Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2022

Các dân tộc thiểu sổ ở Việt Nam phân bổ chủ yếu trên các địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường sinh thái.

 


Về phương diện kinh tế, miền núi - địa bàn phân bố chủ yếu của các dân tộc thiểu số là nơi chứa đựng hầu hết trữ lượng khoáng sản của đất nước.Từ nhiều thế kỷ qua, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã sống dựa vào các nguồn thực phẩm sẵn có trong tự nhiên. Những vùng đất phì nhiêu ở khu vực này rất thuận lợi cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, chè... Những vùng đất rộng lớn của miền núi là tiềm năng để xây dựng các trang trại, nông trại. Rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng trồng cây lấy gỗ sẽ là nguồn tài sản quý báu của đất nước. Như vậy, miền núi Việt Nam chẳng những có khả năng phát triển nông lâm nghiệp kết hợp, mà còn có khả năng phát triển công nghiệp hiện đại, làm cơ sở để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Về phương diện chính trị, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có vị trí đặc biệt quan trọng, nhiều dân tộc sinh sống dọc biên giới, tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia. Ở Việt Nam, một số tộc người như Mường, Chứt, Thổ, Bana, Cơ ho... chủ yếu cư trú trên lãnh thổ Việt nam, các tộc người khác (Hmông, Dao, Thái, Khơ me..) có một bộ phận sinh sống ở Việt Nam còn lại cư trú ở nước khác. Trong đó, một số dân tộc còn là đối tượng nghiên cứu của một số tổ chức quốc tế mà hoạt động của họ có liên quan tới sự ổn định chính tri, xã hi ở Viêt Nam. Về phương diện quốc phòng, miền núi luôn là phên dậu vững chắc của quốc gia. Địa thế xung yếu, hiểm trở của miền núi và lòng yêu quê hương đất nước của nhân dân các dân tộc sinh sống ở đây làm cho miền núi trở thành nơi tụ nghĩa của nghĩa quân (nghĩa quân Lam Sơn), căn cứ địa cách mạng và kháng chiến (chiến khu Việt Bắc), nhiều khi là mồ chôn quân xâm lược (ải Chi Lăng ở Lạng Sơn thời chống Minh, Điện Biên Phủ thời chống Pháp hay Buôn Ma Thuột thời chống Mỹ.). Từ sự phân tích tầm quan trọng của địa vực cư trú của các dân tộc thiểu số Việt Nam, có thể dễ dàng nhận thấy vì sao Đảng ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và miền núi. Vì vậy, có thể hiểu tại sao trong lịch sử dựng nước và giữ nước tư tưởng “Một tấc không đi, một ly không dời, quyết tâm bám gi bản làng đã khắc sâu vào tâm khảm các dân tộc Việt Nam.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét