Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

Kích động kỳ thị dân tộc - âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc

 

Kỳ thị thường gắn liền với phân biệt đối xử. Kỳ thị, phân biệt đối xử là một khái niệm giao thoa giữa chính trị - văn hóa và xã hội. Kỳ thị dân tộc, chủng tộc là sự nhìn nhận, đánh giá làm giảm giá trị đối với một một dân tộc, một chủng tộc từ một quan niệm chính trị, văn hóa hoặc xã hội nào đó.

Ở Việt Nam, kể từ khi bắt đầu xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách chia để trị và chia cắt nước ta thành ba miền (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với những chính sách khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, xã hội và kinh tế nhằm tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa ba miền với âm mưu chia cắt vĩnh viễn. Thay chân thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai cũng từng thực hiện chiến lược chia cắt lâu dài hai miền Nam, Bắc hòng tiến đến xóa bỏ chế độ xã hội XHCN và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Khi chủ nghĩa thực dân cũ và mới bị đánh đổ tại Việt Nam, tàn dư của tư tưởng kỳ thị, phân biệt đối xử dân tộc, chủng tộc đã không còn hiện hữu nữa. Nhưng nhen nhóm sự kỳ thị dân tộc vẫn được các thế lực thù địch tuyên truyền, kích động hướng đến tư tưởng dân tộc cực đoan trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hòng làm rạn nứt, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và bạo loạn, lật đổ, đưa dân tộc ta sang con đường lệ thuộc nước ngoài.

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu cho thấy, các thế lực thù địch triệt để sử dụng con bài kỳ thị chủng tộc đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để đòi quyền dân tộc tự quyết. Các thế lực thù địch không chỉ áp dụng thủ đoạn này đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều quốc gia trên thế giới như Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Nam Tư trong vấn đề Kosovo...

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có. Với 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất khác nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như Pu Péo, Rơ-măm, Brâu... Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư. Các dân tộc Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau. Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao. Khác với nhiều quốc gia đa dân tộc, các dân tộc thiểu số Việt Nam không có khu vực lãnh thổ riêng mà sống xen kẽ với nhau.

Trọng tâm hoạt động kích động kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc của các thế lực thù địch hướng đến các địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Để kích động, chia rẽ người Kinh với đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, các thế lực thù địch đã sử dụng tổ chức FULRO tuyên truyền, xuyên tạc rằng “Tây Nguyên là của người Thượng”, “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”...

Ở Tây Bắc, chúng dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông” để làm cái cớ chia rẽ đồng bào các dân tộc anh em. Chúng vận động đồng bào người Mông về “một miền đất hứa” mọi người sẽ được “ban sức khỏe, hạnh phúc, không làm cũng có ăn, sự giàu sang và phú quý”; “những người Mông đến đây sẽ được chúa trời giáng trần cứu thế”… Từ đó, chúng lôi kéo người dân tụ tập, kích động phá rối gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Ở Tây Nam Bộ, chúng tập trung tuyên truyền tư tưởng “ly khai tự trị”, đòi thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm độc lập”. Lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại, vấn đề dân sinh, dân chủ để kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ; lừa bịp, xúi giục người vượt biên, gây sức ép xin tổ chức UNHCR lập trại tỵ nạn; vu cáo, xuyên tạc Việt Nam có kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị để “quốc tế hóa” vấn đề “Khơme Krôm”, thành lập “Nhà nước Khơme Campuchia Krôm tự trị”...

Ngày nay, việc cấm phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, sắc tộc đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế và tạo thành yếu tố quan trọng trong pháp luật của nhiều quốc gia. Trong đó, quan trọng nhất là Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, có hiệu lực từ năm 1969 và đến nay đã được 170 nước trên thế giới phê chuẩn. Tại Việt Nam, với chính sách và pháp luật thể hiện tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở cả trên bình diện quốc tế và quốc gia.

Ngày 9/6/1981, Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), với bốn lần đệ trình báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD vào các năm 1983, 1993, 2000 và 2012. Đặc biệt, Ủy ban Dân tộc đảm nhận là cơ quan đầu mối phụ trách Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc và chuẩn bị Báo cáo quốc gia về thực hiện Công ước CERD. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số như: Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội… Trong đó, nhấn mạnh đến những thành tựu trong việc đảm bảo quyền cho người dân tộc thiểu số như: Hệ thống pháp luật, các quy định đảm bảo quyền con người, các chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội...

Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam đã luôn chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là một dân tộc có truyền thống lịch sử lâu đời về tinh thần đoàn kết, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, các nguyên tắc và quy định về bình đẳng và không phân biệt chủng tộc liên quan đến thành phần dân tộc không những được ghi trong Hiến pháp mà còn được cụ thể hóa trong các luật, văn bản dưới luật khác có liên quan và được triển khai thực hiện trong thực tiễn, thông qua nhiều chính sách, chương trình quốc gia, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm DTTS có điều kiện phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Cụ thể như, công dân thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sẽ được hưởng các các chính sách ưu đãi về giáo dục, y tế, đào tạo nghề, việc làm, đất đai, nhà ở, tín dụng, hỗ trợ sản xuất... Ngoài ra, còn được hưởng các dự án đầu tư trực tiếp như xây dựng điểm tái định cư tập trung do nhà nước đầu tư toàn bộ hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã thể hiện mạnh mẽ quyết tâm cùng với cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác.

Âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc là rất tinh vi, thâm độc, hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp, mục đích không thay đổi, hậu quả khó lường. Dù những âm mưu và hành động trên đã bị phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời nhưng các thế lực thù địch không từ bỏ, vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, các tổ chức và công dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, phát huy trách nhiệm của bản thântrong phòng tránh, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của chúng.

Các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện các giải pháp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, góp phần xóa bỏ đi tư tưởng kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa

Ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa

Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố bị can, bắt tạm giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Bộ Y tế); Chu Ngọc Anh (cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cựu Chủ tịch UBND TP Hà Nội), Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) ngay sau khi các ông này bị xử lý kỷ luật Đảng và chính quyền, được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Vụ việc này thêm một lần nữa cho thấy, suy thoái là một loại “virus” vô cùng nguy hiểm, không trừ một ai. Để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiệu quả, cách tốt nhất là ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Suy thoái không trừ một ai

Sai phạm của những cá nhân nêu trên đã được Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chỉ rõ: ...Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định trách nhiệm nêu gương; gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách nhà nước; ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch Covid-19; gây bức xúc trong xã hội; ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng...

Kết luận này dựa trên kết quả kiểm tra cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, thực hiện theo quy định của Điều lệ Đảng. Căn cứ nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm, theo quy định của Đảng về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với Ban cán sự Đảng Bộ Khoa học và Công nghệ nhiệm kỳ 2016-2021, Ban cán sự Đảng Bộ Y tế nhiệm kỳ 2016-2021. Ban Bí thư quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Phạm Công Tạc. Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Ngọc Anh và ông Nguyễn Thanh Long.

Trong kết luận sai phạm của những cá nhân nêu trên, cụm từ “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” được nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là gốc rễ dẫn đến những sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước của những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị của đất nước.

Sự nguy hại của suy thoái đã được Đảng ta cảnh báo, nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để lại hậu quả, nguy cơ vô cùng tai hại đối với Đảng và dân tộc. Cán bộ giữ chức vụ càng cao bị suy thoái thì hậu quả, nguy cơ đối với Đảng, với chế độ càng lớn. Nhìn lại những vụ việc, vụ án tham nhũng được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm thời gian qua, trong đó có nhiều cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị đưa ra xét xử, chúng ta thấy, tính chất, mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng.

Đây là lần đầu tiên kể từ Đại hội XII, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, kết luận hành vi sai phạm của những cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý là “suy thoái về tư tưởng chính trị”.

Đây cũng là lần đầu tiên trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ Đại hội XII, việc xử lý sai phạm của cán bộ, đảng viên cấp cao và hành vi vi phạm pháp luật của công dân được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cơ quan hành pháp các cấp thực hiện kịp thời, nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Việc xử lý nghiêm khắc, kịp thời, thống nhất, đồng bộ... đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước thể hiện tinh thần quyết liệt, không có vùng cấm trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Qua những vụ việc này cho thấy, suy thoái như là một loại “virus” lây bệnh nguy hiểm, không trừ một ai. Nó có thể tấn công, làm biến dạng, biến chất ngay cả những người được đào tạo bài bản, có học hàm, học vị cao; ngay cả những cán bộ giữ cương vị chủ chốt, trọng trách trong Đảng.

Thống nhất nhận thức, không suy diễn cực đoan

Trước việc nhiều cán bộ chủ chốt của một số bộ, ngành, địa phương bị xử lý kỷ luật, bắt tạm giam, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bộc lộ tâm lý cực đoan, sợ sai, sợ trách nhiệm, nảy sinh tư tưởng “mũ ni che tai”, “dĩ hòa vi quý”... Một số người bày tỏ thái độ bi quan, cho rằng, cán bộ bây giờ làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, muốn không sai thì tốt nhất là không làm... Dù chỉ là cá biệt, song những biểu hiện tư tưởng cực đoan ấy cần phải được chấn chỉnh, loại bỏ ngay. Bởi suy diễn tiêu cực, sai đường lối, chủ trương của Đảng cũng chính là một biểu hiện của suy thoái.

Cần thấy rằng, việc xử lý những cán bộ vi phạm là nỗ lực làm trong sạch nội bộ Đảng, làm cho Đảng mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin và mong đợi của nhân dân. Đấu tranh chống tiêu cực trong Đảng là một cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, đòi hỏi phải kiên trì, kiên quyết.

Sự thành công phụ thuộc vào ý chí, thống nhất hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không phải từ trên trời rơi xuống, mà nó nằm ngay trong tư duy, tư tưởng, hành động của cán bộ, đảng viên. Vấn đề này đã được Đảng ta nhấn mạnh trong hệ thống văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã chỉ rõ: “Việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức lối sống của một số cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên, nền nếp, vẫn còn tình trạng nói không đi đôi với làm; không tuân thủ nguyên tắc của Đảng, quan liêu tham nhũng, lãng phí, cá nhân chủ nghĩa... việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức lối sống chưa mạnh mẽ. Tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”...

Như vậy, những biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả của suy thoái trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhận diện, cảnh báo và đề ra các giải pháp đấu tranh. Việc vi phạm là do cá nhân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị chi phối, sa ngã bởi chủ nghĩa cá nhân; do cấp ủy, tổ chức đảng thiếu tính chiến đấu, phê bình, tự phê bình còn hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm... Đổ lỗi do cơ chế, chính sách rồi suy diễn tiêu cực, dẫn đến làm việc cầm chừng, né tránh là hành vi ngụy biện, tạo môi trường cho chủ nghĩa cá nhân phát triển. 

Với tinh thần “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một người để cứu muôn người”, việc xử lý những cán bộ suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống... chính là nhằm răn đe, cảnh tỉnh đối với mọi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng. Thay vì nảy sinh tư tưởng cực đoan, cán bộ, đảng viên và từng tổ chức đảng phải xốc lại tư tưởng, thống nhất nhận thức, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng để mài sắc ý chí chiến đấu, loại bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa

Báo cáo chính trị Đại hội XII, trong phần phương hướng nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, Đảng ta xác định: “Chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta bổ sung, nhấn mạnh: “Phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố, nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị”.

Như vậy, những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với cán bộ giữ trọng trách trong Đảng và hệ thống chính trị của đất nước, chính là một trong những yếu tố bất lợi, yếu tố gây nguy cơ đột biến ngay từ bên trong. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong các bài viết, bài phát biểu liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần đề cập, nhấn mạnh việc chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Tổng Bí thư cho rằng, bên cạnh “pháp trị” phải coi trọng “đức trị”; bên cạnh “pháp lý” phải đề cao “đạo lý”... “Đức trị”, “đạo lý” là cái gốc, là nền tảng để thực hiện hiệu quả “pháp lý”, “pháp trị”... Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, công tác kiểm tra phải chủ động đi trước một bước. Phải kiểm tra thường xuyên kết hợp với kiểm tra khi đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm.

Để “vũ trang” cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... trên cơ sở Điều lệ Đảng, gắn với đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động. Đó là cơ sở, nền tảng để chấn hưng đạo đức, văn hóa trong Đảng. Muốn phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị từ sớm, từ xa, cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức đảng phải lấy yếu tố văn hóa Đảng làm trọng, đặt đạo đức của Đảng lên hàng đầu.

Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” là vì thế. Khi cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ trì các cấp có đầy đủ văn hóa, đạo đức của Đảng, sẽ có nguồn lực nội sinh đẩy lùi, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn suy thoái từ sớm, từ xa...

Lắng nghe và cầu thị

 

Lắng nghe và cầu thị

“Phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị” là một trong những nội dung cấu thành đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được nêu rõ trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương.

