơ sở này phải xây dựng lộ trình để kết thúc khoá học đối với các lớp khai giảng mới và các lớp đang đào tạo trung cấp lý luận chính trị trước ngày 31/12/2023”.

Chủ nghĩa cá nhân là “giặc nội xâm” - căn bệnh nguy hại, kẻ thù mỗi người cán bộ, đảng viên

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”. Thực tiễn cho thấy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng. Song, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng. Trong đó, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” - một trong các biểu hiện, căn nguyên làm “hư hỏng” đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm suy yếu bản chất cách mạng, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Sa vào chủ nghĩa cá nhân là sa vào lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, khi suy nghĩ, hành động hoặc làm việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là quá trình người cán bộ, đảng viên từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những suy nghĩ, hành vi trái với đạo đức cách mạng, xa rời mục tiêu lý tưởng cách mạng, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên; thậm chí phản bội lại lợi ích quốc gia - dân tộc. Hay nói cách khác, “sa vào chủ nghĩa cá nhân” là hiện tượng “tha hóa” về phẩm chất đạo đức và nhân cách của người cán bộ, đảng viên; nó không chỉ có hại đến từng cá nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để trở thành người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò lãnh đạo của mình trước quần chúng, thì mỗi người phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện công phu về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực và để giữ vững bản chất người cách mạng, cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt cuộc đời “cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Tuy nhiên, nếu không giữ được đạo đức cách mạng, sẽ dễ “sa vào chủ nghĩa cá nhân” và nếu điều đó xảy ra, thì người cán bộ, đảng viên ấy đã nhiễm một loại “vi rút rất độc”; từ đó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh từ tham lam, lười biếng đến bè phái, cục bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phai nhạt lý tưởng, v.v. Trên thực tế, đã có “Một bộ phận cán bộ, đảng viên,… chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”. Các biểu hiện như: - “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” làm cho Đảng suy yếu từ bên trong cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, tổ chức và cán bộ. - “Sa vào chủ nghĩa cá nhân”, tạo lực cản lớn của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đảng ta là cơ thể sống, trong đó mỗi đảng viên là một tế bào của cơ thể ấy, mỗi tế bào khỏe mạnh thì Đảng sẽ khỏe mạnh, ngược lại, mỗi tế bào mà mang mầm bệnh - “chủ nghĩa cá nhân”, thì cơ thể Đảng sẽ yếu, kém. Nếu trong cơ thể của Đảng mà có nhiều “tế bào hư hỏng”, thì sớm hay muộn Đảng sẽ mục ruỗng từ bên trong, thoái hóa, biến chất, mất vai trò lãnh đạo. “Sa vào chủ nghĩa cá nhân” là biểu hiện suy thoái đã và đang diễn ra ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và gây nguy hại rất lớn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Những biểu hiện của “chủ nghĩa cá nhân” rất dễ nhận biết, nhưng để đấu tranh, khắc phục triệt để là vấn đề rất khó khăn, phức tạp, bởi nó nằm sâu, bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để đấu tranh chống biểu hiện này hiệu quả, cần tiến hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, cả tư tưởng, tổ chức, cán bộ; trong đó, nêu cao tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò nêu gương và tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của từng cán bộ, đảng viên là vấn đề căn cơ, cốt lõi, lâu dài, góp phần xây dựng Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, thực hiện sứ mệnh lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Không có chuyện 'khai tử' môn Lịch sử

 

 Trước một số ý kiến cho rằng môn Lịch sử là tự chọn dẫn đến bỏ hoặc “khai tử”, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định "không phải như vậy".

NGĂN CHẶN SUY THOÁI TỪ SỚM, TỪ XA

 

Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...
Suy thoái không trừ một ai
Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...
Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.
Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.
Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.
Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.
Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.
Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.
Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.
Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan
Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.
Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.
Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...
Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển.
Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.
Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa
Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.
Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.
Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.
Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Quốc tế đề cao quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề biển Đông!


Quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.
Tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông
Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao, giới chức nhiều nước đã bày tỏ nhất trí với quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này. Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin... trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua, tại các cuộc hội kiến, hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982; thực hiện đầy đủ, toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Quan điểm này cũng được nêu rõ khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhân dịp Thủ tướng tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ, thăm và làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc giữa tháng 5 vừa qua.
Nhiều nước cũng bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông, như việc Trung Quốc quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa hay ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong hơn 3 tháng (từ ngày 1-5) tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam.
Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio và Tổng thống Mỹ Joe Biden hồi tháng 5, hay trong cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Đức Olaf Scholz với người đồng cấp Nhật Bản Kishida hồi tháng 4 tại Tokyo, các nhà lãnh đạo đã phản đối mọi nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông. Trong tuyên bố chung sau cuộc hội đàm cấp cao Đức-Ấn Độ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng khẳng định cần bảo đảm thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, ở tất cả các vùng biển, trong đó có Biển Đông.
Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, cho biết Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, cụ thể là quần đảo Trường Sa mà Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền phù hợp với luật pháp quốc tế. Trước đó, tháng 1-2022, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác “các yêu sách phi pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong UNCLOS năm 1982. Bộ Ngoại giao Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông”.
Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế
Dư luận quốc tế cũng đề cao nỗ lực của Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Trong bài viết mới đây trên trang mạng Infox.ru (Nga) có nhan đề: “Việt Nam - ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, khẳng định lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại. Chuyên gia Nga đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực, khẳng định Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế.
Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia Valeria Vershinina của trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga nêu bật vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông, khởi động đàm phán về COC. Nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm UNCLOS, đối với các tranh chấp ở Biển Đông, cũng như việc thúc đẩy quá trình đàm phán thông qua COC, chuyên gia Anton Viktorovich Bredikhin - Tiến sĩ Lịch sử, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội “Các vấn đề chính trị - xã hội hình thành EAEU” Viện Hàn lâm khoa học Nga - đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm kinh tế biển, đặc biệt là ở Biển Đông, với phương châm “hòa bình - hữu nghị, hợp tác - phát triển”.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 10/6


“Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, ngày 10 tháng 6 năm 1949, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa to lớn, kịp thời động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động hăng say thi đua ái quốc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo tiếp tục xây dựng và nhân rộng các phong trào thi đua ái quốc sôi nổi và mạnh mẽ đang diễn ra trên đất nước ta. Các phong trào "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba Nhất", phong trào "Ba Sẵn Sàng", "Ba Đảm Đang", "Cánh đồng Năm tấn" trên đồng ruộng. Phong trào "Trống Bắc Lý", "Dạy tốt, học tốt" trong nhà trường. Phong trào "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… đã nhân lên gấp bội sức mạnh của quân và dân ta, trở thành lực lượng vật chất, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lời kêu gọi của Bác càng có giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để quân dân cả nước, tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thi đua ái quốc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cách mạng Việt Nam giành được những thành quả to lớn hơn nữa.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; trong điều kiện mới đòi hỏi quân đội tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, nhân rộng các mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; coi trọng phát triển các phong trào thi đua của các tổ chức quần chúng, các ngành, tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Quan hệ Việt Nam - Australia ngày càng hiệu quả, thực chất

 

  

Thúc đẩy, đưa quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam với các cơ quan hữu quan Australia lên tầm cao mới, trở thành một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước.

Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, tất yếu khách quan, phù hợp với điều kiện mới

