Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2022

CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" CỦA VIỆT NAM

 

*****
Trong bối cảnh thế giới bất ổn, Việt Nam nên chăng liên minh với nước khác, chấp nhận cho họ đặt căn cứ quân sự giúp chúng ta bảo vệ đất nước? Đây là vấn đề nhiều người thác mắc và chưa hiểu rõ.
Câu trả lời là "Không thể!" Nếu làm vậy, chúng ta sẽ bị đẩy lên tuyến đầu và trở thành nạn nhân của cuộc cạnh tranh địa - chiến lược giữa các nước lớn.
Vậy Chính sách quốc phòng “4 không của Việt Nam” là gì?
Đó là:
Thứ nhất, không tham gia liên minh quân sự
Việt Nam nhất quán "thêm bạn, bớt thù". Một khi tham gia liên minh quân sự, chúng ta sẽ phải gắn với một bên, phải san sẻ trách nhiệm tài chính, nhân lực; có thể phải nhân nhượng một số lợi ích, sẽ phải hy sinh một phần nhất định chủ quyền quốc gia, có thể phải đối đầu với bên khác, tức là "chuốc" thêm kẻ thù. Do đó, Việt Nam chỉ chọn đứng về hòa bình, lẽ phải, công lý, luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Bên cạnh đó, Việt Nam cố gắng duy trì quan hệ cân bằng giữa các nước lớn, đặc biệt trong bối cảnh diễn ra cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực Biển Đông.
Thứ hai, không liên kết với nước này để chống nước kia
Việc thực hiện nguyên tắc "không liên kết với bất kỳ nước nào để chống lại một nước khác" trở nên đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Nếu Việt Nam liên minh với bên ngoài, ưu tiên dùng biện pháp quân sự để giải quyết các tranh chấp, bất đồng thì sẽ khó được các nước khác ủng hộ.
Nguyên tắc này giúp Việt Nam có vị thế phù hợp để đối thoại với các nước hay tham gia vào các cơ chế đối thoại an ninh, quan sát viên các hội nghị, các cuộc tập trận ở khu vực. Tuy tham gia diễn tập với một số nước, nhưng Việt Nam không đi với đối tác này để chống lại nước thứ ba. Mỗi năm, Việt Nam đón hàng chục tàu chiến nước ngoài, thậm chí năm 2018 và năm 2020, Việt Nam đón tàu sân bay Mỹ vào thăm, nhưng không phải là Việt Nam dùng các chiến hạm nước ngoài để đối phó với các hành động đe dọa chủ quyền của mình ở Biển Đông.
Thứ ba, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác
Việt Nam khẳng định rõ ràng với thế giới là không chấp nhận cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ, sử dụng một phần lãnh thổ Việt Nam để phát động chiến tranh xâm lược nước thứ ba.
Với quân cảng Cam Ranh, chúng ta xác định đây là căn cứ riêng của hải quân Việt Nam; đồng thời, Việt Nam đã cho xây dựng cảng quốc tế Cam Ranh để đáp ứng yêu cầu của không ít quốc gia muốn cho tàu chiến được ghé đậu quân cảng này. Như vậy, hoạt động của tàu chiến nước ngoài tại cảng quốc tế Cam Ranh không vi phạm nguyên tắc "không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam chống lại nước khác".
Đến nay, Việt Nam đã đón tiếp nhiều tàu hải quân nước ngoài, bao gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Anh, Canada, New Zealand, Nga, Trung Quốc …. đến thăm, ghé đậu tại cảng quốc tế Cam Ranh. Điều đó thể hiện sự kiên định về nguyên tắc và uyển chuyển trong cách thực hiện của Việt Nam. Việc vận dụng thực hiện các chính sách nói trên hoàn toàn tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thứ tư, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định: "Việt Nam chủ trương… không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế". Việc bổ sung điểm thứ tư này làm nổi bật bản chất phòng thủ và hòa bình trong chính sách quốc phòng Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam nỗ lực nâng cao năng lực quân sự của mình.
Nguyên tắc này không mâu thuẫn với mục đích hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam, đó là bảo vệ đất nước, kể cả bằng cách sử dụng vũ lực khi cần thiết. Nếu đất nước có chiến tranh, người Việt Nam buộc phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, gìn giữ hòa bình.
Chúng ta kiên định chính sách quốc phòng "Không liên kết với nước này chống nước kia". Việt Nam không liên minh quân sự, đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng nhằm mở rộng sự ủng hộ quốc tế, phát triển năng lực nhận thức, hiểu biết của chúng ta.
Với tinh thần "Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc", Việt Nam có thể cân nhắc, tham gia một số hoạt động phối hợp bảo vệ chủ quyền vùng biển theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 trên các diễn đàn khu vực, quốc tế.
Hiện nay quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam đã "phủ sóng" tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên thế giới. Quan hệ đối ngoại quốc phòng ngày càng rộng mở với trên 80 quốc gia thuộc cả 5 châu lục, đặc biệt Việt Nam có quan hệ quốc phòng với tất cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Đây là thuận lợi chưa từng có, là cơ hội để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước và quân đội trên trường quốc tế.
Lịch sử dân tộc ta trải qua mấy nghìn năm, công cuộc dựng nước luôn đi đôi với giữ nước. Chính sách quốc phòng "bốn không" được đúc kết từ truyền thống giữ nước đó và ngày càng chứng minh sự đúng đắn, phù hợp với Việt Nam.
Xây dựng chiến lược hiện đại hóa quân đội lâu dài và thực hiện chính sách quốc phòng "bốn không" sẽ góp phần bảo vệ hòa bình vững chắc, để chiến tranh không xảy ra thêm lần nữa, nhưng vẫn bảo vệ được toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ của đất nước./.
vubao4-st
3

MỞ RỘNG DÂN CHỦ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI

 

Sáng 8-9, tại Nhà Quốc hội, Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cho ý kiến vào dự thảo Nghị quyết Ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi). Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành thảo luận.
Theo tờ trình do Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường trình bày, dự thảo nghị quyết đã bổ sung quy định về thảo luận, tranh luận tại phiên họp toàn thể nhằm mở rộng dân chủ trong hoạt động của Quốc hội, tạo điều kiện để các vị đại biểu Quốc hội làm rõ hơn các vấn đề đại biểu quốc hội quan tâm.
Khoản 3, Điều 18 dự thảo Nội quy Kỳ họp Quốc hội (sửa đổi) quy định: “Tại mỗi phiên họp, đại biểu Quốc hội phát biểu lần thứ nhất trong thời gian không quá 7 phút, phát biểu lần thứ hai trong thời gian không quá 3 phút; mỗi lần tranh luận trong thời gian không quá 3 phút; cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình, cơ quan chủ trì thẩm tra mỗi lần giải trình ý kiến của đại biểu Quốc hội trong thời gian không quá 10 phút”.
Theo báo cáo ý kiến của Thường trực Ủy ban Pháp luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật cơ bản tán thành với quy định về thời gian thảo luận, tranh luận tại phiên họp toàn thể như nêu tại khoản 3, Điều 18 của dự thảo Nội quy kỳ họp.
Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị cần quy định cụ thể hơn trách nhiệm của đại biểu Quốc hội khi sử dụng quyền tranh luận là phải nêu rõ tranh luận về vấn đề gì, với ý kiến của đại biểu nào đã phát biểu trước đó nhằm hạn chế trường hợp lạm dụng quyền tranh luận để phát biểu ý kiến cá nhân.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Thái Bình) nhất trí với dự thảo luật quy định về thẩm quyền của chủ tọa yêu cầu đại biểu Quốc hội dừng tranh luận nếu đại biểu đăng ký tranh luận không đúng nội dung, hay sử dụng quyền tranh luận để nêu câu hỏi chất vấn. Thực tế có những trường hợp đại biểu dùng quyền tranh luận để được ưu tiên phát biểu trước.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy cũng đề nghị quy định theo hướng cụ thể hơn với cả chủ tọa, người điều hành và đại biểu Quốc hội và để bảo đảm thực thi nghiêm túc quy định.
Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) nhất trí với đề xuất quy định không quá 3 phút, nhấn mạnh quan điểm không nên quy định thời gian tranh luận ngắn hơn nữa theo đề xuất của một số đại biểu. Vấn đề tranh luận thường là những vấn đề gay cấn và “đã tranh luận thì phải tranh luận tương đối cho ra nhẽ, nói quá ngắn cũng không bảo đảm được, không hết ý được”.
Theo tờ trình, Ban soạn thảo dự thảo Nghị quyết Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nội quy kỳ họp Quốc hội đề nghị bổ sung 10 điều, sửa đổi 42 điều, kế thừa nguyên văn 5 điều, tăng 1 điều so với nội quy hiện hành và hình thức văn bản là Nghị quyết ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội (sửa đổi)./.#NĐ
Tin, ảnh: CHIẾN THẮNG
Nguồn: Báo quân đội nhân dân
vubao3-st
Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản cho biết 'THẢO LUẬN MỘT SỐ DỰ ÁN LUẬT, DU TRÌNH QUỐC HỘI TẠI KỲ Hà Nội, ngày 7-8 tháng ÁS'
1

 THƯ CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC GỬI CÁC CHÁU THIẾU NIÊN, NHI ĐỒNG NHÂN DỊP TẾT TRUNG THU 2022

“Các cháu thiếu niên, nhi đồng yêu quý!
Nhân dịp Tết Trung thu, Bác thân ái gửi đến các cháu thiếu niên, nhi đồng Việt Nam trong nước và ở nước ngoài, cùng các cháu người nước ngoài ở Việt Nam những tình cảm thương yêu nhất.
Năm nay, các hoạt động kinh tế - xã hội và đời sống sinh hoạt của người dân trên khắp đất nước ta đang trở lại trạng thái bình thường. Tết Trung thu - Tết Thiếu nhi lại về với đúng ý nghĩa là Tết Đoàn viên, các cháu được quây quần bên gia đình cùng các bạn phá cỗ, trông trăng, rước những chiếc đèn lồng xinh xinh, chơi những trò chơi cổ tích và mơ ước những điều tốt đẹp. Bác hiểu rằng, còn nhiều cháu thiệt thòi, kém may mắn trong cuộc sống không được hưởng một cái Tết Trung thu đúng nghĩa và trọn vẹn. Song Bác tin các cháu dù ở hoàn cảnh nào đều luôn có tinh thần lạc quan, cố gắng vượt khó, vươn lên trong học tập và trong cuộc sống.
Bác cũng rất xúc động và tự hào khi liên tục nhận được tin vui, các cháu đã vượt qua nhiều khó khăn, luôn tự giác trong học tập, chăm ngoan, biết giúp đỡ bố mẹ, ông bà, làm nhiều việc tốt. Nhiều cháu giành giải thưởng cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế; nhiều cháu đã trở thành những công dân dũng cảm, quên mình cứu người bị nạn, là những bông hoa đẹp cho đời. Bác gửi lời khen ngợi các cháu vì những thành tích cao trong học tập, sự cố gắng trong cuộc sống và những đóng góp cho cộng đồng. Mong các cháu tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của thiếu niên, nhi đồng Việt Nam!
Các cháu thiếu niên, nhi đồng yêu quý!
Trung thu năm nay, Bác mong mỗi trẻ em đều được vui Trung thu đầm ấm cùng những người thân yêu của mình. Mỗi gia đình, các cấp, các ngành và toàn xã hội, bằng trách nhiệm, tình thương yêu cần tiếp tục có nhiều hành động thiết thực hơn nữa, chăm lo cho các cháu thiếu niên, nhi đồng trong ngày Tết Trung thu, đặc biệt đối với các cháu nhỏ mồ côi, các cháu gặp hoàn cảnh khó khăn, các cháu ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo để tất cả các trẻ em đều được quan tâm phát triển toàn diện, được sống trong tình yêu thương, môi trường sống an toàn, lành mạnh.
Các cháu hãy luôn cố gắng chăm ngoan, học giỏi, vâng lời ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, thực hiện tốt Năm điều Bác Hồ dạy, rèn đức, luyện tài, để mai này trở thành người công dân ưu tú cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước, làm rạng danh dân tộc Việt Nam, đưa đất nước ta “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ đã đặt trọn niềm tin vào các cháu.
Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ
Tùy theo sức của mình
Các cháu hãy xứng đáng
Cháu Bác Hồ Chi Minh
Cuối thư, Bác gửi đến các cháu muôn vàn tình thương yêu và hy vọng!"
Thân ái
NGUYỄN XUÂN PHÚC
vubao2-st
8

THỰC HIỆN NGHIÊM NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT ĐẢNG


Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các cấp ủy, chi bộ trong Đảng bộ tỉnh đã tổ chức sinh hoạt chuyên đề “tự soi, tự sửa” nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Trên tinh thần quán triệt nguyên tắc tự phê bình và phê bình, với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm, các cấp ủy, chi bộ đã thẳng thắn đánh giá những kết quả đã đạt được, đặc biệt là những hạn chế, khuyết điểm thời gian qua, nhất là việc nhận diện, đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Qua “tự soi, tự sửa” đã chỉ rõ vẫn còn một số cán bộ, đảng viên còn những biểu hiện của sự suy thoái, nếu không tự phê bình và phê bình nghiêm túc sẽ dẫn đến suy thoái, thậm chí chuyển hóa từ “tự diễn biến” sang “tự chuyển hóa”. Do vậy, không chỉ trong sinh hoạt chi bộ, trong đời sống học tập, công tác hàng ngày mỗi cán bộ, đảng viên cũng phải nghiêm túc, tự giác “tự soi, tự sửa”. Việc “tự soi, tự sửa” trên cơ sở tự phê bình và phê bình phải được thực hiện một cách chủ động, tích cực và thường xuyên, liên tục. Trong tự phê bình và phê bình phải khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao.
Để nâng cao hiệu quả tự phê bình và phê bình thông qua sinh hoạt “tự soi, tự sửa”, các cấp ủy, chi bộ phải thực hiện nghiêm túc nền nếp tự phê bình và phê bình, xem đây như “rửa mặt hàng ngày”, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cấp, thực hiện cấp trên tự phê bình trước cấp dưới. Tiến hành tự phê bình và phê bình theo phương châm “phê bình việc chứ không phê bình người”, kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong cấp ủy, tổ chức đảng với tiếp thu ý kiến phê bình của quần chúng. Kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng vi phạm kỷ luật Đảng và các biểu hiện lợi dụng tự phê bình và phê bình để gây rối nội bộ hoặc trù dập người thẳng thắn phê bình.
Thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng và trong sinh hoạt “tự soi, tự sửa” là việc làm rất quan trọng, vô cùng cần thiết, có ý nghĩa sống còn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Làm tốt công tác này sẽ góp phần làm cho đội ngũ đảng viên ngày càng tiến bộ, trưởng thành, tổ chức đảng thêm đoàn kết, thống nhất, ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./.
vubao1
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết '1 "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và tháng nhất của Đảng." DI CHÚC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'
2

CHIÊU TRÒ NHÂN QUYỀN

Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới, trong đó có Việt Nam. Nhưng những kẻ có tư tưởng thù địch, chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam lại lợi dụng giá trị thiêng liêng đó làm chiếc áo ngụy trang cho việc phá hoại sự phát triển của đất nước.

TRÒ HỀ

 Mới đây, trên facebook của Việt Tân, trong bài viết “Lễ tưởng niệm 35 năm vị quốc vong thân của phó đề đốc Hoàng Cơ Minh và các anh hùng đông tiến”, bọn chúng đã mặt trơ trán bóng khi tự đánh bóng tên tuổi, tự phong cho mình những danh xưng mỹ miều nhất. Trong bài viết của mình, chúng thô thiển rằng: “những anh hùng đã vĩnh viễn ra đi, đã để lại di sản quý giá cho Tổ quốc; nhắc nhở các thế hệ sau không quên thế hệ tiên phong đã hy sinh vì công cuộc đấu tranh cho một đất nước tự do và dân chủ tại Việt Nam”, “… tinh thần vì nước quên thân của những con Hồng cháu Lạc, đã bất chấp mọi gian nguy và an nguy tính mạng, anh dũng hy sinh vì tương lai dân tộc và tiền đồ Tổ quốc”.

ĐỨC TÍNH QUAN TRỌNG NHẤT

Khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Người khiêm tốn là người biết mình, hiểu người, không tự cao tự đại. Khiêm tốn, giản dị còn là sự nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn nêu cao tinh thần học hỏi, không tự đề cao, khoe khoang cá nhân mình với người khác.

TRÁO TRỞ VÀ BỈ ỔI

Lợi dụng vấn đề tòa án các cấp đưa ra xét xử công khai những người có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hộ chủ nghĩa Việt Nam. Những kẻ “cùng hội, cùng thuyền”, những “anh hùng bàn phím”, những “nhà dân chủ vì tiền” lại lên tiếng xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

TRƠ TRẼN VÀ LẠC LÕNG

Gần đây, trên một số trang mạng xã hội phản động tán phát bài viết Tư duy cải cách giáo điều kìm hãm động lực tăng trưởng kinh tế thế nào? của Phạm Quý Thọ. Với lập luận khiên cưỡng với mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xét lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

TINH THẦN NGÀY ĐỘC LẬP MÃI SOI ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI

Ngày 2/9, là ngày lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với mỗi người dân Việt Nam!

77 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Thành tựu vĩ đại của cuộc Cách mạng do Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là đã đưa nhân dân Việt Nam từ đêm trường nô lệ đứng dậy đập tan xiềng xích thực dân, phong kiến, khẳng định quyền tự do và độc lập, tự quyết định vận mệnh của mình.

Các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam phân bổ chủ yếu trên các địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái.

 


Về phương diện kinh tế, miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu của các dân tộc thiểu số là nơi chứa đựng hầu hết trữ lượng khoáng sản của đất nước.Từ nhiều thế kỷ qua, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Những vùng đất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè... Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng để xây dựng các trang trại, nông trại. Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước. Như vậy, miền núi Việt Nam chẳng những có khả năng phát triển nông lâm nghiệp kết hợp, mà còn có khả năng phát triển công nghiệp hiện đại, làm cơ sở để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Về phương diện chính trị, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng, nhiều dân tộc sinh sống dọc biên giới, tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, một số tộc người như Mường, Chứt, Thổ, Bana, Cơ ho... chủ yếu cư trú trên lãnh thổ Việt nam, các tộc người khác (Hmông, Dao, Thái, Khơ me..) có một bộ phận sinh sống ở Việt Nam còn lại cư trú ở nước khác. Trong đó, một số dân tộc còn là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế mà hoạt động của họ có liên quan tới sự ổn định chính tri, xã hi ở Viêt Nam. Về phương diện quốc phòng, miền núi luôn là phên dậu vững chắc của quốc gia. Địa thế xung yếu, hiểm trở của miền núi và lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc sinh sống ở đây làm cho miền núi trở thành nơi tụ nghĩa của nghĩa quân (nghĩa quân Lam Sơn), căn cứ địa cách mạng và kháng chiến (chiến khu Việt Bắc), nhiều khi là mồ chôn quân xâm lược (ải Chi Lăng ở Lạng Sơn thời chống Minh, Điện Biên Phủ thời chống Pháp hay Buôn Ma Thuột thời chống Mỹ.). Từ sự phân tích tầm quan trọng của địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy vì sao Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và miền núi. Vì vậy, có thể hiểu tại sao trong lịch sử dựng nước và giữ nước tư tưởng “Một tấc không đi, một ly không dời, quyết tâm bám gi bản làng đã khắc sâu vào tâm khảm các dân tộc Việt Nam.

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau, không có vùng lãnh thổ riêng cho một dân tộc.

 


Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc khu vực Đông Nam Á, đó là các dòng chuyển cư từ Nam lên, Tây sang và chủ yếu từ Bắc xuống. Qua các đợt chuyển cư đã có nhiều dân tộc định cư lâu dài ở Việt Nam. Các dòng chuyển cư đến đầu tiên định cư ở các thung lũng, chân núi; các đợt đến sau định cư ở rẻo giữa và các đợt sau nữa lấy rẻo cao làm nơi sinh sống. Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phân tán, xen kẽ. Đây là một đặc điểm nổi bật về bức tranh phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Cũng chính tình hình cư trú phân tán, xen kẽ đã làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng. Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn.Tính chất cư trú của các dân tộc ở Việt Nam một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, phát triển tinh thần đoàn kết, tương trợ; mặt khác, nếu không giải quyết tốt và kịp thời mối quan hệ giữa các dân tộc, thì dễ xảy ra mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị của đất nước.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

TREO CỜ TỔ QUỐC TRONG CÁC DỊP LỄ, TẾT THỂ HIỆN NÉT VĂN HÓA, LÒNG YÊU NƯỚC, NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

 Quốc Kỳ Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của hồn nước, lòng dân, của tình đoàn kết đời đời bền vững của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, là biểu tượng thiêng liêng nhất, thể hiện nhiệt huyết cách mạng, sự hy sinh anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng - Biểu tượng chung nhất của dân tộc Việt Nam, đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam và đã được cộng đồng quốc tế công nhận và tôn trọng.

Việc treo cờ Tổ quốc là thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là ý thức trách nhiệm của mỗi người dân. Treo cờ Tổ quốc trang trọng trong những ngày lễ lớn, ngày Tết đã trở thành nghi lễ quen thuộc, thể hiện lòng yêu nước và tự hào của mỗi công dân Việt Nam, biểu tượng của tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phồn vinh và là nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Để thiết thực kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam 02/9, mỗi gia đình, người dân và các cơ quan, đơn vị hãy chủ động treo cờ Tổ quốc, cờ Đảng tại cơ quan đơn vị, nhà văn hóa và tại hộ gia đình, trên các trục đường, ngõ xóm để tạo không khí vui tươi phấn khởi trong ngày trọng đại ý nghĩa của quốc gia, của dân tộc - Tết Độc lập.

NGÀY QUỐC KHÁNH VIỆT NAM VÀ NHỮNG ĐIỀU ÍT NGƯỜI BIẾT

 Hiện nay, người dân cả nước và bạn bè quốc tế đều biết ngày 02-9 là Ngày Quốc khánh Việt Nam, ngày lễ trọng đại, chính thức của nước ta. Đây cũng là ngày Chủ tịch nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn đầu tiên, ngày Quốc khánh lại là 19-8.

Theo các tài liệu lưu trữ quốc gia hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, trong những năm đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tên gọi ngày Quốc khánh Việt Nam được quy định là ngày 19-8 dương lịch, còn ngày 02- 9 được quy định là “ngày Việt Nam độc lập.

Cụ thể là Sắc lệnh 22C NV/CC ngày 18-2-1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, quy định những ngày Tết, kỷ niệm lịch sử  và lễ tôn giáo, trong đó có ấn định ngày 02-9 là ngày Việt Nam độc lập.

Sắc lệnh 141 ký ngày 26-7- 1946 do Quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng ký về việc lấy ngày 19- 8 dương lịch, ngày kỷ niệm cách mạng tháng 8 năm 1945 từ nay sẽ là ngày Quốc khánh Việt Nam.

Kể từ hai văn bản này, ngày 02-9 thường được gọi bằng các cụm từ khác nhau như: “Ngày Độc lập”, “Ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa”, “ngày Tuyên ngôn độc lập”. Cho đến năm 1954, “Khẩu hiệu kỷ niệm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 02-9” là văn bản chính thức đầu tiên Chính phủ sử dụng cụm từ “Quốc khánh” để nhắc đến ngày 02-9.

Ngày 02-9 chính thức được quy định là ngày Quốc khánh tại điều 145, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Ngày tuyên ngôn độc lập 02-9-1945 là ngày Quốc khánh”, và Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, chương 1, điều 13, mục 4 quy định: “Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc lập 02 tháng 9 năm 1945”.

Ngày nay, đồng bào ta coi ngày Quốc Khánh 02/9 là ngày một ngày TẾT.

TẾT ĐỘC LẬP.