Điều này đã được kiểm nghiệm và chứng minh trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta. Ở giai đoạn cách mạng mới, phẩm chất đó càng cần được gìn giữ và phát huy, xem như một giải pháp căn cốt, nền tảng vững chắc để xây đắp tình đoàn kết đồng chí, đồng đội, tạo nên sức mạnh tập thể để cán bộ, chiến sĩ (CB, CS) đồng lòng vượt khó, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.  

Phát huy dân chủ là một trong những truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta. Từ khi ra đời đến nay, Quân đội ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủ của CB, CS trong các nhiệm vụ; coi đó là mặt công tác cơ bản trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhằm tạo môi trường thuận lợi để bộ đội thực hiện tốt quyền lợi, trách nhiệm, nâng cao ý thức kỷ luật và chất lượng, hiệu quả công tác. Minh chứng sinh động về phát huy dân chủ trong quân đội những năm qua, đó là việc triển khai thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở. Mọi CB, CS được nghiên cứu, trao đổi và quán triệt thực hiện tốt các chủ trương, chính sách trên từng lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế trong môi trường quân đội; qua đó xác định quyền làm chủ của mình trên các mặt hoạt động và bảo đảm đời sống; giải quyết được những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra, giữ vững niềm tin, củng cố tư tưởng, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cũng thông qua việc phát huy dân chủ, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của cấp dưới để xây dựng tập thể, kịp thời khắc phục hạn chế, bất cập trong thực hiện nhiệm vụ cũng như phương pháp, tác phong công tác. Cán binh thêm gần gũi, đồng lòng; đồng chí, đồng đội thêm thấu hiểu, sẻ chia, gắn kết chính là kết quả từ việc cấp trên biết lắng nghe cấp dưới, đồng nghiệp chân thành góp ý và hội tụ chung ở tinh thần xây dựng, cầu thị, tôn trọng lẫn nhau.

Để tăng cường phát huy dân chủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn, quyết định, quy chế, quy định trên các mặt, lĩnh vực công tác, cụ thể hóa việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong quân đội. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai nghiêm túc, đồng bộ, đạt hiệu quả cao. Nổi bật là ý thức dân chủ và trình độ làm chủ của quân nhân được nâng cao; các thiết chế dân chủ ngày càng được hoàn thiện; sự đồng thuận, đoàn kết, kỷ luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị được tăng cường; niềm tin của CB, CS vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được củng cố vững chắc, tạo không khí phấn khởi thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân còn vận dụng linh hoạt nhiều hình thức, biện pháp, kênh thông tin để nắm bắt, lắng nghe CB, CS đóng góp ý kiến, như: Tọa đàm, diễn đàn, đối thoại; trao đổi trực tiếp thông qua thực hiện nhiệm vụ hằng ngày hay các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục-thể thao, văn hóa-văn nghệ... Nhiều cán bộ nêu cao tính tiền phong gương mẫu, gần gũi, sẻ chia, tạo được niềm tin như người ruột thịt trong gia đình, là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm, giãi bày những khó khăn, vướng mắc của bộ đội trong cả công việc lẫn cuộc sống. Phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đòi hỏi thực tiễn để người cán bộ, lãnh đạo, chỉ huy thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, mà còn trở thành “bí quyết” để tháo gỡ kịp thời và hiệu quả mọi vướng mắc nảy sinh ở cơ quan, đơn vị.

Không chỉ cấp trên chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của cấp dưới, mà đồng chí, đồng đội cũng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, thiếu sót của nhau để cùng khắc phục, sửa chữa, không ngừng hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Minh chứng rõ nét cho điều đó là thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình ở các tổ chức đảng và đảng viên trong toàn quân. Quá trình tự phê bình và phê bình, từng đảng viên, tổ chức đảng chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân cấp ủy viên, tránh biểu hiện hình thức, chiếu lệ, nói không đi đôi với làm, nể nang, né tránh, ngại va chạm. Trên cơ sở đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp nghiêm túc tiếp thu, đổi mới công tác lãnh đạo; từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì xây dựng kế hoạch phấn đấu, xác định phương hướng, nội dung, biện pháp khắc phục khâu yếu, mặt yếu được chỉ ra.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc gần gũi, lắng nghe ý kiến, hết lòng phục vụ nhân dân là đạo đức, phong cách của người cách mạng chân chính. Bác cho rằng: Lắng nghe một cách chân thành và nghiêm túc tiếng nói từ bên dưới mới có thể nhận được những thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh và sửa sai nhằm hoàn thiện chủ trương, đường lối, chương trình, kế hoạch; phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên cũng không sợ nghe sự thật. Muốn thành công trong công việc, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết lắng nghe và kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của quần chúng, của cán bộ dưới quyền, đặc biệt là những ý kiến phản biện.

Thực hiện lời dạy của Người, việc phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị đã được quân đội nói chung, các cơ quan, đơn vị, CB, CS toàn quân nói riêng luôn coi trọng, đề cao và thực hiện hiệu quả. Thế nhưng, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, phát ngôn thiếu tính xây dựng, nể nang, né tránh, ngại va chạm, tính toán thiệt hơn... như Nghị quyết 847 đã chỉ rõ. Hạn chế nêu trên có nguyên nhân không nhỏ từ việc thiếu dân chủ, quân phiệt, bảo thủ, duy ý chí, áp đặt, độc đoán, chuyên quyền, coi thường ý kiến người khác, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Có nơi, tập thể chỉ là “bình phong” để hợp thức hóa quyết định của người đứng đầu. Một số cán bộ chủ chốt vì động cơ, mục đích vụ lợi mà không thực sự tôn trọng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể hoặc lợi dụng tập thể để thực hiện mục đích tư lợi cá nhân. Tình trạng đó xuất phát từ việc tập thể cấp ủy, cán bộ, đảng viên, quần chúng thiếu sức chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không dám nói khác hay làm trái ý kiến người đứng đầu, khiến dân chủ bị lợi dụng, thậm chí bị vô hiệu hóa.