Quốc phòng, an ninh là lĩnh vực đặc thù, nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đường lối, quan điểm của Đảng ta về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong 35 năm đổi mới vừa qua đã không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, nổi bật là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Đây là kết quả của quá trình phát triển tư duy của Đảng ta trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm, truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện mới. Sự phát triển đó còn dựa trên cơ sở nhận định, đánh giá, dự báo khách quan, chính xác tình hình thế giới, khu vực, trong nước; gắn bảo vệ Tổ quốc với xây dựng, đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế, phát triển đất nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Nhưng với dã tâm phá hoại sự nghiệp cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, công kích chủ trương đúng đắn ấy, cố tình cản trở, gây nhiễu, hướng lái dư luận, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thực hiện mưu đồ đó, chúng triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội và một số báo, đài phát thanh tiếng Việt ở nước ngoài để xuyên tạc, bóp méo trắng trợn quan điểm, đường lối của Đảng ta về tăng cường quốc phòng, an ninh; những hoạt động đối ngoại, các sự kiện quan trọng trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mỗi khi tình hình an ninh, chính trị - xã hội, tình hình biên giới, biển, đảo có những diễn biến phức tạp, nhạy cảm, họ lại ra sức lợi dụng để xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, tạo sự hoài nghi của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; từ đó, kích động lôi kéo các phần tử bất mãn, cực đoan tạo lập lực lượng đối lập chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang ta. Đảng ta xác định “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, trình độ khoa học - công nghệ của đất nước và xu thế của khu vực, thế giới. Chủ trương này vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài, vừa đáp ứng sự mong mỏi, nguyện vọng chính đáng và giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an và nhân dân ta. Bên cạnh đó, thực tiễn lịch sử đã minh chứng, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với sự thôn tính, xâm lăng của các thế lực ngoại bang có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn ta nhiều lần; vì vậy, “lo giữ nước từ khi nước chưa nguy” là tư tưởng lớn và là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Kế thừa kinh nghiệm, truyền thống ấy và xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã không ngừng bổ sung, phát triển và nâng lên tầm cao mới thành kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và được thể hiện tập trung trong hệ thống các chiến lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở, tiền đề tất yếu khách quan, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đem lại cho nhân dân ta cuộc sống bình an, ấm no, hạnh phúc. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp được hợp thành từ nhiều yếu tố, trong đó tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh giữ vai trò cốt yếu, trực tiếp. Vì vậy, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là yêu cầu tất yếu khách quan, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp: chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, chủ quyền biển, đảo,… diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng quyết liệt, khó dự báo. Việt Nam xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nhằm mục đích tự vệ, thể hiện tính chất hòa bình, chính nghĩa, không phải là “khơi mào” cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, để “chống lại một nước thứ ba” nào đó, làm cho tình hình trở nên phức tạp và “nóng” hơn như sự xuyên tạc xảo trá theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người” của các thế lực thù địch. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta: xây dựng Quân đội hiện đại không chỉ về vũ khí trang bị, mà hiện đại trên tất cả các nội dung cấu thành sức mạnh chiến đấu của Quân đội trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó còn là sự quán triệt sâu sắc quan điểm “người trước, súng sau”, giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị. Nếu xa rời những nguyên tắc, yêu cầu trên sẽ dẫn đến xây dựng quân đội theo hướng quân đội “nhà nghề” như sự hô hào của các thế lực thù địch “Quân đội nên trung lập, đứng ngoài chính trị”, sẽ làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, không những không tăng cường được sức mạnh chiến đấu và bản chất giai cấp công nhân, mà còn dẫn đến những nguy hại khôn lường. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc quan điểm về quốc phòng, an ninh của Đảng ta cần kiên quyết bác bỏ.

Luận điệu phản nhân văn của Đỗ Ngà

 

Luận điệu phản nhân văn của Đỗ Ngà

Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, Đỗ Ngà từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lenin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của Đỗ Ngà với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

1. Đỗ Ngà phủ nhận giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì Đỗ Ngà lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, y đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lenin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”?!. Bên cạnh đó, y còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của y là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của y là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

2. Âm mưu thâm độc của Đỗ Ngà phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế - xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đỗ Ngà đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, y cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn như Đỗ Ngà mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của Đỗ Ngà.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà cũng như “đồng loại” của y tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

 

CẢNH GIÁC TRÁNH “SẬP BẪY” NHỮNG TRANG MẠNG GIẢ MẠO

 

CẢNH GIÁC TRÁNH “SẬP BẪY” NHỮNG TRANG MẠNG GIẢ MẠO

Tình hình tội phạm lừa đảo nói chung, lừa đảo trên không gian mạng nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây bức xúc dư luận. Đặc biệt, trong thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch triệt để khai thác công nghệ thông tin, nhất là Internet, mạng xã hội để bóp méo, xuyên tạc làm sai lệch bản chất các vấn đề, sự kiện nhằm chống phá Việt Nam.

Các thế lực thù địch chống phá ta trên mọi phương diện, ở mọi lĩnh vực nhưng tư tưởng, văn hóa là lĩnh vực chúng đặc biệt quan tâm. Nhiều chiêu thức tinh vi, thâm độc, nguy hiểm được họ áp dụng. Một trong những chiêu thức ấy là chúng lập ra nhiều website, Fanpage Facebook, Youtube… giả danh cơ quan chức năng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và cán bộ có chức vụ cao ở một số bộ, ngành… hoặc núp dưới danh nghĩa: “Tuổi trẻ yêu nước”; “Bảo vệ nhân quyền”; “Vì biển đảo Việt Nam”; “Chống tham nhũng, tiêu cực”; “Sáng kiến pháp lý Việt Nam”; “Kết nối yêu thương”… để qua đó móc nối, tung tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những sự kiện, vấn đề nhạy cảm.

Để tạo dựng lòng tin, trên những website, Fanpage Facebook, Youtube… ấy thỉnh thoảng cũng có những bài viết, những thông tin đúng, nhưng đa phần là xuyên tạc sự thật, kích động chia rẽ nội bộ, gieo rắc sự hoài nghi… Nhưng cái khéo ở những bài viết trên các website này là họ không nói trực diện, hướng dư luận theo kiểu “phải trái phân minh” một cách rõ ràng mà thường lập lờ để dư luận tự phán xét, bày tỏ thái độ, quan điểm. Lối chống phá của chúng cũng rất công phu và kiên trì. Có khi cùng một bài viết, hầu hết thông tin là chính xác, họ chỉ cài vào trong đó một vài thông tin thiên lệch dễ khiến người đọc tin là thật và như vậy đã được chúng xem là thành công. Chúng thực hiện “mưa dầm thấm lâu”, nói một lần chưa tin thì nói nhiều lần ắt phải tin; bài trước lái một chút, bài sau lái một chút… nếu người đọc không tỉnh táo dễ dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái.

Bằng chiêu thức trên ít nhiều các thế lực thù địch đã gây cho chúng ta những khó khăn, phức tạp nhất định trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đáng chú ý đã có một số người, trong đó phần lớn là thanh niên bị kẻ xấu câu móc, mua chuộc thông qua các trang mạng giả mạo dẫn đến lầm đường, lạc lối vi phạm pháp luật. Một số đối tượng bị khởi tố, phạt tù về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gần đây đã cho thấy rõ điều này.

Vẫn biết rằng, sự thật và lòng tin của nhân dân ta không dễ bị tác động, lung lạc. Chúng ta không phủ nhận công tác điều tra, xử lý số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bóc gỡ những trang website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội giả mạo, xấu, độc khác đã góp phần rất quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Nhưng để phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn như đã nêu trên nếu chúng ta chỉ tập trung vào việc điều tra, làm rõ, xử lý, bóc gỡ các trang website, Fanpage Facebook, Youtube… giả mạo và những người lợi dụng các trang mạng ấy để xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bằng các biện pháp hành chính hay kỹ thuật thì chưa đủ.

Biện pháp căn cơ, lâu dài vẫn là phải thường xuyên đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, giáo dục giúp cho người dân nắm chắc các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng; nâng cao cảnh giác cho người dân trước những âm mưu, thủ đoạn, chiêu thức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Người dân cần được trang bị những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết khi tham gia mạng xã hội và tiếp cận với các thông tin từ mạng xã hội, đặc biệt là kỹ năng nhận diện các âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá trên mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động. Mỗi chúng ta cần thận trọng tìm hiểu các website, Fanpage Facebook, Youtube và các trang mạng xã hội khác khi truy cập; kiểm chứng kỹ khi tiếp cận với các thông tin đăng tải trên Internet và mạng xã hội… Nhận thức chính trị đúng đắn, thị hiếu lành mạnh, cẩn trọng kỹ lưỡng, tỉnh táo, sáng suốt trên không gian mạng, đó là cơ sở để người dân, nhất là thanh niên sàng lọc, tiếp nhận, xử lý thông tin một cách chuẩn xác để không mắc mưu, “sập bẫy” kẻ xấu; không bị lôi kéo, kích động tự biến mình thành “con rối” trong tay các thế lực thù địch, phản động./.

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

 

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế.

Những liên minh quân sự có thể làm gia tăng sức mạnh quân sự, quốc phòng của các nước thành viên; tạo sự chuyển hóa về thế trận và lực lượng quân sự trên chiến trường; tạo thêm uy tín, vị thế và sức mạnh cho quốc gia tham gia liên minh trong những thời điểm nhất định. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ tồn tại các liên minh quân sự trên, tình hình khu vực, thế giới luôn căng thẳng, bởi các liên minh này đối đầu nhau, nhất là khi giữa họ có những mâu thuẫn về lợi ích. Họ công khai hoặc ngầm chạy đua vũ trang, tăng cường sự hiện diện quân sự, đẩy mạnh hoạt động khiêu khích, lôi kéo các quốc gia, khu vực đến gần hiểm họa chiến tranh. Mà Việt Nam chúng ta cũng là nạn nhân của cuộc chiến tranh nóng đó vào những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.

Trong chính sách quốc phòng Việt Nam, chúng ta chủ trương không liên minh quân sự bởi đó là giải pháp hiệu quả để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự nào, hiệp ước quân sự nào, càng không thể trông chờ, ỷ lại vào nước ngoài, mà phải bằng chính bản lĩnh, trí tuệ, thực lực, bằng đoàn kết đồng lòng của triệu triệu con người Việt Nam dù sống ở bất cứ đâu trên trái đất này.

Trên thế giới chưa bao giờ có nước nào có thể hy sinh lợi ích của dân tộc mình chỉ vì lợi ích của một dân tộc khác. Chính vì vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù là thời bình hay thời chiến, không thể ảo tưởng trông chờ sự trợ giúp của nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự với nước khác. Quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là mở rộng quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, đồng thời phải tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính, xây dựng thực lực sức mạnh tổng hợp quốc gia, kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè và cộng đồng quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không đi theo một cường quốc nào, không dựa hẳn vào một cường quốc nào để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc mình. Chính vì vậy, chúng ta không hề mâu thuẫn khi một mặt mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác chúng ta không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia.

Chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam không phải bất biến, cứng nhắc mà luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn. Hiện tại, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng để kiểm soát được tình hình an ninh, không để nảy sinh xung đột và xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, khi đất nước xảy ra nguy cơ chiến tranh thì Đảng, Nhà nước ta sẽ hoạch định những chiến lược, chính sách quốc phòng phù hợp.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 chỉ rất rõ rằng: “Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, chúng ta sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng của ta ngày càng rộng mở, chúng ta có quan hệ quốc phòng với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt chúng ta có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là những quốc gia có vai trò, có ảnh hưởng chủ chốt trong duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Đây là điều chưa từng có từ trước tới nay. Điều đó chứng tỏ chúng ta chẳng bị ai cô lập, trái lại, còn mở rộng không ngừng quan hệ đối ngoại. Điều đó là cơ hội thuận lợi để chúng ta ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Chính sách quốc phòng "bốn không" được đúc kết từ truyền thống giữ nước đó và ngày càng chứng minh sự đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.

chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch dùng mọi phương thức trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để chống phá cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, các thế lực thù địch thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là một trong những mũi tấn công chủ yếu nhằm tìm cách thủ tiêu, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam; làm cho quân đội không phải là “phi chính trị”, mà là từ “phi chính trị” cách mạng-chính trị vô sản chuyển sang một thứ chính trị khác-chính trị tư sản!

“Phi chính trị hoá” quân đội là âm mưu cơ bản, xuyên suốt của các thế lực thù địch trong quá trình chống phá QĐND Việt Nam. Tuy nhiên, trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các thế lực thù địch thực hiện những phương thức khác nhau, phù hợp với những đặc điểm của mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là Cách mạng công nghiệp 4.0, quá trình toàn cầu hóa không chỉ tiếp tục được khẳng định như một xu hướng tất yếu mà còn có xu hướng phát triển ngày càng nhanh cả về quy mô, tốc độ, tính chất và phạm vi ảnh hưởng. Những khái niệm như “biên giới mềm”, “thế giới phẳng” đang được người ta sử dụng để biện hộ cho một quan niệm phi lý rằng, thế giới ngày nay không còn có các chế độ chính trị-xã hội khác nhau, đối lập nhau, để đi tới một thế giới “phi chính trị”, mà thực chất là đem hệ tư tưởng chính trị tư­ sản áp đặt lên tất cả các quốc gia dân tộc!

Quân đội ta, chúng ta cần quân tâm làm tốt những vấn đề sau đây: Tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, đặc biệt phải chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, chiến sĩ để tích cực, chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về những đặc điểm mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, mà các thế lực thù địch đang và sẽ lợi dụng để thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội bằng những phương thức mới để chủ động ngăn chặn, phòng ngừa. Nhận thức rõ hơn bản chất, âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá mới của các thế lực thù địch, nhất là đấu tranh vạch trần tính chất phản khoa học của luận điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, thực chất của quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội ta của các thế lực thù địch để có biện pháp đấu tranh, phòng, chống có hiệu quả.

Sea Games 31

 


Thời điểm sát giờ khai mạc Sea Games 31 (tối ngày 12/5/2022), trên Mạng xã hội xuất hiện hàng loạt hình ảnh cắt ghép, chỉnh sửa với nội dung sai lệch nhằm bôi nhọ, hạ uy tín những cá nhân, tổ chức, đồng thời lợi dụng sự việc để thóa mạ, chửi bới chính quyền, xuyên tạc, chống phá Nhà nước.

Điều đáng buồn là những hình ảnh này được nhiều trang Facebook của tổ chức, cá nhân có uy tín trong lĩnh vực truyền thông đăng tải và chia sẻ, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong dư luận.

Sự việc trên là lời nhắc nhở mỗi chúng ta cần phải luôn tỉnh táo, giữ một “cái đầu lạnh” khi tiếp nhận thông tin từ mạng xã hội. Đồng thời, phải luôn nhận thức rằng việc đăng tải, chia sẻ, lan tỏa, cổ vũ những thông tin sai sự thật đều là những hành vi VI PHẠM PHÁP LUẬT./.

Bắt đối tượng Trương Văn Dũng để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước

 

Bắt đối tượng Trương Văn Dũng để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước

Ngày 21/5, Công an thành phố Hà Nội cho biết, Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam và Lệnh khám xét đối với Trương Văn Dũng, sinh năm 1958, trú tại phường Nam Đồng (Đống Đa, Hà Nội), để điều tra về tội Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Các Quyết định và Lệnh nêu trên đã được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phê chuẩn.

Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội đang tích cực điều tra, làm rõ hành vi phạm tội của Trương Văn Dũng để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật

 

Đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của Đảng hiện nay

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đang trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này. Gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước. Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an… Thời gian gần đây, các thế lực thù địch tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn. Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa thường xuyên, liên tục. Đó là: - Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. - Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp, lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân. Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên, thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước, qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập. Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá, xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống “diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại những âm mưu của “diễn biến hoà bình”. Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao “sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/.

 

Cẩn trọng trong hoạt động từ thiện

Lợi dụng từ thiện để lừa đảo, thu lợi bất chính không phải là hiện tượng mới nảy sinh, nhưng gần đây, tình trạng này có chiều hướng diễn biến phức tạp, với nhiều mánh khóe tinh vi, gây bức xúc dư luận.

Thời gian qua, số tiền lừa đảo từ các vụ việc bị phát hiện lên đến hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng, trong đó một số người nổi tiếng cũng vô tình mắc bẫy lừa đảo. Đáng lo ngại là tình trạng này đang làm xói mòn niềm tin của cộng đồng, nguy cơ ảnh hưởng tới các hoạt động từ thiện chính đáng.

 

Tăng sức đề kháng trước những 

tin đồn vô căn cứ

Dù đã có cảnh báo từ cơ quan chức năng, báo chí chính thống nhưng một số người dân hiện vẫn bị dẫn dắt, nghe theo những thông tin vô căn cứ, sai sự thật lan truyền trên mạng xã hội để rồi gánh chịu những hậu quả khó lường, không chỉ ảnh hưởng đến đời sống cá nhân mà còn nguy cơ ảnh hưởng đến sự ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ðể ngăn chặn, loại bỏ tin đồn thất thiệt đòi hỏi cần có sự chung tay, vào cuộc quyết liệt của nhiều ban, ngành, tổ chức ý thức, trách nhiệm của mỗi công dân cũng như cả xã hội, cộng đồng.

Nhiều người vẫn nhớ thời điểm những năm 2016, 2017 trên mạng xã hội rộ lên hàng loạt tin đồn vô căn cứ về các vụ bắt cóc trẻ con xuất hiện tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nghệ An, Thái Nguyên, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế… Trên trang facebook của một số tài khoản có địa chỉ không rõ ràng thường xuyên đăng tải những câu chuyện có nội dung ly kỳ, rùng rợn liên quan đến các vụ bắt cóc trẻ em như: thủ phạm dùng phép thôi miên, hoặc thuốc mê để khống chế nạn nhân, hay việc có một "đội quân" chuyên đi bắt cóc trẻ em để "kinh doanh nội tạng"… khiến không ít người vội vã tin theo.

Xây dựng tình đồng chí, đồng đội

 Trách nhiệm không của riêng ai Tình đồng chí, đồng đội là tình cảm đặc biệt, gắn bó những người tuy có hoàn cảnh khác nhau, nhưng có cùng lý tưởng, mục tiêu, giai cấp, đến bên nhau bằng tình yêu thương, sự sẻ chia, để phấn đấu, hi sinh, chiến đấu vì lý tưởng chung. Và đương nhiên, sức mạnh của tập thể sẽ tăng gấp bội nếu tình đồng chí, đồng đội được thắt chặt và ngược lại, sẽ rất nguy hiểm nếu mối quan hệ ấy bị xem nhẹ,áp đặt tiêu cực theo lối “bằng mặt nhưng không bằng lòng”. Có yếu tố khách quan như tác động của mặt trái đời sống xã hội, cơ chế thị trường. Tuy nhiên, để xảy ra sự mất đoàn kết dẫn đến chính những người “thề sống chết có nhau” có lời nói, hành động làm phai nhạt, sứt mẻ tình đồng hí, đồng đội, ở một số tập thể, cá nhân đơn lẻ thì nhân tố chủ quan là chủ yếu.

Bởi lẽ, nguyên nhân sâu xa của sự mất đoàn kết, dẫn đến làm phai nhạt tình  đồng chí, đồng đội là do vẫn còn tình trạng cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quân phiệt, bè phái, cục bộ địa phương, thậm chí có tư tưởng thực dụng, toan tính cá nhân, thiếu trung thực, gây bè kéo cánh, phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đơn vị. Bên cạnh đó, cũng không ít trường hợp cán bộ trẻ, hạ sĩ quan, binh sĩ vì thiếu tu dưỡng, rèn luyện, tự tách mình ra khỏi tập thể; coi trọng cái tôi dẫn tới những hậu quả đáng tiếc.  Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ các cấp trong Quân đội: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”. Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”. Người chỉ rõ: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng Tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng”. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng, vai trò của lãnh đạo, chỉ huy, hay nói chung là cán bộ là rất quan trọng trong xây dựng mối đoàn kết thống nhất và xây dựng mỗi gắn bó keo sơn của đồng chí, đồng đội với nhau. Để xây dựng mối đoàn kết thống nhất trên tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải có những biện pháp tích cực, phù hợp, hiệu quả trong

giáo dục, bồi đắp lý tưởng cách mạng, lý tưởng sống cho cán bộ, chiến sĩ, thông qua giáo dục truyền thống, kết hợp với tập trung xây dựng môi trường sống nhân văn, lành mạnh, có tính kỷ luật cao trong đơn vị. Trong đó, việc thực hiện hiệu quả “3 cùng, 5 nắm”  trong quản lý bộ đội và “5 chủ động” trong quản lý tư tưởng bộ đội; duy trì nghiêm chế độ ngày, tuần là biện pháp căn cốt, hàng đầu.

Đối với cán bộ các cấp, ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực sự là hạt nhân đoàn kết; phải thực sự là tấm gương trong phát huy truyền thống, sống có tình thương, giữ vững kỷ cương, đề cao trách nhiệm để xây dựng tình đồng chí, đồng đội. Song song với đó, cần giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng quyền và nghĩa vụ của quân nhân; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, quy chụp, áp đặt ý kiến cá nhân, thành kiến, trù dập hoặc e dè nể nang, thiếu trung thực, không dám đấu tranh với những nhận thức và hành động sai trái không chỉ trong sinh hoạt đảng, đoàn và

các tổ chức quần chúng khác mà cả trong đời sống thường nhật. Bên cạnh việc không ngừng tăng cường các biện pháp dự báo, phân tích, đánh giá, giải quyết để quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng của bộ đội, cũng cần phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, nhạy bén phát hiện và kịp thời báo cáo theo phân cấp, xử lý thỏa đáng, triệt để những nảy sinh về tư tưởng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ở từng đơn vị. Tình đồng chí, đồng đội không tự nhiên sinh ra, chẳng tự nhiên mất đi; vậy nên, để xây dựng mối tình cảm thiêng liêng ngày càng keo sơn, gắn bó, mỗi cá nhân cần xác định rõ, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để ứng xử, giải quyết các mối quan hệ cho thấu đáo, có lý, hợp tình, góp phần tạo thành lũy tư tưởng, mối đoàn kết thống nhất vững chắc; cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ, thách thức, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

 

Giữ gìn, phát triển tinh thần 

liêm chính khoa học

Trong môi trường khoa học lành mạnh, thái độ liêm chính là yêu cầu có tính nguyên tắc hàng đầu và là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên ở Việt Nam thời gian qua, việc xảy ra một số vụ việc liên quan liêm chính khoa học đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến hoạt động khoa học, làm mất lòng tin của cộng đồng. Thực tế đó đòi hỏi cần có những biện pháp quyết liệt hơn nữa để giữ gìn sự chính trực trong lĩnh vực này.

Từ xa xưa, người Việt đã có ý thức rất nghiêm túc trong việc bảo trọng danh tiếng. Nhiều người không chỉ lo giữ gìn danh tiếng lúc còn sống, mà còn nghĩ đến việc lưu danh mãi về sau. Tục ngữ có các câu: “Hổ chết để da, người ta chết để tiếng”, “Lưu danh thiên cổ”… Danh tiếng đồng nghĩa với việc tên tuổi được kính trọng, lan xa, nhiều người biết đến. Trải qua hàng nghìn năm, việc trọng danh tiếng đã ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có khoa học.

 

Chấn chỉnh những hành vi lệch chuẩn

Báo chí từng tốn không ít giấy mực phản ánh tình trạng xuống cấp đạo đức của một bộ phận người nổi tiếng. Thế nhưng, chủ đề này dường như vẫn chưa hết "nóng", nhất là khi gần đây, tình trạng lệch chuẩn trong lối sống, văn hóa ứng xử của người nổi tiếng đang có biểu hiện gia tăng, nguy cơ gây tác động xấu, làm suy giảm nghiêm trọng tình cảm, sự tin yêu của công chúng, đặc biệt là ở giới trẻ.

Thời gian qua, không ít người nổi tiếng với tâm huyết, tài năng và trách nhiệm xã hội đã làm được nhiều điều đáng trân trọng, mang lại giá trị, lợi ích thiết thực cho xã hội, tạo ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng. Điển hình như trong giai đoạn cả nước dồn sức chống dịch Covid-19 vừa qua, một số nghệ sĩ bằng những hành động thiết thực như sáng tác ca khúc, vẽ tranh, biểu diễn phục vụ đồng bào ở tâm dịch… đã mang đến những liều "vắc-xin tinh thần" ý nghĩa để tri ân, tiếp sức, cổ vũ lực lượng nơi tuyến đầu, chung sức cùng cả nước vượt qua đại dịch.

 

Tự do tôn giáo phải trong khuôn khổ pháp luật

Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức lấy danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, đặc biệt là quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo để đưa ra những đánh giá phiến diện, sai lệch, các luận điệu xuyên tạc, vu cáo hòng can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng như ở các quốc gia trên thế giới vấn đề dân chủ, nhân quyền và quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật cũng như phù hợp điều kiện phát triển kinh tế và lịch sử truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc.