Thứ Hai, 12 tháng 9, 2022
Thượng tôn pháp luật để hạn chế khiếu nại, tố cáo sai sự thật
Sự phát triển lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng
g Lý luận phương thức bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) là nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận về BVTQ Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng.
Từ khi có Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX đến trước khi có Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã xác lập đa dạng những vấn đề cụ thể về phương thức BVTQ. Đến Đại hội XIII, Đảng đã bổ sung, phát triển thêm một số vấn đề mới về phương thức BVTQ, góp phần hoàn thiện thêm lý luận và chỉ đạo nhiệm vụ BVTQ trong thời kỳ mới.
Phương thức BVTQ là tổng thế các hình thức, phương pháp, biện pháp được áp
dụng trên mọi lĩnh vực của quốc gia mà các chủ thể lãnh đạo, quản lý và tham
gia sử dụng vào sự nghiệp quốc phòng để đạt được mục tiêu BVTQ. Đó là tổng thể
những vấn đề: Kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng đất nước mạnh lên làm
phương thức bảo vệ hữu hiệu nhất; sử dụng các hình thức và biện pháp đấu tranh
vũ trang để đánh bại các hành động vũ trang xâm lược; áp dụng các hình thức,
biện pháp đấu tranh phi vũ trang để đánh bại các thủ đoạn tiến công phi vũ
trang; kết hợp đấu tranh phi vũ trang và vũ trang, tạo sức mạnh tổng hợp đánh
bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hành “tự bảo vệ”, nhất
là bảo vệ từ bên trong để đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, ngăn ngừa
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”; khai
thác và phát huy vai trò của đối ngoại vào BVTQ.
Từ khi đất nước ta hoàn
toàn thống nhất, cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây
dựng và BVTQ XHCN. Trong thời kỳ tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã áp
dụng tổng thể, có hiệu quả các phương thức BVTQ, đem lại những thành tựu quốc
phòng quan trọng, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng
giàu mạnh. Những thành tựu quan trọng đó, cùng với sự không ngừng sáng tạo bổ
sung, phát triển lý luận BVTQ và những yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp BVTQ
trước sự vận động phức tạp, khó lường, khó dự báo của tình hình thế giới đã trở
thành cơ sở, tiền đề cho Đảng ta, nhất là Đại hội XIII của Đảng phát triển, làm
sâu sắc thêm lý luận về phương thức BVTQ, góp phần chỉ đạo tiến hành sự nghiệp
quốc phòng, công cuộc giữ nước trong thời kỳ mới. Sự phát triển lý luận phương
thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng được thể hiện trên những vấn đề
chủ yếu sau:
Một là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội,
đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn
hóa, xã hội và đối ngoại [1].
Đây là sự kế thừa, bổ
sung, phát triển mới, nhằm tiến tới đồng bộ hóa, dần hoàn thiện lý luận phương
thức BVTQ của Đảng, được ghi nhận, xác lập trong Văn kiện Đại hội XIII. Nếu như
trước đây, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX mới chỉ xác định “Kết hợp chặt chẽ
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa”; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI đã bổ sung và làm rõ
thêm bốn lĩnh vực cần phải kết hợp chặt chẽ với nhau là “kinh tế”, “xã hội”,
“quốc phòng”, “an ninh”; và được Đại hội XII khẳng định lại vấn đề này,… thì
đến Đại hội XIII, Văn kiện không chỉ bổ sung thêm hai lĩnh vực cần phải kết hợp
là “văn hóa” và “đối ngoại”, mà còn kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp theo
một trật tự thống nhất, lần lượt là kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với
quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và
đối ngoại… nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức; đồng thời, quán triệt và cụ
thể hóa quan điểm chỉ đạo BVTQ đã được Đại hội XIII xác lập là: “gắn kết chặt
chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là
trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh
thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên” [2].
Cũng với sự bổ sung và
kết cấu lại các lĩnh vực phải kết hợp trên đây để BVTQ, đó còn sự bổ sung về
mục tiêu, yêu cầu đạt được của sự kết hợp. Nếu như trước đây các văn kiện, nghị
quyết của Đảng đòi hỏi sự “kết hợp chặt chẽ” và “kết hợp tốt” một cách chung
chung, thì nay Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đòi hỏi phải đạt được đến độ
là “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả”, nhằm không chỉ thực hiện quan điểm về mục tiêu
“Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước”, mà còn đáp ứng đòi hỏi phát
triển nhanh và bền vững của từng lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại,
quốc phòng, an ninh của đất nước trong thời kỳ phát triển mới đến năm 2025,
2030 và giữa thế kỷ XXI.
Sự kế thừa, bổ sung,
phát triển vấn đề kết hợp giữa các lĩnh vực cụ thể trong BVTQ của Văn kiện Đại
hội XIII đã làm cho lý luận về phương thức BVTQ không ngừng hoàn thiện; tính
chất phức hợp của sự gắn kết đồng thời giữa các lĩnh vực đòi hỏi được tăng lên,
cùng tính trọng tâm, trọng điểm xác định đối với từng lĩnh vực trong thực hiện
nhiệm vụ BVTQ ngày càng được thể hiện rõ hơn. Nhờ sự bổ sung, phát triển này mà
quán triệt, cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý tốt một trong 10 mối quan hệ lớn
mà Đại hội XIII đã xác định là “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa” đối với mọi lĩnh vực, chủ thể quốc gia trong thời kỳ phát triển mới
của đất nước.
Hai là, có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ
sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết
các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.
Đây là sự kế thừa, bổ
sung, phát triển mới một cách trực tiếp đối với một những vấn đề thuộc lý luận
về phương thức BVTQ của Đảng đã được xác lập từ Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX
đến nay, với tính mới là sự tổng hợp và đúc kết lý luận về phương thức BVTQ được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII.
Phương thức chủ động giữ
nước được Đảng liên tục quán triệt, bổ sung, phát triển trong suốt tiến trình
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đến đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh quốc tế và đất
nước nổi lên những nguy cơ đặc biệt nguy hại cho sự nghiệp cách mạng, nhất là
đối với nhiệm vụ BVTQ, Đảng đã xác lập nên quan điểm có tính chất xác định rõ
hơn một trong những hình thức, phương pháp, biện pháp BVTQ là “bảo vệ Tổ quốc
từ sớm, từ xa”, nhằm quán triệt, phát huy truyền thống “Dựng nước đi đôi với
giữ nước”, “Giữ nước từ khi nước chưa nguy” của cha ông ta trong thời kỳ mới. Vấn đề này được thể hiện
sơ lược trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX; được thể hiện rõ nét trong Nghị
quyết Trung ương 8 khóa XI, đồng thời được Đại hội XII khẳng định lại và xác
lập: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ
xa”[3]. Đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng
định lại vấn đề này. Tuy nhiên, tính mới và đặc sắc nhất của lý luận về phương
thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” ở Văn kiện Đại hội XIII là không còn chỉ
thể hiện ở việc xác nhận lại, ghi lại ở riêng phần quốc phòng, an ninh nữa.
Nghĩa là không còn xác lập và coi “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” chỉ thuộc về
phần quốc phòng, an ninh và chỉ riêng thuộc về trách nhiệm của quốc phòng, an
ninh nữa. Trái lại, nó đã được xác lập ở hầu khắp các phần khác, lĩnh vực khác
và quy định các lĩnh vực khác cũng phải thực hành phương thức này. Cụ thể:
Trong “Định hướng các
chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025”, Văn kiện
Đại hội XIII xác định: “Chủ động chuẩn bị các phương án để kịp thời thích ứng
với những biến động của tình hình” [4]. Trong 12 định hướng chiến lược phát
triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, đã có ba định hướng xác định phương châm
chủ động giữ nước như: “Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu,
phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”; “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ
chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”; “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả” [5]. Trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ, Văn kiện Đại hội XIII xác định “Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để
bảo vệ nền kinh tế” [6]. Trên lĩnh vực văn hóa, Văn kiện còn xác định: “Chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa” [7]. Trên lĩnh vực y tế, đó còn là:
“Nâng cao năng lực, chủ động phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới toàn diện
hệ thống y tế, nhất là y tế dự phòng” [8]. Với lĩnh vực quản lý đất đai, tài
nguyên, môi trường, biến đổi khí hậu, Văn kiện yêu cầu: “Chủ động, tích cực hợp
tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai
thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh
thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với
biến đổi khí hậu, đồng thời giảm thiểu các tác động bất lợi từ quá trình toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế” [9] … Như vậy, ngay từ mục tiêu đến những định
hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phương hướng, nhiệm vụ phát
triển các ngành, lĩnh vực trong thời kỳ mới, Văn kiện Đại hội XIII đã quy định
trách nhiệm cùng phải thực hiện phương thức “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của
các ngành, lĩnh vực khác.
Đặc biệt, phương châm
BVTQ từ sớm, từ xa được Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hóa bổ sung và phát triển
thêm nội dung trên bốn lĩnh vực trọng yếu sau: Với quốc phòng, an ninh, đó là: “Xác định “chủ động phòng ngừa” là
chính, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống”;
“Chủ động chuẩn bị về mọi mặt, sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”; “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược,
giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình
huống” [10]. Với đối ngoại, đó
là: “Xây dựng nền ngoại giao hiện đại, trong đó chú trọng đẩy mạnh ngoại giao quốc phòng, an ninh
để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”
[11]; “giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp
quốc tế” [12]. Với xây dựng Đảng, đó là: “Tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm
để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên”;
“Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu,
giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và
lan rộng” [13].
Rõ ràng, sự
phát triển mới của phương thức BVTQ từ sớm, từ xa không còn được xác lập riêng
cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh nữa, mà đã xác lập ở hầu khắp mọi lĩnh vực.
Tuy nhiên, sự chủ động giữ nước đó còn phải khuôn theo nguyên tắc “Nỗ lực phấn
đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các
biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”, nghĩa là không phải sự chủ
động chỉ xuất phát từ mỗi lĩnh vực theo ý muốn riêng của ngành, lĩnh vực mình,
mà phải tiến hành bằng “biện pháp hòa bình” và “phù hợp” với luật pháp quốc tế…
Đây chính là sự phát triển mới về lý luận, vừa mang tính khẳng định
lại, vừa bổ sung và tổng hợp một cách khái quát, hệ thống nhất về phương thức BVTQ, đã được thể hiện
trong Văn kiện Đại hội XIII.
Sự bổ sung, phát triển
lý luận phương thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII không chỉ trực tiếp góp
phần bổ sung, ngày càng hoàn thiện thêm lý luận BVTQ Việt Nam XHCN của Đảng
trong thời kỳ mới, mà còn góp phần vào thành công, cũng như khẳng định vị trí,
tầm quan trọng của Đại hội XIII trong lịch sử phát triển của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Giá trị thực tiễn của sự bổ sung, phát triển mới lý luận phương thức BVTQ
đã và đang góp phần định hướng, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện nhiệm
vụ BVTQ trong thời kỳ phát triển nhanh và bền vững của đất nước hiện nay. Nó
trực tiếp giúp cho các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các chủ thể của các ngành,
lĩnh vực này có nhận thức, thái độ và hành động đúng đắn đối với nhiệm vụ BVTQ
đang diễn ra trong bối cảnh đất nước và quốc tế có nhiều diễn biến hết sức phức
tạp, khó lường, khó dự báo hiện nay. Sự bổ sung, phát triển lý luận về phương
thức BVTQ trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng còn là một bước chuẩn bị hết sức
quan trọng về lý luận và thực tiễn giúp cho Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và
Nhà nước ta thực hiện Đề án tổng kết Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
---------
[1], [2], [4], [5], [6],
[7], [8], [9], [10], [11], [13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.157,
110, 114, 116-117, 135, 147, 151, 155, 156 và 159, 50, 189.
[3] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2016, tr.149.
[12] Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2021, tr.110, 154.
Đại tá, PGS.TS Nguyễn Văn Quang, Viện
KHXH&NVQS
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã
được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử,
bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.
Đồng chí Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa
xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết có kết cấu, cách tiếp cận nội dung
rất cơ bản, hệ thống và khoa học, nội dung được đề cập tới các lĩnh vực như:
Phát triển kinh tế thị trường; xây dựng nền văn hóa; thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…
Đặc biệt bài viết khẳng
định: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội”, “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực
phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài
hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn
bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Điều này đã phản ánh
đúng lý luận, thực tiễn và cả những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục giải quyết
đối với cách mạng Việt Nam.
Nội hàm bài viết đã thể
hiện rõ quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Kiên quyết, kiên trì đấu
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII.
Tuy nhiên, trong bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa đã khẳng định và luận giải
rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.
Thứ nhất, quan điểm kiên quyết, kiên trì trong bài viết là sự tiếp
nối truyền thống của cha ông ta.
Thật vậy, bài viết khẳng
định, để có được Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, “Nhân dân Việt Nam
đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ
hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ
nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước”.
Suốt chiều dài lịch sử
đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược
mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên
cường, với cách đánh mưu trí sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù
xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử, truyền thống
đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã để lại bao chiến công hiển hách.
Nếu như thế kỷ XI, dòng sông Như Nguyệt vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu
tiên, khẳng định chủ quyền “Sông núi nước Nam vua Nam ở…/Cớ sao lũ giặc sang
xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” thì thế kỷ XIII, vó ngựa giặc nguyên
Mông tràn khắp châu Á, châu Âu nhưng ba lần bị quân dân nhà Trần đánh bại. Đến
thế kỷ XVIII, Quang Trung đại phá quân Thanh để rồi “sử tri Nam Quốc Anh hùng
chi hữu chủ”. Vì vậy, Bác Hồ đã dạy “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác
cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Từ khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta
lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm
lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Quân ta
có thể ít về số lượng, vũ khí không hơn địch, có thể là một cuộc chiến tương
quan chênh lệch lực lượng, ta ít, địch nhiều, nhưng cha ông ta đã đánh bại
nhiều kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần. Có được chiến công đó chính là
sức mạnh của ý chí kiên quyết, kiên trì đánh giặc ngoại xâm với tinh thần
triệt để nhất.
Từ thực tiễn chống giặc
ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất
đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. Bước ra từ
các cuộc chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khát vọng hòa bình mãnh
liệt cho dân tộc mình, nhưng chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì tiếp nối truyền
thống cha ông để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh “tình
hình khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta”
Từ sau khi mô hình chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào
thoái trào. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các
nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá.
Sự sụp đổ chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
của chính trị thế giới kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công
nhân thế giới, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu. Các nước xã hội chủ
nghĩa còn lại đã, đang và sẽ giữ vững trận địa. Các đảng cộng sản và phong
trào công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế xã hội
chủ nghĩa sẽ tiếp tục phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác.
Tình hình thế giới diễn
biến phức tạp khó lường nhưng Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì, kiên định chủ
nghĩa Mác- Lênin, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều
thành tựu rất đáng tự hào, và “chưa bao giờ đất nước ta có được tiềm lực
và cơ đồ như ngày hôm nay”.
Thứ ba, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, trước hết là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Đây vừa là bài học vừa
là quan điểm được Đảng ta khẳng định từ Đại hội XII, cho đến nay vẫn còn nguyên
giá trị. Bài viết làm rõ thêm về tính chất kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc.
Trước hết và quan trọng là “luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư
tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của
giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để
của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã
và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện”.
Bài viết còn thể hiện
quan điểm kiên quyết, kiên trì còn là sự kiên định và vận dụng sáng tạo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ thành quả cách
mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cơ sở khoa
học của quan điểm về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Với tư cách là người đại
diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc, phải “bảo
vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ Tổ quốc của mình”. Giai cấp
công nhân từng bước giành được những thắng lợi và phải biết bảo vệ, phát huy
những thành quả, tiến tới thắng lợi cuối cùng.
“Kiên quyết, kiên trì”
thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến lược, sự nhất quán, trước sau như một, trước
mắt cũng như lâu dài, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, là bằng mọi cách
phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc.
Cụm từ “kiên quyết” thể
hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân về yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững
những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc,
với quyết tâm cao nhất. Cụm từ “kiên trì” bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ
chủ quyền, lợi ích của đất nước sẽ còn lâu dài, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân không lơi lỏng, không được mất cảnh giác, không nản lòng, phải nuôi
dưỡng ý chí quyết tâm thật cao. Phải kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh
chấp bằng biện pháp hòa bình, trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận trên cơ sở bảo
đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.
Như vậy, “kiên quyết,
kiên trì” là thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như
một của nhân dân ta, vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu
tranh. Đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh
động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch
sử mới, mà trước hết là bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, nền
tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm vững
chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Bài viết đã khái quát
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc - một trong những giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp
phần hiện thực hóa mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
là phải: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội”. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm của Tổng Bí thư thể hiện một
tầm nhìn mới, bản lĩnh mới, sức sáng tạo mới, có tính toàn diện và giá trị chỉ
đạo thực tiễn sâu sắc. Luận điểm khẳng định điều kiện tiên quyết để thực hiện
thắng lợi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được dựa trên những cơ sở
lý luận và thực tiễn vững chắc.
Đồng thời, khẳng định
tinh thần đoàn kết, trên dưới đồng lòng: “các Vua Hùng đã có công dựng nước,
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với tinh thần “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”. Quán triệt sâu sắc và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời giữa bảo
đảm vững chắc quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát triển
văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát
triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
Trong xã hội, con người
với bản sắc văn hóa giữ vị trí trung tâm. Phát triển văn hóa, xây dựng con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Phát triển giáo
dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường
là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây
dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội,
thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội xã hội chủ
nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi
ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác
hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các
cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội
thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Chúng ta luôn luôn chăm lo thúc đẩy sự bình
đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi
bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam…
Trước đây, Hội nghị Văn
hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
“Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa là, dân tộc Việt Nam muốn
giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước, nhất định phải phát triển văn hóa.
Ngày nay, bài viết tiếp nối và khẳng định, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo, phát minh ra, theo đó lẽ tất nhiên, văn hóa
xuất phát từ con người và phải đem văn hóa để giải phóng con người, trước hết
là giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và được phát triển
toàn diện. Nội dung cốt lõi trong bài viết thể hiện: Văn hóa là nền tảng cho sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Muốn có chủ
nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, phải giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa là một mặt trận, mỗi
văn nghệ sĩ là một chiến sĩ trên mặt trận ấy. Văn hóa phục vụ quần chúng nhân
dân, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “dân tộc - khoa học - đại chúng”…
Bài viết của Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị lý
luận, thực tiễn sâu sắc, tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai
thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong đời sống. Những
nội dung cơ bản của bài viết cần tiếp tục được nghiên cứu, luận giải, làm cơ sở
cho quá trình quán triệt, tổ chức thực hiện. Đường lối, quan điểm của Đảng chỉ
trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức
trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Chúng ta tin tưởng rằng,
với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo công cuộc đổi mới
đúng đắn, sáng tạo của Đảng, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh,
hùng cường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân sẽ trở
thành hiện thực./.
Thượng tá, ThS Nguyễn Đức Vinh (Khoa Khoa học xã
hội và Nhân văn- Trường Quân sự -Quân khu 7)
Không thể xuyên tạc việc học và làm theo Bác!
g Việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước.
Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"(gọi tắt là 3 Chỉ thị)… trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: “Học mãi đâu có vào”, học rồi “tại sao cứ thế mãi”, “càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái”…
DI
SẢN TINH THẦN QUÝ GIÁ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đi xa 53 năm, song tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vị lãnh tụ gần dân,
dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước không chỉ in đậm trong trái tim và khối
óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ
các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu
tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở
chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ
thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể
của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của
Đảng và dân tộc ta”(1). Tư tưởng của Người là kết quả sự kế thừa, phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa
nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội…
Thực tiễn những thành
tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ
đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm
vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của
cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại.
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị của di sản Hồ Chí Minh là không
thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn
đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh
thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết của tất cả các lực lượng chống đế quốc,
thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền
vững giữa các dân tộc “trên con đường tiến bộ - con đường hoà bình trên toàn
thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc
chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính của con người và
mọi đức tính xã hội chủ nghĩa”(2) trong thời đại
mới.
Với Hồ Chí Minh, dù là
người đang làm thuê trên tàu Amiran Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm
đường cứu nước hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người
“yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng
thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là nền độc lập của nước tôi và của tất cả
các nước trên hoàn cầu(3). Từ cuộc đời và phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân dung một người cộng sản hết
lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả mọi lời nói, điều mà Người
khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn bè, anh em, đồng chí, thậm
chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó chính là “nền đạo đức trong
sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không
thành”(4).
Cuộc đời, sự nghiệp cách
mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh,
khí phách ngoan cường, ý chí bất khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh
và thái độ ứng xử điêu luyện về chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán,
nhanh nhạy trong những tình thế gay go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng
của dân tộc Việt Nam và tất cả các dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do,
công lý và hoà bình trên toàn thế giới. Đồng thời, lòng yêu thương con người và
sự bao dung, khoan hoà của Người cũng như trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm,
tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng, trong hành động, trong từng mối quan
hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đã làm cho những người đã từng ở
bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử
trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí
Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải
phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã
mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan
nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(5).
HỌC
VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì
rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất
gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”(6). Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng
Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ
chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan,
đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng,
đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và
phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thông qua việc học tập
và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp
công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự
sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo
đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh
thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh
thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong
đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị
nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc
thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi
cán bộ, đảng viên và người dân.
Việc học và làm theo Bác
theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều
là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung
ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ
thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI
"Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của
Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh" gắn với Nghị
quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận
thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh
đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và
sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc
tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải
pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị
này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là
một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.
Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được thì đâu đó cũng vẫn còn những địa phương, cơ quan, đơn
vị triển khai việc học và làm theo Bác một cách chung chung, hình thức. Cũng
vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, thiếu
tính tiền phong, gương mẫu, quan liêu trong công tác, hách dịch, thậm chí xa
rời quần chúng. Bên cạnh đó, có người còn vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng và
vi phạm pháp luật như tham ô, tham nhũng hoặc rời xa lý tưởng cách mạng, cổ xúy
cho đa nguyên, đa đảng… dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Việc
những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải dính vòng lao lý cũng
là có thật. Và các vụ án tham nhũng những năm gần đây; những cán bộ, đảng viên
bị đưa ra khỏi Đảng, chịu án tù… đã bị các đối tượng cơ hội, phản động, đã bị
các thế lực thù địch lợi dụng “sự kiện đó” để chống phá Đảng và chế độ cũng là
có thật.
Việc mượn những sự kiện
liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ
cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị
nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa
bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy
chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào
lò” của các thế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một
chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng
trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ
thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư
tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn
góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn
Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.
Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết qủa này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương…
TRỞ
THÀNH NHU CẦU TỰ THÂN CỦA MỖI CẤP ỦY, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Gần hai năm qua, để đưa
Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, Đảng ta đã tiếp tục đẩy mạnh học và làm
theo Bác gắn với công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Kết luận số
01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số
05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021
của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn
biến", "tự chuyển hóa" đã được ban hành.
Trên tinh thần, “Đảng
không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết
điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(7), việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với Kết luận số 21-KL/TW
trong mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên cũng đã cho thấy những kết quả tích
cực. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo Bác đã trở thành công việc thường
xuyên của toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần làm cho ý thức tự giác rèn
luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
người đứng đầu được tăng cường. Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng
viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không chỉ góp phần tạo
chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi tập thể, cá nhân, mà
còn làm cho sự đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức được tăng cường. Đồng
thời, cũng làm cho ý thức, trách nhiệm và sự trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối
sống của mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi
tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cho nên, không thể xuyên tạc vô
căn cứ, cũng như không thể quy chụp như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen
rằng: Việc học và làm theo Bác “cũng chỉ làm cho xong để báo cáo”; là học nhưng
đâu vẫn hoàn đấy như “ngựa vẫn quen đường cũ”; học và làm theo Bác đã bao năm
rồi mà “vẫn trơ ra”…
Cuối cùng, phải khẳng
định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc
và bôi đen sự thật; dù các thủ đoạn bẻ cong, vu khống, bôi nhọ đã và đang được
áp dụng, song Hồ Chí Minh - “tên Người phản ánh một cuộc đời đặc biệt rất hiếm
có trong các vị lãnh đạo Nhà nước và trong các nhà chính trị của thời đại chúng
ta. Con đường Người đã đi qua đánh dấu bằng cuộc đấu tranh gian khổ, bằng những
khó khăn lớn lao nhưng đồng thời cũng đánh dấu bằng những thắng lợi chính trị
độc đáo phản ánh lịch sử của dân tộc Người trong khoảng 50 năm vừa qua”(8) vẫn đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên
hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cuộc đời, sự nghiệp, tư
tưởng, đạo đức, phong cách của Người; các trước tác của Người, liên quan đến
Người… là di sản tinh thần quý báu của nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao.
Cho nên, thế giới có thể đổi thay, hằng ngày luôn biến động, song trên các
phương tiện truyền thông, các nhà xuất bản, các hiệu sách, triển lãm, các rạp
chiếu phim, nhà hát… ở khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài, những ấn
phẩm, tác phẩm, bộ phim, kịch, những câu chuyện kể, những công trình nghiên cứu
chuyên sâu của các nhà khoa học, học giả, các chính khách trong nước và quốc
tế… về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các trước tác của Người vẫn xuất hiện như
một phần không thể thiếu trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của người
Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là
Người “cao mà không xa”, “sáng mà không chói”, Người tỏa sáng từ cốt cách, tâm
hồn, trí tuệ của một bậc đại trí, đại nhân, đại dung chứ không giống như sự suy
diễn thiển cận của một vài cá nhân nào đó. Thực tế là, “nhà cách mạng vĩ đại Hồ
Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng
ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một
con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó,
Người là nhân vật sáng tạo quyết định”(9). Vì thế, Người luôn
đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong hành trình đến tương
lai. Và cũng vì thế, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình
thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân,
nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương,
cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước!
TS.
Văn Thị Thanh Mai
Ths. Trần Thị Kim Oanh
-------------
(1) Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83-84
(2) Thế giới ca ngợi và
thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, t.2, tr. 91
(3) Hồ Chí Minh trả lời
phỏng vấn của báo Bạn Chiến đấu, ngày 25/5/1948
(4) Thế giới ca ngợi và thương
tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1971, t.3, tr. 90
(5) Hội thảo quốc tế về
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.75-76
(6) Hội thảo quốc tế về
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.158-159
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011,
t.5, tr.290
(8) Tuần báo Đối ngoại
Chân trời, số 4, tháng 11/1969
(9) Hội thảo quốc tế về
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.127
Theo Tạp
chí tuyên giáo