Trong giai đoạn cách mạng mới, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị không chỉ là đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mà mỗi CB, CS cần nhận thức sâu sắc rằng, sự phát triển, vận động đi lên không có chỗ cho sự bảo thủ, duy ý chí. Thực tiễn đã kiểm nghiệm, nhiều chủ trương, chính sách của quân đội được bàn thảo, lấy ý kiến đóng góp rộng rãi đã ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của đông đảo CB, CS, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Ở những cơ quan, đơn vị có người đứng đầu luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của cấp dưới thì ở đó dân chủ được phát huy, tập thể đoàn kết, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó, người đứng đầu phải công tâm, khách quan, cầu thị, có phương pháp lãnh đạo tốt, phong cách gần gũi quần chúng, sâu sát cơ sở. Ngược lại, những cán bộ cấp dưới, đảng viên, quần chúng cần phát huy dân chủ, tính chiến đấu, thẳng thắn đóng góp ý kiến trên tinh thần xây dựng. Sự tương tác hai chiều giữa lắng nghe và góp ý xuất phát từ động cơ trong sáng, ý thức vì tập thể mới tạo được mạch nguồn nuôi dưỡng dân chủ thực chất, vững bền trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mỗi CB, CS cần bồi đắp tố chất biết lắng nghe, dám nghe những điều phản biện, cầu thị sửa mình để ngày mai tiến bộ hơn ngày hôm nay, đó cũng là hành động thiết thực góp phần xây dựng Quân đội ta ngày càng vững mạnh.

Nghỉ hưu nhưng ý chí, phẩm chất không “hưu”

 

Nghỉ hưu nhưng ý chí, phẩm chất không “hưu”

Về với đời thường, mỗi cựu chiến binh luôn gương mẫu trong sinh hoạt, cuộc sống, tích cực tham gia công tác xã hội... chính là góp phần quan trọng tô thắm phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời tạo sức lan tỏa rộng rãi, tính giáo dục cao.

Giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không chỉ là yêu cầu, tình cảm, trách nhiệm của quân nhân đang tại ngũ mà còn là mong mỏi, hy vọng của cả xã hội đối với những cán bộ, sĩ quan đã hoàn thành việc nước, nghỉ hưu theo chế độ. Về với đời thường, mỗi cựu chiến binh (CCB) luôn gương mẫu trong sinh hoạt, cuộc sống, tích cực tham gia công tác xã hội... chính là góp phần quan trọng tô thắm phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, đồng thời tạo sức lan tỏa rộng rãi, tính giáo dục cao.

“Tuy đã nghỉ hưu nhiều năm, sức khỏe gần đây có phần giảm sút nhưng ông vẫn nhiệt tình tham gia công tác xã hội, hết lòng vì việc chung, vì cuộc sống hạnh phúc của bà con... Đúng là một cán bộ đã được rèn luyện trong môi trường quân ngũ!”.Lời nhận xét cũng là lời khen của nhiều người dân phường Khai Quang, TP Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) đối với CCB Nguyễn Văn Đức phần nào cho thấy sự tin yêu, quý mến, lòng cảm phục của bà con dành cho ông. Năm 2012, nghỉ hưu với quân hàm thượng tá, CCB Nguyễn Văn Đức-nguyên cán bộ một đơn vị thuộc Quân khu 2-không nghỉ ngơi mà rất tích cực hoạt động trong hội CCB địa phương. Sau đó, ông được tín nhiệm bầu làm Tổ trưởng Tổ dân phố.

Nhiều năm công tác ở vùng cao biên giới, gắn bó với đồng bào, CCB Nguyễn Văn Đức hiểu rằng, người dân dù ở đâu, nông thôn hay thành thị, đồng bằng hay vùng cao cũng luôn quý trọng, tin tưởng vào bộ đội. Bởi vậy, ông tự nhủ phải luôn gương mẫu, tận tâm làm mọi việc có thể để giúp ích cho cộng đồng. Tuyến phố chính của khu dân cư không rộng mà hầu như nhà nào cũng có ô tô, cứ vào cuối giờ chiều lại đỗ lộn xộn hai bên lề đường, gây cản trở giao thông. Thấy thế, ông đi từng nhà nhắc nhở, vận động bà con đỗ xe gọn gàng, đúng quy định...

Một số gia đình xây bậc thềm lấn ra đường, ông nhẹ nhàng phân tích đúng-sai, đồng thời kiên quyết yêu cầu phá dỡ. Đợt dịch Covid-19 vừa qua, ông cùng tổ Covid-19 cộng đồng tích cực tuyên truyền, vận động bà con chấp hành nghiêm các quy định phòng, chống dịch, đồng thời xung phong tham gia trực tại các chốt... Đó là một vài trong rất nhiều việc làm “không tên” của CCB Nguyễn Văn Đức được người dân ghi nhận, đánh giá cao.

Nếu như cán bộ nói chung, cán bộ, sĩ quan quân đội nói riêng khi đương chức, tại ngũ nêu cao tinh thần tiền phong, gương mẫu, tạo được tính lan tỏa, thuyết phục bao nhiêu thì lúc nghỉ hưu vẫn hết mình vì cộng đồng, giữ gìn, phát huy phẩm chất cách mạng, như trường hợp CCB Nguyễn Văn Đức nói trên, sẽ tạo hiệu ứng tích cực gấp nhiều lần. Bởi khi cán bộ nghỉ hưu, không còn chịu sự quản lý của cơ quan, đơn vị nên đòi hỏi tính tự giác và gương mẫu rất cao.

Đây cũng là lúc mỗi người có thể cho mình quyền được nghỉ ngơi, sum vầy bên gia đình sau hàng chục năm công tác, thế nên, việc vẫn nhiệt tình, trách nhiệm tham gia công tác xã hội, đoàn thể thật đáng quý. Ở đây có mối quan hệ biện chứng: Các CCB được tôi rèn trong môi trường quân ngũ, không chấp nhận cách sống bàng quan, thiếu trách nhiệm sẽ tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thông qua những việc làm có ích cho cộng đồng, xã hội. Cũng chính bằng những việc làm cụ thể, thiết thực đó lại càng khẳng định, tô thắm phẩm chất cao quý này.

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã chỉ rõ 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trong đó có những nội dung: “Có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân” và “lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân”...

Nghị quyết cũng nêu 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, như: “Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi”; “thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể”; “thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân”...

Qua đó có thể thấy, luôn nêu cao đạo đức cách mạng, sống có trách nhiệm với tập thể, tất cả vì lợi ích chung, thường xuyên giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh là một nội dung quan trọng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Về nghỉ hưu, cán bộ quân đội càng có điều kiện, thời gian để hòa mình vào cộng đồng, gắn bó với người dân, trước hết là hàng xóm láng giềng, cộng đồng nơi mình sinh sống, do đó, càng có điều kiện để phát huy, tô thắm những phẩm chất tốt đẹp đã được tôi rèn trong thời gian tại ngũ.

Thực tế cho thấy, tuyệt đại đa số cán bộ quân đội khi nghỉ hưu, về với cuộc sống đời thường luôn phát huy tốt phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương tin tưởng, quý mến. Thế nhưng, cũng còn một bộ phận chọn cách sống “mũ ni che tai”, thờ ơ, vô cảm với cộng đồng, xã hội. Cá biệt có trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, có lời nói, việc làm sai trái, gây bức xúc trong dư luận.

Để phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ tiếp tục lan tỏa, đấu tranh ngăn chặn lối sống ích kỷ, thực dụng, những biểu hiện suy thoái, tiêu cực thì giải pháp quan trọng là phát huy vai trò của tổ chức đảng, hội, đoàn thể địa phương, kịp thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật... Tuy nhiên, trước hết và quan trọng nhất chính là ý thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ nghỉ hưu. Sẽ không thể có những suy nghĩ tích cực, những việc làm tốt vì cộng đồng, góp phần làm sáng đẹp thêm hình ảnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ nếu bản thân mỗi cán bộ thiếu tự giác, thiếu ý thức, trách nhiệm.

Về hưu, cán bộ quân đội đã dần được xếp vào diện “người cao tuổi”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm, coi trọng và đánh giá cao vai trò của người cao tuổi. Người nói: “Tuổi già nhưng chí không già/ Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh”. Mỗi CCB hãy luôn khắc ghi lời Bác, thường xuyên gương mẫu rèn luyện, tu dưỡng, về hưu nhưng ý chí, phẩm chất nhất định không “hưu”!

QUỐC TẾ ĐỀ CAO QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM VỀ BIỂN ĐÔNG

 

          Quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.

          Tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông

          Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao, giới chức nhiều nước đã bày tỏ nhất trí với quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này. Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin... trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 5 vừa qua, tại các cuộc hội kiến, hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982; thực hiện đầy đủ, toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Quan điểm này cũng được nêu rõ khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhân dịp Thủ tướng tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ, thăm và làm việc tại Mỹ và Liên hợp quốc giữa tháng 5 vừa qua.

          Nhiều nước cũng bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông, như việc Trung Quốc quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa hay ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong hơn 3 tháng (từ ngày 1-5) tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam.

          Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio và Tổng thống Mỹ Joe Biden hồi tháng 5, hay trong cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Đức Olaf Scholz với người đồng cấp Nhật Bản Kishida hồi tháng 4 tại Tokyo, các nhà lãnh đạo đã phản đối mọi nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông. Trong tuyên bố chung sau cuộc hội đàm cấp cao Đức-Ấn Độ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng khẳng định cần bảo đảm thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, ở tất cả các vùng biển, trong đó có Biển Đông.

          Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, cho biết Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, cụ thể là quần đảo Trường Sa mà Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền phù hợp với luật pháp quốc tế. Trước đó, tháng 1-2022, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác “các yêu sách phi pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong UNCLOS năm 1982. Bộ Ngoại giao Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông”.

          Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế

          Dư luận quốc tế cũng đề cao nỗ lực của Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Trong bài viết mới đây trên trang mạng Infox.ru (Nga) có nhan đề: “Việt Nam - ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, khẳng định lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại. Chuyên gia Nga đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực, khẳng định Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế.

          Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia Valeria Vershinina của trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga nêu bật vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông, khởi động đàm phán về COC. Nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm UNCLOS, đối với các tranh chấp ở Biển Đông, cũng như việc thúc đẩy quá trình đàm phán thông qua COC, chuyên gia Anton Viktorovich Bredikhin - Tiến sĩ Lịch sử, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội “Các vấn đề chính trị - xã hội hình thành EAEU” Viện Hàn lâm khoa học Nga - đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm kinh tế biển, đặc biệt là ở Biển Đông, với phương châm “hòa bình - hữu nghị, hợp tác - phát triển”./.

                                                                                                St

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI, XẤU ĐỘC

 

          Thời gian gần đây, cán bộ- đảng viên và nhân dân nhiều lần nghe nhắc đến các cụm từ “thông tin xấu độc, thù địch”, “thông tin sai trái”…

          Nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra nó. Bởi bên cạnh những thông tin có chứa đựng các yếu tố dung tục, có ngôn từ kích động, lời lẽ hằn học… vốn có thể nhận ra ngay dụng ý xấu của người đăng, phát thì nhiều trường hợp khác, thông tin được ẩn dưới nhiều lớp vỏ, có thể làm người tiếp nhận mơ hồ, nghi ngờ hoặc có khi còn không nhận thấy ý đồ của người phát. Do đó, một số gợi ý dưới đây về dấu hiệu của loại thông tin này có thể giúp ích cho người đọc.

          Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, có thể hiểu về thông tin sai trái, xấu độc, thù địch là những thông tin:

          Thứ nhất, chống lại Nhà nước CHXHCN Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo. Chẳng hạn, các kêu gọi “sẵn sàng chiến tranh để bảo vệ biên giới, lãnh thổ…” thoạt nghe tưởng như đậm tính yêu nước nhưng kỳ thực đây là loại thông tin kích động, tuyên truyền chiến tranh, gây hận thù, mâu thuẫn giữa Việt Nam với một số quốc gia, dân tộc khác. Bởi hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Việc kêu gọi sẵn sàng chiến tranh rõ ràng đi ngược lại với chủ trương của Đảng và có thể mắc bẫy của các thế lực xấu.

          Thứ hai, tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Có một số tài liệu viết về các vị lãnh đạo cách mạng tiền bối, trong đó lồng vào những nội dung xuyên tạc về đời tư của các đồng chí lãnh đạo, đặc biệt liên quan đến đời sống riêng tư, vấn đề quan hệ nam nữ… không được kiểm chứng, theo kiểu “nghe đồn”, “nghe kể” nhưng người kể không thể xác thực, để từ đó làm dung tục hóa, tầm thường hóa các đồng chí lãnh đạo của Đảng. Trên thực tế, rất nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng ta là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, cả trong công tác lãnh đạo cũng như đời sống cá nhân.

          Thứ ba, tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật quy định. Một số trang web, mạng xã hội úp mở đưa những thông tin tự cho là “nội bộ”, “tuyệt mật”, “tối mật”…, trong đó dẫn từ các nguồn không được kiểm chứng hoặc sao chụp từ các văn bản mật có thật nhưng không rõ bằng cách nào đó đã được đưa lên mạng. Việc làm này có thể tiết lộ các bí mật trái với quy định của pháp luật. Do vậy, người tiếp nhận cần phải thận trọng, tránh làm lan truyền các thông tin đó.

          Thứ tư, đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Nhiều trang mạng xã hội đưa thông tin bị cắt xén, bịa đặt nhằm bôi bẩn uy tín của các tổ chức và cá nhân. Chẳng hạn, cách đây ít lâu, nhân việc cơ quan chức năng ở Hà Nội phát hiện một số cá nhân sử dụng ma túy, trong đó có một thiếu nữ họ Trần, thế là có trang đã nhanh nhảu cho rằng đó là ái nữ của một bộ trưởng họ Trần, kỳ thực đây là thông tin hoàn toàn sai trái. Vì vậy, khi tiếp nhận các loại thông tin này, cán bộ, đảng viên cần thận trọng, không nên lan truyền dù dưới hình thức nào.

          Thứ năm, quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm; truyền bá tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm bị cấm. Thời gian gần đây, sau khi đối tượng Phạm Đoan Trang bị bắt, một số trang mạng đã “tích cực” giới thiệu cái gọi là “tác phẩm” của người này, thực chất là những trang viết có nhận thức chính trị sai lầm, có nội dung chống phá Đảng và Nhà nước, tuyên truyền cho các mô hình nhà nước kiểu phương Tây… Các thông tin “rao” đó là vi phạm pháp luật. Hay thỉnh thoảng cũng có người tỏ ra “khen ngợi” hoặc dẫn lại những đoạn trích từ các tác phẩm độc hại của Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín, Trần Đĩnh, Dương Thu Hương… Người đọc cần cảnh giác với các nội dung này.

          Thứ sáu, giả mạo tổ chức, cá nhân và phát tán thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Không ít khi, một thông tin hay nhận định nào đó cho rằng từ một cán bộ lão thành cách mạng, một tướng lĩnh đã nghỉ hưu, một nhà khoa học… về bất kỳ vấn đề gì, từ lịch sử, vai trò lãnh đạo của Đảng… cho đến vấn đề biên giới, hải đảo… Việc ngụy tạo phát ngôn kiểu này khiến một số người nhẹ dạ, lười kiểm chứng, sẵn có tư tưởng không tích cực nên đã “tưởng thật”, từ đó “hùa nhau” công kích cá nhân người đó lẫn các tổ chức có liên quan, thậm chí xuyên tạc đến tổ chức đảng, đến vai trò lãnh đạo của Đảng…

          Như vậy, thông tin sai trái, xấu độc là những thông tin bịa đặt, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch. Nếu các thông tin này được thổi phồng, được tổ chức thành vệt nhằm đả phá hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, từ đó hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta… thì đó là thông tin thù địch, cần phải kiên quyết đấu tranh.

          Ngoài ra, đó là thông tin có những ngôn từ thô tục, nội dung phản cảm, soi mói, bình phẩm chủ quan chuyện đời tư của người khác, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; vi phạm chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục, kích động bạo lực, bôi nhọ cá nhân…, nhất là với các cán bộ, đảng viên, đặc biệt là lãnh đạo các cấp. Với các biểu hiện hình thức như vậy, dù mang dụng ý xấu hay chỉ vô tình thể hiện dụng ý xấu, thì các loại thông tin này cũng cần được phê phán, đấu tranh; trong các trường hợp cần thiết thì phải truy nguyên người tán phát để có biện pháp xử lý phù hợp./.

                                                                                                st

TIN TƯỞNG VÀO SỰ QUYẾT LIỆT CỦA ĐẢNG, CHÍNH PHỦ TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

 Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chống đối chính trị luôn lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng của Đảng, Chính phủ, lợi dụng việc một số cán bbộ cao cấp của Đảng, Nhà nước vi phạm pháp luật và các vụ án kinh tế lớn xảy ra gần đây để đưa ra các kiến nghị, kêu gọi các tổ chức "XHDS", số trí thức "cấp tiến" viết bài phân tích, bình luận về "sự lỗi thời, lạc hậu" của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán công tác cán bộ của Đảng, kêu gọi người dân đấu tranh đòi từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, sửa đổi Luật bầu cử, Quy chế bầu cử, cải cách công tác cán bộ, tiến tới thay đổi chế độ tại Việt Nam.

    Mọi người nên hiểu rõ trong chủ trương của Đảng về chống tham nhũng, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định rất rõ về quan điểm của Đảng xử lý tham nhũng không có vùng cấm, thời gian gần đây chúng ta thấy việc xử lý số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước vi phạm pháp luật và các vụ án kinh tế lớn xảy ra rất kịp thời, kiên quyết, xử lý đúng người đúng tội. Điều này khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước, trong công tác cán bộ Đảng luôn coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Như vậy chúng ta tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ dẫn dắt con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội./.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhất đánh bại “giặc nội xâm” trong điều kiện hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo: chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng là một loại “giặc nội xâm”. Thứ “giặc” này hết sức nguy hiểm; chúng tiềm ẩn tinh vi, giấu mặt, trá hình, luồn lách, len lỏi trong từng ngõ ngách của cuộc sống, ngấm ngầm làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thực tiễn cho thấy, trong cuộc chiến đấu khốc liệt, trực tiếp đối mặt với kẻ thù để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, có những người bất chấp mũi tên, hòn đạn, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng, nhưng trong hòa bình xây dựng lại sa vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… Để chiến thắng thứ “giặc nội xâm” này, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự răn mình; các tổ chức đảng phải tìm ra những biện pháp hữu hiệu. Trong cuộc đấu tranh ấy, việc đẩy mạnh tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén nhất. Hiện nay, việc tiến hành tự phê bình và phê bình khó khăn, phức tạp hơn trước; bởi có nhiều lực cản chi phối, nhất là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng. Tự phê bình và phê bình thực sự là một cuộc đấu tranh giữa mặt tích cực và tiêu cực, tiến bộ và lạc hậu, cái tốt và cái xấu, cái đúng và cái sai… diễn ra hằng ngày ngay trong bản thân từng cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Tuy nhiên, trong khi đa số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng và thực hiện tốt, thì vẫn còn không ít nơi thực hiện chưa tốt tự phê bình và phê bình. Biểu hiện thường thấy trong sinh hoạt ở những nơi này là: tình trạng “dĩ hòa vi quý”, “mũ ni che tai”, “trông trước, ngó sau”… Cũng còn nhiều người khi phê bình đồng chí, đồng đội, chưa nghiên cứu, tìm hiểu sâu bản chất của sự việc; phương pháp phê bình còn nặng về chủ quan, áp đặt và thiếu tôn trọng người được phê bình. Điều đáng bàn là: một số người vì động cơ cá nhân, vì “cái tôi”, thay vì giúp nhau cùng tiến bộ, lại lợi dụng phê bình để gây bè, kéo cánh, vạch khuyết điểm của người khác theo kiểu “bới lông, tìm vết” nhằm “hạ bệ” nhau. Nhưng với cấp trên, họ không nói thẳng, nói thật, chỉ nhấn mạnh ưu điểm theo kiểu “tâng bốc”, “nịnh bợ”, “vuốt ve”... Những kiểu “đấu tranh” ấy không chỉ làm biến dạng vũ khí tự phê bình và phê bình, mà nguy hại hơn, nó còn làm giảm sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng. Vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên cần “có tâm” và “đủ tầm” chiến thắng “cái tôi”. Cái “tâm” ấy chính là động cơ, mục đích tự phê bình và phê bình; cái “tầm” được thể hiện đầy đủ nhất ở cách thức, phương pháp đấu tranh phê bình: phê bình cái gì? phê bình như thế nào? có trung thực, thẳng thắn, kiên quyết không? Người có tâm và đủ tầm, đủ sức chiến thắng “cái tôi” trong tự phê bình và phê bình sẽ biết gạn đục, khơi trong để phấn đấu vươn lên, tự hoàn thiện mình. Điều đó sẽ làm cho tự phê bình và phê bình trở thành thứ vũ khí sắc bén nhất để đánh bại “giặc nội xâm”.

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam tham dự Đối thoại Shangri-La lần thứ 19

 Sáng 10-6, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội, lên đường tham dự Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 diễn ra từ ngày 10 đến 12-6 tại Singapore theo lời mời của Ban tổ chức Đối thoại Shangri-La.

NÂNG CAO CẢNH GIÁC TRƯỚC HOẠT ĐỘNG CỦA PHÁP LUÂN CÔNG


Các thế lực thù địch lợi dụng Pháp luân công (PLC) nhằm lôi kéo, hình thành tổ chức chính trị đối lập để chống phá chế độ mặc dù đây là hoạt động chưa được Nhà nước công nhận, chưa cho phép hoạt động trên lãnh thổ nước ta.


💥💥 Những thủ đoạn hoạt động thường gặp của Pháp luân công


Từ khi PLC du nhập vào Việt Nam, mặc dù không được pháp luật cho phép nhưng các đối tượng cốt cán thực hiện nhiều thủ đoạn, hoạt động khác nhau từ công khai tới lén lút như in, phát tán tài liệu trái phép; lập trang web, tài khoản mạng xã hội để chia sẻ, hướng dẫn tập PLC; gửi tài liệu đến một số cơ quan nhà nước, đoàn thể xã hội, một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tiếp cận lãnh đạo cao cấp và thân nhân để tuyên truyền và tác động tranh thủ xin PLC được hoạt động; lập các đoàn nghệ thuật “Hồng Ân”, “Thiên Quốc nhạc đoàn” biểu diễn tại các sự kiện để quảng bá hình ảnh PLC; tổ chức các “pháp hội”; thành lập câu lạc bộ sức khỏe, văn nghệ tại các nơi vui chơi công cộng để trực tiếp hướng dẫn tập luyện và gây sự tò mò, chú ý, quan tâm của quần chúng nhân dân; len lỏi vào vùng sâu, vùng xa lợi dụng việc từ thiện - nhân đạo để tiếp cận và tuyên truyền;...


💥💥 Pháp luân công thực chất là gì?


PLC hay còn gọi là “pháp luân đại pháp”, do Lý Hồng Chí sáng lập ra năm 1992, bị Chính phủ Trung Quốc ngăn chặn, giải tán nhưng vẫn âm thầm phát triển; đã du nhập vào Việt Nam từ năm 2001. PLC thực chất không phải là một tín ngưỡng, tôn giáo, không có giáo lý, giáo luật hoàn chỉnh mà vay mượn, cắt xén của các tôn giáo khác để hình thành. Mục đích thực sự của PLC là mượn vỏ bọc của một môn khí công rèn luyện sức khỏe và lợi dụng các yếu tố tôn giáo, tâm linh để tập hợp lực lượng, lôi kéo quần chúng tham gia, khuếch trương thanh thế nhằm từng bước công khai hình thành tổ chức, đòi công nhận tư cách pháp nhân. Các phần tử tuyên truyền PLC cho rằng tích cực luyện tập PLC sẽ chữa được bách bệnh, kể cả những bệnh hiểm nghèo mà không cần dùng thuốc và đến bệnh viện; chúng đưa ra “luận thuyết” nếu luyện tập đông, luyện tập gần nhau sẽ nhanh tạo ra “công lực”. Thực chất trên thế giới chưa có bất kỳ công bố khoa học nào khẳng định hoặc công nhận tác dụng của phương pháp tu tập PLC như những gì PLC đang tuyên truyền.


Lý thuyết tu tập của PLC dựa trên sự kết hợp giáo lý Phật giáo, khí công, âm dương, đạo giáo, vũ đạo, thiền,... trong đó lấy một phần giáo lý Phật giáo và khí công làm nền tảng. Lý Hồng Chí tự xưng là “Pháp thân”, “Pháp chủ”, “Phật sống” để “cứu độ chúng sinh”. Nhiều người đã ngộ nhận PLC là một môn tu tập của Phật giáo nên đã tin theo. PLC cổ vũ “từ bỏ tình thân”, chuyên tâm theo học “pháp luân đại pháp” để được thăng cấp, cuối cùng sẽ tu thành “Phật, Đạo, Thần”. Nhiều người luyện tập đến mức mê muội, bị ảo giác, thậm chí thực hiện hành vi phạm tội, như vụ án Phạm Thị Thiên Hà cầm đầu một nhóm tu luyện theo PLC đã thực hiện hành vi giết người, phi tang xác ở Bình Dương vào tháng 5/2019.


Từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay, PLC đã phát triển nhanh, xâm nhập, thu hút, lôi kéo nhiều người dân và một số cán bộ, đảng viên tham gia. Bản chất của PLC là môn phái hoạt động dưới hình thức luyện khí công dưỡng sinh, tuyên truyền chữa được nhiều bệnh, rèn luyện tốt cho sức khỏe, để mê hoặc, lôi kéo nhiều người tham gia và khi có những vấn đề không đồng thuận với chính quyền, các tín đồ của PLC có thể tụ tập đông người gây áp lực với chính quyền, hoạt động gây rối để công khai hóa tổ chức. Ở Việt Nam, PLC đã và đang được các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng làm “quân bài” để chống phá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực “nhân quyền”, hình thành tổ chức chính trị đối lập, chống phá chế độ.


💥💥 Cần phải làm gì?


PLC là một tổ chức tà giáo lợi dụng sắc màu tôn giáo, khí công dưỡng sinh để hợp pháp hóa các hoạt động mang màu sắc chính trị. PLC không dừng lại ở việc tập luyện để nâng cao sức khỏe mà đã bộc lộ rõ bản chất bịp bợm với mục đích chính là các hoạt động lôi kéo người tập tham gia chống phá chính trị, xóa bỏ văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phá vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất ổn định an ninh xã hội.


Chúng ta cần cảnh giác để không bị mắc mưu kẻ xấu trở thành công cụ của tổ chức tà giáo này; tuyệt đối không tham gia PLC hoặc tiếp tay, cổ vũ, tuyên truyền, gây ảnh hưởng tới an ninh, trật tự. Không truy cập vào các trang thông tin phản động và các trang mạng xã hội tuyên truyền, kêu gọi ủng hộ PLC; không đăng tải, in ấn, tán phát, chia sẻ, bình luận cổ vũ, tuyên truyền các nội dung tài liệu về PLC trên Internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm, tích cực đấu tranh phê phán bản chất phản khoa học, phản văn hóa, phản xã hội, các quan điểm sai trái ủng hộ PLC, vạch mặt âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các đối tượng xấu và các thế lực thù địch lợi dụng PLC để gây mất an ninh, trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước./.

QUỐC TẾ ĐỀ CAO QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

  

Nhiều nước bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông.


Quan điểm nhất quán của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, thông qua đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), tiếp tục nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế.


Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao, giới chức nhiều nước đã bày tỏ nhất trí với quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này.


Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio, Chủ tịch Quốc hội Singapore Tan Chuan-Jin... trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng Năm vừa qua, tại các cuộc hội kiến, hội đàm với các nhà lãnh đạo Việt Nam, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982; thực hiện đầy đủ, toàn diện, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).


Quan điểm này cũng được nêu rõ khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tiếp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken nhân dịp Thủ tướng tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, thăm và làm việc tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc giữa tháng Năm vừa qua.


Nhiều nước cũng bày tỏ phản đối các hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, đe dọa hòa bình, ổn định, an toàn, an ninh hàng hải tại Biển Đông, như việc Trung Quốc quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa hay ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong hơn 3 tháng (từ ngày 1/5) tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam.


Trong cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio và Tổng thống Mỹ Joe Biden hồi tháng Năm, hay trong cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Đức Olaf Scholz với người đồng cấp Nhật Bản Kishida hồi tháng Tư tại Tokyo, các nhà lãnh đạo đã phản đối mọi nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực ở Biển Đông.


Trong tuyên bố chung sau cuộc hội đàm cấp cao Đức-Ấn Độ, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cũng khẳng định cần bảo đảm thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, ở tất cả các vùng biển, trong đó có Biển Đông.


Trước đó, các ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản và Philippines cũng đã ra tuyên bố chung bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình an ninh tại Biển Đông và Biển Hoa Đông; phản đối mọi tuyên bố chủ quyền hàng hải không có cơ sở pháp lý, mọi hoạt động quân sự hóa, các hoạt động mang tính cưỡng ép, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trên Biển Đông.


Đô đốc John Aquilino, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, cho biết Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, cụ thể là quần đảo Trường Sa mà Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý, bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền phù hợp với luật pháp quốc tế.


Trước đó, tháng Một năm nay, Cục Các vấn đề đại dương, môi trường và khoa học quốc tế thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một tài liệu nghiên cứu với nội dung phản bác "các yêu sách phi pháp” của Trung Quốc ở Biển Đông.


Tài liệu nghiên cứu dài 47 trang nêu rõ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là không có cơ sở theo luật pháp quốc tế, đồng thời khẳng định những yêu sách này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quy định của luật pháp quốc tế được ghi nhận trong UNCLOS năm 1982.


Bộ Ngoại giao Mỹ đã kêu gọi Trung Quốc “ngừng các hoạt động trái pháp luật và gây sức ép ở Biển Đông."


Phản ứng trước thông tin Trung Quốc quân sự hóa hoàn toàn một số đảo đá ở Biển Đông, trong cuộc họp báo ngày 7/4, phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định việc thúc đẩy quân sự hóa trên một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa không chỉ vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, mà còn gây lo ngại cho các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế như được phản ánh trong các văn kiện của ASEAN, không có lợi cho việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực Biển Đông.


Liên quan việc Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông, trong đó có vùng biển của Việt Nam, ngày 29/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: "Một phần phạm vi của lệnh cấm đánh bắt cá đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký năm 2000. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình khi triển khai các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật ở khu vực Biển Đông, không làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định, trật tự ở khu vực Biển Đông.”


Ngày 31/5, Philippines cũng đã gửi công hàm ngoại giao phản đối việc Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông, trong đó có vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines và Việt Nam.


Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 2/6 cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài và luật pháp quốc tế. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price nhấn mạnh: "Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc tuân thủ những nghĩa vụ theo quy định của luật pháp quốc tế."


Dư luận quốc tế cũng đề cao nỗ lực của Việt Nam đóng góp xây dựng khu vực Biển Đông hòa bình, an ninh, an toàn, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982.


Trong bài viết mới đây trên trang mạng Infox.ru (Nga) có nhan đề: “Việt Nam - ngọn cờ đầu của ASEAN,” tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh, khẳng định lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại.


Chuyên gia Nga đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Việt Nam trong các vấn đề khu vực, khẳng định Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế.


Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia Valeria Vershinina của Trường Đại học Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga nêu bật vai trò của Việt Nam trong việc thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông, khởi động đàm phán về COC.


Nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm UNCLOS, đối với các tranh chấp ở Biển Đông, cũng như việc thúc đẩy quá trình đàm phán thông qua COC, chuyên gia Anton Viktorovich Bredikhin - Tiến sỹ Lịch sử, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội "Các vấn đề chính trị - xã hội hình thành EAEU" Viện Hàn lâm khoa học Nga - đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm kinh tế biển, đặc biệt là ở Biển Đông, với phương châm “hòa bình - hữu nghị, hợp tác-phát triển."


Quan điểm nhất quán của Việt Nam ưu tiên giải quyết hòa bình mọi tranh chấp, khác biệt trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982, kêu gọi thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, xây dựng COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982... cũng được nhắc tới trong bài bình luận trên tờ The Economic Times nhân chuyến công du của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc tháng Năm vừa qua.


Bài viết nhận định chuyến công du đã tái khẳng định vai trò của Việt Nam trong việc ổn định khu vực Đông Nam Á, đồng thời thể hiện Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; Việt Nam mong muốn đa dạng hóa và đa phương hóa các mối quan hệ và là một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế./