Thứ Hai, 12 tháng 9, 2022

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Trong thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter…) như một công cụ để lợi dụng chống phá, chuyển hóa chính trị, khủng bố. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay là vấn đề khách quan, nhiệm vụ trọng yếu, đòi hỏi mọi người, lực lượng thực thi nhiệm vụ này trên không gian mạng phải luôn nhận thức đầy đủ những thách thức và yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng bản lĩnh, trách nhiệm và quyết tâm cao, góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng trước tình hình mới. Để tuyên truyền những quan điểm sai trái, các thế lực thù địch đã sử dụng rất nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nguy hiểm hơn, có tác động đến các tầng lớp trong xã hội. Chúng tập trung chống phá trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để thông qua đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về hình thức tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu qua các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, duy trì sử dụng hàng chục đài phát thanh chương trình Việt ngữ, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn website, blog... để liên tục phát tán những thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng lập ra nhiều trang web mạo danh các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương để trích dẫn, bình luận, xuyên tạc, hạ uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Đối tượng tác động của hoạt động tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là trí thức, văn nghệ sĩ; cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ hưu trí, cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa; thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên; người lao động… Để giữ vững trận địa tư tưởng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, cán bộ, đảng viên cần hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm thành phần lợi dụng không gian mạng. Đồng thời, tập trung làm tốt một số giải pháp sau: Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”. Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23/8/2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp tục quán triệt và tổ chức triển khai thật tốt Nghị quyết này, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, phát huy tích cực vai trò của các cơ quan báo chí, xuất bản. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động./.

Thượng tôn pháp luật để hạn chế khiếu nại, tố cáo sai sự thật

Đảng, nhà nước ta luôn quan tâm, thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp để giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Bởi khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, tình trạng đơ thư khiếu nại, tố cáo sai sự thật vẫn chiếm tỷ lệ lớn (hơn 50%), thậm chí còn phổ biến hiện tượng đơn thư nặc danh, sai sự thật, vu khống người khác gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội. Khiếu nại, tố cáo đúng có giá trị rất lớn, giúp cơ quan chức năng phát hiện, xử lý kịp thời những cá nhân, tập thể sai phạm, bảo đảm kỷ cương phép nước. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, đảng và nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật, từ đó để ngày càng hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại, việc khiếu nại, tố cáo sai sự thật, thậm chí khiếu nại, tố cáo vu khống với mục đích cá nhân không trong sáng lại gây ra rất nhiều hệ lụy cho xã hội. Hệ lụy dễ nhận thấy nhất là bất ổn về an ninh, chính trị, trật tự xã hội, kìm hãm sự phát triển mọi mặt. Nội dung đơn thư sai sự thật gây lãng phí thời gian, công sức và chi phí cho các cơ quan chức năng vào cuộc xác minh giải quyết, cũng như của chính người khiếu nại, tố cáo. Nguy hiểm hơn cả là những nội dung khiếu nại, tố cáo vu khống với mục đích nhằm hạ bệ, làm mất uy tín của người khác, lan truyền ra dư luận những điều không đúng sự thật. Khi cơ quan chức năng vào cuộc xác minh, dù kết luận là không đúng, nó cũng khiến người bị khiếu nại, tố cáo ảnh hưởng rất nhiều. Có những người không thể chịu nổi sức ép dư luận dù điều đó hoàn toàn sai. Không ít trường hợp cứ đến những kỳ chuẩn bị nhân sự đại hội, bầu cử, quy hoạch... Lại xuất hiện đơn thư tố cáo nặc danh hoặc tố cáo sai sự thật. Xã hội văn minh không chấp nhận kiểu khiếu nại, tố cáo chủ ý sai sự thật hay vu khống người khác, bởi tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Để hạn chế tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo sai sự thật, cần tuyên truyền cho mọi công dân trong xã hội hiểu biết, nâng cao kiến thức về pháp luật và có ý thức thượng tôn pháp luật. Thượng tôn pháp luật cũng có nghĩa là tôn trọng quyền nhân thân, quyền lợi của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội và cao nhất là tôn trọng sự thật. Khi có hiểu biết pháp luật thì công dân mới nhận thức được việc mình làm, nhận thức được đúng-sai khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình. Trên thực tế, vẫn còn hiện tượng nhiều người dân không nắm vững các quy định của pháp luật, hiểu sai và vận dụng sai trong thực tiễn thi hành, đòi hỏi quá mức quyền lợi của mình trong khung khổ luật pháp. Đối với những trường hợp khiếu nại, tố cáo sai sự thật, vu khống, xúc phạm người khác, kích động, đánh tráo dư luận... Với động cơ mang tính cá nhân cần được xử lý nghiêm khắc theo đúng các quy định của pháp luật. Theo điều 156, bộ luật hình sự 2015, người thực hiện hành vi vu khống tùy vào mức độ vi phạm pháp luật mà bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm tùy từng trường hợp. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xử lý cá nhân tố cáo sai sự thật ở nước ta vẫn còn xem nhẹ, hiếm khi bị áp dụng đúng chế tài pháp luật nên chưa có tính răn đe. Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng đơn thư tố cáo sai sự thật, tố cáo vượt cấp không giảm, tính chất ngày càng phức tạp. Nhiều chuyên gia luật pháp cho rằng, đối với trường hợp cố ý tố cáo sai sự thật có dấu hiệu tội phạm cần đề nghị chuyển cơ quan chức năng để điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự. Hệ thống pháp luật của chúng ta với mục đích bảo vệ quyền của công dân thì việc xử lý nghiêm những trường hợp khiếu nại, tố cáo sai sự thật, vu khống cũng nhằm bảo vệ quyền của công dân khác trong một xã hội bình đẳng, thượng tôn pháp luật. Vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng là hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi nghiêm luật pháp. Bởi suy cho cùng, luật pháp là hành lang điều chỉnh các hiện tượng, các mối quan hệ và các vấn đề xã hội. Khi luật pháp nghiêm minh, hiện tượng khiếu nại, tố cáo sai sự thật, vu khống sẽ giảm. Trung Thành 30A ST

Sự phát triển lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 g   Lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) là nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận về BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng.

Từ khi có Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến trước khi có Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã xác lập đa dạng những vấn đề cụ thể về phương thức BVTQ. Đến Đại hội XIII, Đảng đã bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề mới về phương thức BVTQ, góp phần hoàn thiện thêm lý luận và chỉ đạo nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ mới. 

Phương thức BVTQ là tổng thế các hình thức, phương pháp, biện pháp được áp dụng trên mọi lĩnh vực của quốc gia mà các chủ thể lãnh đạo, quản lý và tham gia sử dụng vào sự nghiệp quốc phòng để đạt được mục tiêu BVTQ. Đó là tổng thể những vấn đề: Kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng đất nước mạnh lên làm phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất; sử dụng các hình thức và biện pháp đấu tranh vũ trang để đánh bại các hành động vũ trang xâm lược; áp dụng các hình thức, biện pháp đấu tranh phi vũ trang để đánh bại các thủ đoạn tiến công phi vũ trang; kết hợp đấu tranh phi vũ trang và vũ trang, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hành “tự bảo vệ”, nhất là bảo vệ từ bên trong để đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; khai thác và phát huy vai trò của đối ngoại vào BVTQ.

Từ khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và BVTQ XHCN. Trong thời kỳ tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã áp dụng tổng thể, có hiệu quả các phương thức BVTQ, đem lại những thành tựu quốc phòng quan trọng, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Những thành tựu quan trọng đó, cùng với sự không ngừng sáng tạo bổ sung, phát triển lý luận BVTQ và những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp BVTQ trước sự vận động phức tạp, khó lường, khó dự báo của tình hình thế giới đã trở thành cơ sở, tiền đề cho Đảng ta, nhất là Đại hội XIII của Đảng phát triển, làm sâu sắc thêm lý luận về phương thức BVTQ, góp phần chỉ đạo tiến hành sự nghiệp quốc phòng, công cuộc giữ nước trong thời kỳ mới. Sự phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:

Một là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại [1].

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới, nhằm tiến tới đồng bộ hóa, dần hoàn thiện lý luận phương thức BVTQ của Đảng, được ghi nhận, xác lập trong Văn kiện Đại hội XIII. Nếu như trước đây, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX mới chỉ xác định “Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã bổ sung và làm rõ thêm bốn lĩnh vực cần phải kết hợp chặt chẽ với nhau là “kinh tế”, “xã hội”, “quốc phòng”, “an ninh”; và được Đại hội XII khẳng định lại vấn đề này,… thì đến Đại hội XIII, Văn kiện không chỉ bổ sung thêm hai lĩnh vực cần phải kết hợp là “văn hóa” và “đối ngoại”, mà còn kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp theo một trật tự thống nhất, lần lượt là kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại… nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức; đồng thời, quán triệt và cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo BVTQ đã được Đại hội XIII xác lập là: “gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” [2].

Cũng với sự bổ sung và kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp trên đây để BVTQ, đó còn sự bổ sung về mục tiêu, yêu cầu đạt được của sự kết hợp. Nếu như trước đây các văn kiện, nghị quyết của Đảng đòi hỏi sự “kết hợp chặt chẽ” và “kết hợp tốt” một cách chung chung, thì nay Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đòi hỏi phải đạt được đến độ là “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả”, nhằm không chỉ thực hiện quan điểm về mục tiêu “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước”, mà còn đáp ứng đòi hỏi phát triển nhanh và bền vững của từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời kỳ phát triển mới đến năm 2025, 2030 và giữa thế kỷ XXI.

Sự kế thừa, bổ sung, phát triển vấn đề kết hợp giữa các lĩnh vực cụ thể trong BVTQ của Văn kiện Đại hội XIII đã làm cho lý luận về phương thức BVTQ không ngừng hoàn thiện; tính chất phức hợp của sự gắn kết đồng thời giữa các lĩnh vực đòi hỏi được tăng lên, cùng tính trọng tâm, trọng điểm xác định đối với từng lĩnh vực trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ ngày càng được thể hiện rõ hơn. Nhờ sự bổ sung, phát triển này mà quán triệt, cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý tốt một trong 10 mối quan hệ lớn mà Đại hội XIII đã xác định là “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đối với mọi lĩnh vực, chủ thể quốc gia trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Hai là, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đây là sự kế thừa, bổ sung, phát triển mới một cách trực tiếp đối với một những vấn đề thuộc lý luận về phương thức BVTQ của Đảng đã được xác lập từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến nay, với tính mới là sự tổng hợp và đúc kết lý luận về phương thức BVTQ được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII.

Phương thức chủ động giữ nước được Đảng liên tục quán triệt, bổ sung, phát triển trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đến đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh quốc tế và đất nước nổi lên những nguy cơ đặc biệt nguy hại cho sự nghiệp cách mạng, nhất là đối với nhiệm vụ BVTQ, Đảng đã xác lập nên quan điểm có tính chất xác định rõ hơn một trong những hình thức, phương pháp, biện pháp BVTQ là “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, nhằm quán triệt, phát huy truyền thống “Dựng nước đi đôi với giữ nước”, “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” của cha ông ta trong thời kỳ mới. Vấn đề này được thể hiện sơ lược trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX; được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, đồng thời được Đại hội XII khẳng định lại và xác lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”[3]Đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định lại vấn đề này. Tuy nhiên, tính mới và đặc sắc nhất của lý luận về phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” ở Văn kiện Đại hội XIII là không còn chỉ thể hiện ở việc xác nhận lại, ghi lại ở riêng phần quốc phòng, an ninh nữa. Nghĩa là không còn xác lập và coi “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” chỉ thuộc về phần quốc phòng, an ninh và chỉ riêng thuộc về trách nhiệm của quốc phòng, an ninh nữa. Trái lại, nó đã được xác lập ở hầu khắp các phần khác, lĩnh vực khác và quy định các lĩnh vực khác cũng phải thực hành phương thức này. Cụ thể:

Trong “Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025”, Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Chủ động chuẩn bị các phương án để kịp thời thích ứng với những biến động của tình hình” [4]. Trong 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, đã có ba định hướng xác định phương châm chủ động giữ nước như: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”; “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả” [5]. Trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, Văn kiện Đại hội XIII xác định “Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế” [6]. Trên lĩnh vực văn hóa, Văn kiện còn xác định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa” [7]. Trên lĩnh vực y tế, đó còn là: “Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng” [8]. Với lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu, Văn kiện yêu cầu: “Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời giảm thiểu các tác động bất lợi từ quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” [9] … Như vậy, ngay từ mục tiêu đến những định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng, nhiệm vụ phát triển các ngành, lĩnh vực trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII đã quy định trách nhiệm cùng phải thực hiện phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của các ngành, lĩnh vực khác.

Đặc biệt, phương châm BVTQ từ sớm, từ xa được Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hóa bổ sung và phát triển thêm nội dung trên bốn lĩnh vực trọng yếu sau: Với quốc phòng, an ninh, đó là: “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”; “Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”; “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” [10]. Với đối ngoại, đó là: “Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, trong đó chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” [11]; “giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế” [12]. Với xây dựng Đảng, đó là: “Tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”; “Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng” [13].

Rõ ràng, sự phát triển mới của phương thức BVTQ từ sớm, từ xa không còn được xác lập riêng cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh nữa, mà đã xác lập ở hầu khắp mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, sự chủ động giữ nước đó còn phải khuôn theo nguyên tắc “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”, nghĩa là không phải sự chủ động chỉ xuất phát từ mỗi lĩnh vực theo ý muốn riêng của ngành, lĩnh vực mình, mà phải tiến hành bằng “biện pháp hòa bình” và “phù hợp” với luật pháp quốc tế… Đây chính là sự phát triển mới về lý luận, vừa mang tính khẳng định lại, vừa bổ sung và tổng hợp một cách khái quát, hệ thống nhất về phương thức BVTQ, đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII.

Sự bổ sung, phát triển lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII không chỉ trực tiếp góp phần bổ sung, ngày càng hoàn thiện thêm lý luận BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng trong thời kỳ mới, mà còn góp phần vào thành công, cũng như khẳng định vị trí, tầm quan trọng của Đại hội XIII trong lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Giá trị thực tiễn của sự bổ sung, phát triển mới lý luận phương thức BVTQ đã và đang góp phần định hướng, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững của đất nước hiện nay. Nó trực tiếp giúp cho các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các chủ thể của các ngành, lĩnh vực này có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn đối với nhiệm vụ BVTQ đang diễn ra trong bối cảnh đất nước và quốc tế có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, khó dự báo hiện nay. Sự bổ sung, phát triển lý luận về phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn là một bước chuẩn bị hết sức quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp cho Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Nhà nước ta thực hiện Đề án tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

---------  

[1], [2], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.157, 110, 114, 116-117, 135, 147, 151, 155, 156 và 159, 50, 189.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.149.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110, 154.

 

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Viện KHXH&NVQS

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

   Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.

 

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết có kết cấu, cách tiếp cận nội dung rất cơ bản, hệ thống và khoa học, nội dung được đề cập tới các lĩnh vực như: Phát triển kinh tế thị trường; xây dựng nền văn hóa; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…

Đặc biệt bài viết khẳng định: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”, “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Điều này đã phản ánh đúng lý luận, thực tiễn và cả những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục giải quyết đối với cách mạng Việt Nam.

Nội hàm bài viết đã thể hiện rõ quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tuy nhiên, trong bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.

Thứ nhất, quan điểm kiên quyết, kiên trì trong bài viết là sự tiếp nối truyền thống của cha ông ta.

Thật vậy, bài viết khẳng định, để có được Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, “Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước”.

Suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử, truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã để lại bao chiến công hiển hách. Nếu như thế kỷ XI, dòng sông Như Nguyệt vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định chủ quyền “Sông núi nước Nam vua Nam ở…/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” thì thế kỷ XIII, vó ngựa giặc nguyên Mông tràn khắp châu Á, châu Âu nhưng ba lần bị quân dân nhà Trần đánh bại. Đến thế kỷ XVIII, Quang Trung đại phá quân Thanh để rồi “sử tri Nam Quốc Anh hùng chi hữu chủ”. Vì vậy, Bác Hồ đã dạy “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Quân ta có thể ít về số lượng, vũ khí không hơn địch, có thể là một cuộc chiến tương quan chênh lệch lực lượng, ta ít, địch nhiều, nhưng cha ông ta đã đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần. Có được chiến công đó chính là sức mạnh của ý chí kiên quyết, kiên trì đánh giặc ngoại xâm với tinh thần triệt để nhất.

Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. Bước ra từ các cuộc chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khát vọng hòa bình mãnh liệt cho dân tộc mình, nhưng chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì tiếp nối truyền thống cha ông để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh “tình hình khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta”

Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau. Các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chính trị thế giới kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã, đang và sẽ giữ vững trận địa. Các đảng cộng sản và phong trào công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác.

Tình hình thế giới diễn biến phức tạp khó lường nhưng Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, và “chưa bao giờ đất nước ta có được tiềm lực và cơ đồ như ngày hôm nay”.

Thứ ba, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Đây vừa là bài học vừa là quan điểm được Đảng ta khẳng định từ Đại hội XII, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài viết làm rõ thêm về tính chất kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc. Trước hết và quan trọng là “luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện”.

Bài viết còn thể hiện quan điểm kiên quyết, kiên trì còn là sự kiên định và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cơ sở khoa học của quan điểm về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Với tư cách là người đại diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc, phải “bảo vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ Tổ quốc của mình”. Giai cấp công nhân từng bước giành được những thắng lợi và phải biết bảo vệ, phát huy những thành quả, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

“Kiên quyết, kiên trì” thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến lược, sự nhất quán, trước sau như một, trước mắt cũng như lâu dài, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, là bằng mọi cách phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Cụm từ “kiên quyết” thể hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc, với quyết tâm cao nhất. Cụm từ “kiên trì” bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước sẽ còn lâu dài, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không lơi lỏng, không được mất cảnh giác, không nản lòng, phải nuôi dưỡng ý chí quyết tâm thật cao. Phải kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Như vậy, “kiên quyết, kiên trì” là thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như một của nhân dân ta, vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh. Đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới, mà trước hết là bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Bài viết đã khái quát nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc - một trong những giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần hiện thực hóa mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là phải: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm của Tổng Bí thư thể hiện một tầm nhìn mới, bản lĩnh mới, sức sáng tạo mới, có tính toàn diện và giá trị chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Luận điểm khẳng định điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

Đồng thời, khẳng định tinh thần đoàn kết, trên dưới đồng lòng: “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Quán triệt sâu sắc và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời giữa bảo đảm vững chắc quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Trong xã hội, con người với bản sắc văn hóa giữ vị trí trung tâm. Phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Chúng ta luôn luôn chăm lo thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam…

Trước đây, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa là, dân tộc Việt Nam muốn giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước, nhất định phải phát triển văn hóa. Ngày nay, bài viết tiếp nối và khẳng định, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, phát minh ra, theo đó lẽ tất nhiên, văn hóa xuất phát từ con người và phải đem văn hóa để giải phóng con người, trước hết là giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và được phát triển toàn diện. Nội dung cốt lõi trong bài viết thể hiện: Văn hóa là nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa là một mặt trận, mỗi văn nghệ sĩ là một chiến sĩ trên mặt trận ấy. Văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “dân tộc - khoa học - đại chúng”…

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong đời sống. Những nội dung cơ bản của bài viết cần tiếp tục được nghiên cứu, luận giải, làm cơ sở cho quá trình quán triệt, tổ chức thực hiện. Đường lối, quan điểm của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Chúng ta tin tưởng rằng, với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo công cuộc đổi mới đúng đắn, sáng tạo của Đảng, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân sẽ trở thành hiện thực./.

Thượng tá, ThS Nguyễn Đức Vinh (Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn- Trường Quân sự -Quân khu 7)

Không thể xuyên tạc việc học và làm theo Bác!

 g   Việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước.

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"(gọi tắt là 3 Chỉ thị)… trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: “Học mãi đâu có vào”, học rồi “tại sao cứ thế mãi”, “càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái”… 

DI SẢN TINH THẦN QUÝ GIÁ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 53 năm, song tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vị lãnh tụ gần dân, dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước không chỉ in đậm trong trái tim và khối óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(1). Tư tưởng của Người là kết quả sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…

Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị của di sản Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết của tất cả các lực lượng chống đế quốc, thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền vững giữa các dân tộc “trên con đường tiến bộ - con đường hoà bình trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính của con người và mọi đức tính xã hội chủ nghĩa”(2) trong thời đại mới.

Với Hồ Chí Minh, dù là người đang làm thuê trên tàu Amiran Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người “yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu(3). Từ cuộc đời và phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân dung một người cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả mọi lời nói, điều mà Người khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn bè, anh em, đồng chí, thậm chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó chính là “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”(4).

Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh, khí phách ngoan cường, ý chí bất khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh và thái độ ứng xử điêu luyện về chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán, nhanh nhạy trong những tình thế gay go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng của  dân tộc Việt Nam và tất cả các dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới. Đồng thời, lòng yêu thương con người và sự bao dung, khoan hoà của Người cũng như trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm, tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng, trong hành động, trong từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đã làm cho những người đã từng ở bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(5).

HỌC VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”(6). Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì đâu đó cũng vẫn còn những địa phương, cơ quan, đơn vị triển khai việc học và làm theo Bác một cách chung chung, hình thức. Cũng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, thiếu tính tiền phong, gương mẫu, quan liêu trong công tác, hách dịch, thậm chí xa rời quần chúng. Bên cạnh đó, có người còn vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng và vi phạm pháp luật như tham ô, tham nhũng hoặc rời xa lý tưởng cách mạng, cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng… dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Việc những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải dính vòng lao lý cũng là có thật. Và các vụ án tham nhũng những năm gần đây; những cán bộ, đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng, chịu án tù… đã bị các đối tượng cơ hội, phản động, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng “sự kiện đó” để chống phá Đảng và chế độ cũng là có thật.

Việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào lò” của các thế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.

Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết qủa này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương… 

TRỞ THÀNH NHU CẦU TỰ THÂN CỦA MỖI CẤP ỦY, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Gần hai năm qua, để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, Đảng ta đã tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo Bác gắn với công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã được ban hành.

Trên tinh thần, “Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(7), việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với Kết luận số 21-KL/TW trong mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên cũng đã cho thấy những kết quả tích cực. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo Bác đã trở thành công việc thường xuyên của toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần làm cho ý thức tự giác rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu được tăng cường. Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không chỉ góp phần tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi tập thể, cá nhân, mà còn làm cho sự đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức được tăng cường. Đồng thời, cũng làm cho ý thức, trách nhiệm và sự trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cho nên, không thể xuyên tạc vô căn cứ, cũng như không thể quy chụp như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen rằng: Việc học và làm theo Bác “cũng chỉ làm cho xong để báo cáo”; là học nhưng đâu vẫn hoàn đấy như “ngựa vẫn quen đường cũ”; học và làm theo Bác đã bao năm rồi mà “vẫn trơ ra”…

Cuối cùng, phải khẳng định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc và bôi đen sự thật; dù các thủ đoạn bẻ cong, vu khống, bôi nhọ đã và đang được áp dụng, song Hồ Chí Minh - “tên Người phản ánh một cuộc đời đặc biệt rất hiếm có trong các vị lãnh đạo Nhà nước và trong các nhà chính trị của thời đại chúng ta. Con đường Người đã đi qua đánh dấu bằng cuộc đấu tranh gian khổ, bằng những khó khăn lớn lao nhưng đồng thời cũng đánh dấu bằng những thắng lợi chính trị độc đáo phản ánh lịch sử của dân tộc Người trong khoảng 50 năm vừa qua”(8) vẫn đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; các trước tác của Người, liên quan đến Người… là di sản tinh thần quý báu của nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao. Cho nên, thế giới có thể đổi thay, hằng ngày luôn biến động, song trên các phương tiện truyền thông, các nhà xuất bản, các hiệu sách, triển lãm, các rạp chiếu phim, nhà hát… ở khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài, những ấn phẩm, tác phẩm, bộ phim, kịch, những câu chuyện kể, những công trình nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học, học giả, các chính khách trong nước và quốc tế… về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các trước tác của Người vẫn xuất hiện như một phần không thể thiếu trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của người Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người “cao mà không xa”, “sáng mà không chói”, Người tỏa sáng từ cốt cách, tâm hồn, trí tuệ của một bậc đại trí, đại nhân, đại dung chứ không giống như sự suy diễn thiển cận của một vài cá nhân nào đó. Thực tế là, “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”(9). Vì thế, Người luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong hành trình đến tương lai. Và cũng vì thế, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước!

TS. Văn Thị Thanh Mai 
Ths. Trần Thị Kim Oanh

-------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83-84

(2) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, t.2, tr. 91

(3) Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của báo Bạn Chiến đấu, ngày 25/5/1948

(4) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, t.3, tr. 90

(5) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.75-76

(6) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.158-159

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.290

(8) Tuần báo Đối ngoại Chân trời, số 4, tháng 11/1969

(9) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.127

 

Theo Tạp chí tuyên giáo