Thứ Ba, 13 tháng 9, 2022

 Nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận chính trị theo yêu cầu của Đại hội XIII

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG BỐI CẢNH MỚI

Khoa học lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị. Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị là lĩnh vực có vai trò rất quan trọng, làm cơ sở lý luận, khoa học cho công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.

Quy định số 285-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về Dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị trong các cơ quan đảng, nhà nước” đã chỉ rõNghiên cứu lý luận chính trị là hoạt động nghiên cứu nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước/ Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị không chỉ là “khẳng định”, “thuyết minh” đường lối, chủ trương đã có; mà còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phát hiện cái mới, dự báo cái mới, luận chứng cơ sở lý luận - thực tiễn cho đổi mới đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách phát triển. Chính vì vây, nghiên cứu lý luận chính trị một mặt phải đảm bảo nguyên tắc và trách nhiệm chính trị cao nhất là phục vụ cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, lợi ích phát triển của đất nước, đồng thời phải có tinh thần dũng cảm cách mạng - khoa học, có không gian tự do sáng tạo trong nghiên cứu, đề xuất được những nhận thức lý luận mới phù hợp đòi hỏi của thực tiễn, vượt qua những nhận thức, quan điểm, luận điểm hiện hành đã không còn phù hợp. Điều đó cũng có nghĩa là trong nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận luôn chứa đựng bản chất cốt lõi tư duy biện chứng, sáng tạo, dựa trên bằng chứng.

Mặc dù công tác nghiên cứu khoa học lý luận chính trị ở Việt Nam đã có những bước tiến, đạt được những kết quả quan trọng; nhưng nhìn chung, công tác nghiên cứu lý luận chính trị “còn nhiều hạn chế, khuyết điểm”; “còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn”. Kết quả thực hiện nhiệm vụ cung cấp luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, quan điểm của Đảng còn hạn chế, nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra chưa được làm rõ…Thiếu gắn bó mật thiết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn…”. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu, một số vấn đề mới, khó, phức tạp chưa được làm sáng tỏ(1).

Bối cảnh quốc tế và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước trong thời kỳ mới đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy phát triển trên cơ sở phát huy tiềm năng, vị thế, điều kiện thực tiễn của chúng ta, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, thời đại”. Do vậy, không thể để kéo dài tình trạng còn lạc hậu của lý luận so với sự vận động và đòi hỏi của thực tiễn”, “Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễnphải có tầm nhìn vượt trước, “phải tạo được những bước đột phá về lý luận phát triển, khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm phục vụ cho việc hoàn thiện thể chế, xây dựng đường lối, chủ trương, định hướng, chính sách phát triển; khơi dậy khát vọng và phát huy ý chí, quyết tâm vươn lên của cả dân tộc; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đặc biệt, trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, vai trò của công tác lý luận được nhấn mạnh và định hướng rất cụ thể gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trực tiếp là xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, lý luận, với yêu cầu cao: Nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(2)Do đó, nghiên cứu khoa học lý luận chính trị trong bối cảnh mới hiện nay phải mang tính hệ thống, tính tổng hợp rất cao (sự tích hợp của nhiều khoa học, lý thuyết, phương pháp, cách tiếp cận…), vừa đáp ứng những yêu cầu trước mắt vừa đáp ứng những yêu cầu dài hạn; đồng thời đỏi hỏi phải có tính định hướng - dự báo cao, tính thích ứng nhanh.

Công tác nghiên cứu lý luận sẽ được tiến hành trong bối cảnh mới, với những yêu cầu mới, rất cao. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những phát triển đột biến về công nghệ làm thay đổi sâu sắc phương pháp tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn. Cuộc sống luôn thay đổi, luôn xuất hiện những hiện tượng, những xu hướng, những yêu cầu mới, đòi hỏi lý luận phải bám sát, cập nhật, khái quát hóa, phong phú hóa để có sức định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn. Vì vậy, nghiên cứu phát triển khoa học lý luận chính trị ở Việt Nam phải có sứ mệnh nhận diện, phân tích kịp thời, chính xác, toàn diện thực tiễn phát triển của đất nước; nắm bắt được nhu cầu khách quan và dự báo xu hướng vận động của thực tiễn; khái quát khoa học sự vận động có tính quy luật; trên cơ sở đó, đề xuất những định hướng phù hợp, có tính khả thi để giải quyết hiệu quả các nhu cầu của thực tiễn. Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị phải có nhiệm vụ mở đường cho những nhận thức, tư duy lý luận mới, cách làm mới. Trên cơ sở đó xác lập một hệ thống tri thức mới vững chắc, khoa học, xứng tầm bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng, tư duy lý luận của Đảng trong điều kiện mới.

VAI TRÒ CỦA TRI THỨC XÃ HỘI HỌC TRONG NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Xã hội học là khoa học có đối tượng nghiên cứu là các quá trình của hiện tượng xã hội, trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính cũng như áp dụng các lý thuyết để giải thích một cách hệ thống và khách quan về quy luật hình thành, vận động, biến đổi xã hội; về các mối quan hệ giữa con người và xã hội, các vấn đề xã hội với tính chất là những sự kiện xã hội... Xã hội học là khoa học làm việc với con người trong các mối quan hệ và bối cảnh xã hội cụ thể. Khoa học xã hội học có sứ mệnh tìm kiếm giải pháp nhằm giải quyết những bất cập, hạn chế của các khoa học xã hội trong giải thích các hiện tượng xã hội, và đề xuất các giải pháp xây dựng chính sách can thiệp thực tiễn. Do vậy, xã hội học là khoa học đặc biệt quan tâm, nhấn mạnh đồng thời cả hai chức năng: nhận thức và cải tạo thực tiễn. Trong khuôn khổ phân tích, có thể làm rõ hơn một số gợi mở hướng đến góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu và phát triển khoa học học lý luận chính trị trên một số chiều cạnh như sau:

Một là, để góp phần thúc đẩy nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận chính trị ở Việt Nam theo yêu cầu của Đại hội Đảng lần thứ XIII, cần phải kiên định việc xuất phát điểm từ phương pháp luận xã hội học Mác-Lênin. Đặc trưng nổi bật nhất của xã hội học Mác-Lênin là sự đóng góp lý luận và thực tiễn của Lênin đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận xã hội học duy vật biện chứng của Mác-Ăngghen vào lý luận và thực tiễn cách mạng tháng Mười Nga vào năm 1917. Trong các tác phẩm của mình, Lênin đã phê phán mọi biểu hiện của xã hội học duy tâm, xã hội học chủ quan, siêu hình của một số tác giả trên thế giới và bảo vệ xã hội học khoa học của Mác. Lênin khẳng định Mác là nhà xã hội học vĩ đại trên thế giới, vì ông đã có công làm cho xã hội học trở thành một khoa học nghiên cứu một cách duy vật biện chứng về sự vận động, biến đổi của hình thái kinh tế-xã hội. Đồng thời, Lênin đã phát triển sáng tạo xã hội học Mác-Lênin vào hoàn cảnh cách mạng nước Nga nửa đầu thế kỷ XX về cả mặt lý luận và thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Hai là, cần thúc đẩy sự vận dụng một cách sáng tạo hiệu quả sức mạnh các đặc trưng của khoa học xã hội học trong hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận chính trị. Đặc trưng của khoa học xã hội học là sự chỉnh thể bởi các yếu tố: (1) Tính khách quan, lôgíc đặt trong bối cảnh xã hội; (2) Tính thực chứng, có độ tin cậy cao khi đưa ra các kết luận nghiên cứu; (3) Tính duy vật biện chứng trong nhận định, đánh giá; (4) Tính lý giải thấu hiểu dựa trên các bối cảnh văn hóa để giải thích, tìm kiếm sự hiểu biết về bản chất của các hiện tượng xã hội; (5) Các phương pháp nghiên cứu hiện đại, liên ngành: quan sát tham dự; quan sát không tham dự; phiếu anket; phiếu phát vấn; thảo luận nhóm tập trung; phỏng vấn sâu; phân tích nội dung tài liệu; phân tích số liệu thống kê; nghiên cứu trường hợp...; (6) Khoa học đề cao tính chỉnh thể, hệ thống, toàn diện, thực chứng về hiện tượng, sự kiện, quá trình xã hội; (7) Giá trị cốt lõi của xã hội học là sự chính trực khoa học.

Ba là, việc phát huy vai trò của xã hội học trong nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận chính trị không thể không nhấn mạnh vai trò, sức mạnh tư duy của khoa học xã hội học. Tư duy của khoa học xã hội học có đặc điểm cốt lõi là luôn coi trọng việc đồng thời các góc cạnh tích cực và hạn chế của đời sống xã hội, lịch đại và đồng đại, hiện trạng và tương lai. Tiếp cận tư duy xã hội học có thể nhận thấy, bên cạnh mặt tích cực, tư duy xã hội học sẽ luôn nhấn mạnh, quan tâm đến những hệ quả xã hội, những dự báo xu hướng và đề xuất giải pháp kiểm soát, hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Do đó, từ góc nhìn xã hội học, chúng ta phải có nhận thức đầy đủ, kịp thời để có hành động, giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu những hệ quả xã hội không mong muốn do chính quá trình đổi mới và phát triển đất nước mang lại. Xã hội học là một ngành khoa học mà đặc trưng của nó là khả năng tiếp cận thực tiễn để thường xuyên đổi mới về tư duy, hoàn thiện sáng tạo lý luận khoa học, giải quyết thành công các vấn đề mà thực tiễn yêu cầu. Trên cơ sở đó góp phần làm rõ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư tưởng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó có thể khẳng định, để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học lý luận chính trị cần phải thường xuyên đổi mới tư duy gắn với sự vận động ngày càng đa chiều và phức tạp của thực tiễn xã hội.

Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Bốn là, xã hội học là khoa học rất quan tâm đến việc phát triển lý thuyết và vận dụng lý thuyết để giải thích các hiện tượng của đời sống xã hội. Không những vậy, sức mạnh của tư duy xã hội học chính là khả năng kết nối với những trào lưu tư tưởng, học thuyết, lý thuyết mới, tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại. Xã hội học hình thành và phát triển một hệ thống các lý thuyết để giải thích một cách khoa học và bản chất những hiện tượng xã hội, trong đó có các lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa tính chủ động và tích cực của con người với tính quy định chặt chẽ của cấu trúc xã hội. Song, con người có vai trò tích cực chủ động nhất định, họ tạo ra xã hội, và xã hội là do con người thiết kế nên, nhưng đồng thời họ cũng chịu sự ràng buộc của xã hội. Do đó, điều này có thể gợi ý việc nghiên cứu, phát triển và vận dụng khoa học lý luận chính trị phải thẩm thấu quyền lực xã hội - tức tính chủ động, tự nguyện, tự giác, ý chí, nguyện vọng, giá trị và lợi ích của từng nhóm, giai tầng xã hội.

Năm là, khoa học xã hội học nhấn mạnh hướng tiếp cận thiết chế xã hội để giải thích, can thiệp và quản lý các hiện tượng xã hội nảy sinh trong quá trình hiện đại hóa và phát triển của xã hội. Thiết chế xã hội chính là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực xã hội có chức năng khuyến khích và kiểm soát, giám sát, điều tiết và điều chỉnh các hành vi, quan hệ xã hội đối với các chủ thể xã hội có liên quan nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Từ hướng tiếp cận thiết chế xã hội có thể gợi ý rằng, những kết quả hay bất cập, thuận lợi hay khó khăn, lực hút hay lực đẩy; đề xuất giải pháp…trong các nghiên cứu khoa học lý luận chính trị cần được tiếp cận và phân tích một cách tổng thể, đồng bộ từ chính các thiết chế xã hội có liên quan, với sự lượng hóa các mức độ, xu hướng, tính chất tác động cụ thể.

Sáu là, xã hội học có thế mạnh là sử dụng kết hợp đồng thời cả hai phương pháp nghiên cứu: định lượng và định tính dựa trên bằng chứng và độ tin cậy cao. Khoa học xã hội học nhấn mạnh tính khách quan, trung tính trong việc đưa ra các nhận định luận điểm. Để đạt mục tiêu chất lượng và hiệu quả trong nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học lý luận chính trị việc cung cấp các luận chứng xác đáng dựa trên nền tảng của việc kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Điều này bắt nguồn từ “sức mạnh kép” của xã hội học. Khoa học xã hội học vừa có đặc điểm của khoa học tự nhiên, tức là giải thích nguyên nhân, điều kiện và hệ quả của hành động xã hội, vừa có đặc điểm của khoa học xã hội-nhân văn, tức là lý giải mục đích, nhu cầu, động cơ, ý nghĩa của hành động xã hội. Do đó, từ vấn đề này có thể gợi ý rằng trong nghiên cứu phát triển lý luận chính trị cần phải quan tâm vận dụng đồng thời và phù hợp các phương pháp nghiên cứu xã hội học. Đó là xây dựng bộ chỉ báo, tiêu chí định lượng và định tính để đo lường, lượng hóa nhằm đảm bảo sự khách quan, trung tính, độ tin cậy và phù hợp của các kết quả, sản phẩm của các công trình, đề tài khoa học lý luận chính trị cụ thể.

 Bảy là, xã hội học có nguồn gốc hình thành và phát triển từ góc độ tiếp cận đa- liên- xuyên- ngành. Từ vấn đề này có thể gợ ý rằng, nghiên cứu phát triển lý luận chính trị cần dựa trên nền tảng khoa học đa- liên- xuyên ngành và bám sát điều kiện, nhu cầu và mục tiêu đổi mới, phát triển của đất nước. Tức là tiếp cận theo các lĩnh vực: khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Tiếp cận đa - liên - xuyên ngành khoa học trong nghiên cứu khoa học lý luận chính trị đòi hỏi phải đẩy mạnh việc thiết lập tư duy mới, cách làm mới và mục tiêu thích hợp trong bối cảnh mới. Do đó, chỉ có thể mở rộng tối đa biên độ kết nối sự hiểu biết của các khoa học: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật- công nghệ, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học lý luận chính trị để nghiên cứu khoa học, hoạch định và thực hiện chính sách nhằm không ngừng đổi mới và phát triển đất nước theo hướng nhanh, hài hòa, bền vững.

Tám là, trong nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận chính trị cần quan tâm hơn đến tư duy tiếp cận hệ thống và phương pháp phân tích cấu trúc xã hội. Tư duy hệ thống và phân tích cấu trúc xã hội là phân tích nhóm xã hội, xác định vị trí, vai trò, vị thế, thái độ chính trị - xã hội của các nhóm xã hội, tìm ra vấn đề xã hội phải giải quyết. Trong khoa học xã hội học, nhóm với ý nghĩa là một thành tố cơ bản tạo nên cấu trúc xã hội; là đơn vị tiếp cận, phân tích cơ bản theo nghĩa là một tập hợp người, trong đó các cá nhân có mối liên hệ tương giao lẫn nhau và tồn tại một kiểu cấu trúc nào đó để xác định danh vị chung. Vì vậy, trong nghiên cứu và vận dụng khoa học lý luận chính trị cần quan tâm đến đến “tương quan nhóm” trong phân tích, đánh giá và vận dụng khoa học lý luận chính trị. Bởi vì  khoa học xã hội học có khả năng nắm bắt kịp thời, chính xác cũng như tạo ra cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc tham vấn, đề xuất chính sách nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra của từng nhóm xã hội. Trên cơ sở tiếp cận nhóm trong nghiên cứu xã hội học nắm bắt được chính xác, kịp thời diễn biến tư tưởng, nhu cầu, mong muốn, năng lực và điều kiện chính trị, văn hóa - xã hội của mỗi người dân, mỗi nhóm và giai tầng xã hội. Từ đó có những biện pháp phù hợp như: tuyên truyền vận động hay thuyết phục họ thực hiện tốt các chủ trương chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước song hành với việc giải quyết kịp thời, đúng đắn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhóm và các giai tầng xã hội.

Chín là, sử dụng phương pháp quan sát khoa học để phát hiện những kịp thời, phân tích chính xác những vấn đề nãy sinh trong thực tiễn mà khoa học lý luận chính trị cần phải quan tâm nghiên cứu. Theo quan niệm của  A.Comte, có thể coi nhà triết học là “chuyên gia khai quát” các ý tưởng, còn nhà xã hội học là “chuyên gia quan sát” đời sống xã hội. Một trong những sức mạnh của xã hội học chính là phương pháp quan sát theo tinh thần thực chứng luận. Trong đó quan trọng nhất là quy tắc “quan sát bằng lý thuyết”, quan sát bằng con mắt lý luận khoa học, tức là: quan sát phải gắn với lý luận, quan sát phải được soi rọi bởi lý thuyết, quan sát phải có mục đích, quan sát phải tuân theo quy luật của hiện tượng được nghiên cứu. Nếu làm trái các quy tắc này, quan sát sẽ trở nên mò mẫm, mù quáng, phi khoa học. Do đó, điều này đòi hỏi cần phải tích cường việc vận dụng phương pháp quan sát xã hội học để làm tăng giá trị khoa học, tăng sức thuyết phục và sự lan tỏa sức thuyết phục của các luận điểm, luận cứ khoa học lý luận chính trị trong đời sống xã hội.

Là một khoa học ra đời muộn trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản giữa thế kỷ XIX và phục vụ cho mục tiêu của chủ nghĩa tư bản. Xã hội học được giai cấp tư sản kỳ vọng là có sứ mệnh là tìm kiếm những giải pháp giải quyết sự bất cập, hạn chế của các khoa học xã hội trong giải thích các hiện tượng xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ. Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản cho thấy có sự thường điều chỉnh để vượt qua  những khuyết tật của chính nó, một trong những giải pháp đó là họ sử dụng triệt để sức mạnh của khoa học xã hội học.

Ngày nay trong bối cảnh Việt Nam, việc nghiên cứu khoa học xã hội học ở Việt Nam một trong những mục tiêu cần hướng đến chính là góp phần thúc đẩy nghiên cứu phát triển và vận dụng lý luận chính trị. Và đương nhiên, trong nghiên cứu xã hội học cần phải xem lý luận chính trị  chính là một phương pháp luận quan trọng để phát huy vai trò sức mạnh của khoa học xã hội học đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Thiết tưởng để mục tiêu đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, phát triển và vận dụng khoa học lý luận chính trị ở Việt Nam, một trong những yêu cầu đặt ra và cần phải thực hiện sáng tạo, hiệu quả là tăng cường và phát huy vai trò của khoa học xã hội học trong các chủ đề/đề tài nghiên cứu khoa học lý luận chính trị cụ thể.

Khoa học lý luận chính trị tự nó không thể đi vào cuộc sống, không thể cải biến thực tiễn nếu không được thẩm thấu vào đường lối chính trị của đảng cầm quyền, vào hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước. Do vậy, từ góc độ tiếp cận xã hội học như đã phân tích, cũng như yêu cầu lý luận và thực tiễn đặt ra cần phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách cụ thể nhằm tạo sự kết nối, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa hệ thống các khoa học: khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội nhân văn (trong đó có khoa học xã hội học), khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ; giữa các cơ quan nghiên cứu, đào tạo lý luận chính trị; giữa cơ quan nghiên cứu lý luận với cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách và với cơ quan lãnh đạo, quản lý; giữa đội ngũ cán bộ tham vấn lý luận với cán bộ hoạt động thực tiễn, cán bộ hoạch định đường lối, chính sách...nhằm góp phần bảo đảm cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong bối cảnh mới./.

 Nguồn: TS. Đỗ Văn Quân

TS. Đặng Thị Minh Lý

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Bắt giữ đối tượng tuyên truyền chống phá Nhà nước

 

Bắt giữ đối tượng tuyên truyền chống phá Nhà nước

           (NLĐO) - Mặc dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở, nhưng Đặng Đăng Phước vẫn tiếp tục hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước ngày càng cực đoan hơn.

          Ngày 8-9, tin từ Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh này đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với Đặng Đăng Phước (SN 1963, ngụ phường Tân Lợi, TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) để điều tra về hành vi "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam".

Đối tượng Đặng Đăng Phước. Ảnh: Cơ quan An ninh điều tra


          Theo tài liệu điều tra, từ năm 2019 đến nay, Đặng Đăng Phước đã lợi dụng mạng xã hội Facebook thường xuyên biên soạn, đăng tải nhiều bài viết, clip có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

          Mặc dù, đã được các cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở và yêu cầu đối tượng Đặng Đăng Phước chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật nhưng đối tượng này không những không chấp hành mà vẫn tiếp tục hoạt động ngày càng quyết liệt, cực đoan hơn.

          Hiện Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đang tiếp tục điều tra để xử lý đối tượng theo quy định của pháp luật.

          Nguồn: Báo Người lao động


ĐÂU PHẢI MỘT ĐẢNG "ĐẺ RA" THAM NHŨNG

 Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam có những bước tiến quan trọng, rất đáng ghi nhận. Thế nhưng, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, các thế lực thù địch vẫn ra sức phủ nhận thành quả PCTN của Đảng và dân tộc Việt Nam. Chúng quy chụp rằng: Tham nhũng ở Việt Nam là hệ quả của việc Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và việc PCTN thực chất chỉ là một cuộc thanh trừng nội bộ. Đây là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
1. Mới đây, RFA đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: Thay đổi thể chế”. Bài viết có nhiều nội dung lật lọng, đả kích, cho rằng: Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không? Trên cơ sở đó, tác giả bài viết hồ đồ “hiến kế”, cho rằng ở Việt Nam muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi hoàn toàn cơ chế hiện tại.
Với ý đồ tương tự, một số bài viết đăng trên báo mạng nước ngoài đặt điều cho rằng, ở Việt Nam nên có sự cạnh tranh lãnh đạo giữa các đảng phái mới có thể phát hiện ra những “ung nhọt” hạn chế, yếu kém của nhau; qua đó mới giúp công tác PCTN chuyển biến thực chất. Cùng với đó, chúng còn vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị, rồi giả danh những người yêu nước để hiến kế “một cách nghĩa hiệp”…
Các bài viết trên cũng tập trung phủ nhận kết quả đấu tranh PCTN, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Chúng rêu rao, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang ra sức phát động PCTN, tiêu cực nhưng đều không thành công, thậm chí, vấn nạn này ngày càng gia tăng rộng khắp. Bởi “bới” chỗ nào cũng ra tham nhũng, sờ đến đâu thì kỷ luật cán bộ đến đấy. Viện dẫn bằng chứng cho những suy diễn đó, chúng chắp vá một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, rồi quy chụp hiện tượng thành bản chất, quy chụp những sự vụ đơn lẻ thành lỗi hệ thống.
Những lập luận, suy diễn trên hoàn toàn thiếu cơ sở; với mưu đồ gây nhiễu loạn thông tin dư luận, gây bất lợi cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở Việt Nam. Bởi vì, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Có nghĩa, ở bất cứ nơi nào có quyền lực và quyền lực chính trị mà bị tha hóa, lạm dụng thì nơi ấy sinh ra tham nhũng. Nói đến nhà nước là nói đến quyền lực-một quyền lực to lớn và sự lạm quyền, lộng quyền, quyền lực có nguy cơ bị “tha hóa” là điều dễ xảy ra; tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, có nhà nước là có tham nhũng, có chăng chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng.
2. Lịch sử nhân loại cho thấy, chế độ một đảng lãnh đạo hoàn toàn không phải là “cha đẻ” của tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong giới cầm quyền. Mà thực chất, tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới; trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Không ít quốc gia theo chế độ đa đảng, tình trạng tham nhũng diễn ra trong hệ thống công quyền đã trở thành mối nguy hại lớn, thậm chí đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia. Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đã công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm (dựa trên dữ liệu từ 13 nguồn bên ngoài, bao gồm Ngân hàng Thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới, rủi ro tư nhân, các công ty tư vấn và các tổ chức khác). Đây là chỉ số toàn cầu hàng đầu về tham nhũng trong khu vực công, cung cấp một cái nhìn tổng thể hằng năm về mức độ tham nhũng tương đối ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều đó cho thấy, tham nhũng là vấn nạn chung của mọi quốc gia, chứ không thuộc bất cứ đất nước, hay bộ máy chính quyền nào.
Để PCTN hiệu quả, các quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những chiến lược dài hạn với thái độ và phương thức tiến hành rất quyết liệt, mạnh mẽ. Ví như, Trung Quốc ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chính trong cán bộ đảng và nhà nước. Luật Chống tham nhũng (năm 1989) của Singapore cho phép tòa án tịch thu tài sản của công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc tài sản đó. Thái Lan yêu cầu các cơ quan chức năng phải xem xét tất cả đơn thư tố giác của người dân về tham nhũng, dù có ký tên hay không ký tên. Một số nước như Brazil, Colombia, Singapore… thiết lập các đường dây nóng để thu nhận tin tức về tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng. Thực tế đó cho thấy, dù là quốc gia nào, chế độ nào, thời kỳ nào cũng đều sinh ra tham nhũng và vấn nạn này hoàn toàn không phải là “con đẻ” của chế độ một đảng lãnh đạo.
Do đó, việc một số cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế và hòng hiện thực những thủ đoạn chính trị thâm độc, xấu xa. Trước hết, chúng hướng đến việc tạo nên sự hoài nghi, hoang mang, dao động, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng và toàn xã hội; mà trực tiếp, trước hết là sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc PCTN, tiêu cực.
3. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, cùng với quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước dựa trên pháp trị, các triều đại phong kiến Việt Nam rất quan tâm đến việc PCTN. Hơn một nghìn năm trước, Triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đến Triều Lê Sơ, Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có hơn 40 điều liên quan đến việc PCTN. Các triều đại kế tiếp, việc chống tham nhũng được coi trọng; quan tâm ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng… Đặc biệt, trong lịch sử dân tộc Việt Nam còn lưu truyền một lễ hội quan trọng thường được tổ chức dịp đầu năm-Lễ hội “Thề không tham nhũng”.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”; một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta kiên định, phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.
Đặc biệt, thời gian qua, công tác PCTN, tiêu cực được Đảng, Nhà nước tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội. Kết quả đánh giá tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác PCTN, tiêu cực (giai đoạn 2012-2022) được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30-6-2022, cho thấy: Chỉ trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng… Đây thực sự là những con số biết nói và là minh chứng sinh động nhất cho việc Đảng Cộng sản Việt Nam không khoan nhượng với “giặc nội xâm” và trong chế độ một đảng lãnh đạo, tham nhũng luôn bị đấu tranh loại bỏ đến tận cùng. Quyết tâm PCTN trong thời gian tới, cũng được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần bày tỏ, khẳng định: “Phải tiếp tục đẩy mạnh PCTN, quyết liệt, thường xuyên, liên tục, với quyết tâm cao hơn, mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn”.
4. Kết quả PCTN giúp Việt Nam không ngừng ổn định, phát triển, tạo thế và lực của đất nước trên trường quốc tế. Đặc biệt, từ kết quả PCTN, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa được nâng lên. Tuy nhiên, PCTN là cuộc chiến phức tạp, còn kéo dài với nhiều gian khổ, hiểm nguy nên tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm; đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì, chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng phải nêu cao tinh thần, dũng khí đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, quyết liệt chống chủ nghĩa cá nhân, xem đó là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để PCTN như Bác Hồ từng căn dặn. Có như vậy thì Đảng mới từng bước trưởng thành, tiến bộ, hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà dân tộc giao phó. Đó cũng chính là cách mà mỗi tổ chức, cá nhân góp phần đấu tranh đẩy lùi, tẩy trừ, thủ tiêu mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.

Tri ân quân tình nguyện Việt Nam cứu giúp Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng

 Sau 2 tháng thi công, công trình nhà thờ và lưu giữ hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia đã được khánh thành tại tỉnh Battambang, phía Tây Bắc Campuchia.

Vừa qua 12/9, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin sẽ có chuyến thăm đến Việt Nam.
Khánh thành nhà tưởng niệm liệt sĩ Việt Nam ở Campuchia
Ngày 10/9, Nhà thờ và lưu giữ hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia đã được khánh thành tại tỉnh Battambang, phía Tây Bắc Campuchia.
Dự sự kiện có Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Vương quốc Campuchia Nguyễn Huy Tăng; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại các tỉnh Battambang, Preah Sihanouk; Đại diện Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Campuchia; đội tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt liệt sĩ (K73) và đại diện các đơn vị tài trợ.
Về phía Campuchia có sự tham dự của Đại tướng EK Som Oun - Phó Tư lệnh Lục quân Hoàng gia, Tư lệnh Quân khu 5 và đại diện lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang địa phương.
Công trình nhà thờ và lưu giữ hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại tỉnh Battambang được khánh thành chỉ sau 2 tháng thi công. Công trình có tổng diện tích 600m2, gồm nhà lưu giữ hài cốt liệt sĩ và khuôn viên trồng hoa, cây cảnh.
Công trình do Công ty Viettel Campuchia (Metfone) và Ngân hàng MB tại Campuchia tài trợ xây dựng.
Tại buổi lễ, các đại biểu đã cắt băng khánh thành và dâng hương tưởng nhớ các liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh xương máu, tuổi thanh xuân để giúp đỡ đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, vun đắp tình đoàn kết, mốt quan hệ tốt đẹp Việt Nam-Campuchia.
Tại lễ khánh thành, Đại sứ Nguyễn Huy Tăng đã gửi lời cảm ơn chính quyền, Quân khu 5, Quân đội Hoàng gia Campuchia và nhân dân Campuchia đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để có nơi lưu giữ, thờ cúng khang trang dành cho các chiến sỹ quân tình nguyện Việt Nam đã hy sinh.
Đại sứ Nguyễn Huy Tăng mong muốn chính quyền Campuchia tiếp tục quan tâm, giúp đỡ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam trở về Tổ quốc.
Về phía Campuchia, lãnh đạo Quân khu 5, Quân đội Hoàng gia Campuchia đã bày tỏ sự tri ân sâu sắc đến Đảng, quân đội và nhân dân Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ Chính phủ và nhân dân Campuchia chấm dứt họa diệt chủng Pol Pot, đưa đất nước Campuchia hồi sinh trở lại.
Việc xây dựng nhà thờ và lưu giữ hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia là hoạt động thể sự tri ân của tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên Metfone, MB Campuchia và Quân đội Hoàng gia Campuchia.
Hoạt động còn mang ý nghĩa sâu sắc nhân dịp kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa 2 nước Việt Nam và Campuchia.
Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp Thủ tướng Campuchia Hun Sen - Sputnik Việt Nam, 1920, 18.06.2022
Chủ tịch Quốc hội Campuchia chuẩn bị thăm Việt Nam
Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin sẽ dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Campuchia và Phu nhân có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam từ ngày 12-14/9 tới.
Đây là hoạt động chính trị đối ngoại quan trọng giữa Quốc hội hai nước trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022, nhân kỷ niệm 55 năm Ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (24/6/1967-24/6/2022).
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Chủ tịch Quốc hội Campuchia Samdech Heng Samrin sẽ chào xã giao Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; chào xã giao Chủ tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc; hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và hội kiến Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.
Ông Nguyễn Đức Hải, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Campuchia, sẽ đến chào hỏi đoàn. Phái đoàn của Chủ tịch Quốc hội Campuchia cũng sẽ tới thăm Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel.
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có mối quan hệ truyền thống gần gũi, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.
Tình hữu nghị đặc biệt kéo dài hơn nửa thế kỷ là minh chứng sống động cho mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia.
Năm 2021, kim ngạch thương mại hai nước đạt 9,54 tỷ USD, tăng 79,1% so với năm 2020. Riêng trong 7 tháng đầu năm 2022 đạt 7,08 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hiện Việt Nam có 188 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký đạt 2,8 tỷ USD, dẫn đầu ASEAN và thuộc nhóm 5 nước có đầu tư trực tiếp lớn hàng đầu tại Campuchia.
Hai bên đang tích cực thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác quốc phòng, an ninh, biên giới, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, du lịch, giao lưu nhân dân. Đồng thời, quan hệ hợp tác giữa các tỉnh có chung biên giới cũng được coi trọng.
Trong 3 tháng đầu năm 2022, du khách Việt Nam tới Campuchia đạt 46.303 lượt người, dẫn đầu nhóm 3 các nước có khách du lịch tới Campuchia. Viện trợ của Việt Nam cho Campuchia cũng được triển khai tương đối hiệu quả.
Chủ tịch Quốc hội Campuchia Samdech Heng Samrin sinh ngày 5/5/1934, tham gia cách mạng từ năm 1959. Ông Heng Samrin hiện còn đảm nhận các chức vụ: Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), Chủ tịch Hội đồng quốc gia Mặt trận Đoàn kết và Phát triển Tổ quốc Campuchia.

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2022

ĐÂU MỚI LÀ NỮ HOÀNG?

 

Trong khi nhiều bạn trẻ Việt quay sang tiếc thương cho bà Nữ hoàng Anh vừa quy tiên hạc gá cách đây cả vạn cây số, thì ở Việt Nam có hàng trăm ngàn nữ hoàng mà chưa hề thấy các bạn tỏ lòng kính trọng, thương xót. Đó là những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người đã hi sinh máu thịt của mình cho nền hòa bình, độc lập của dân tộc.


Như tấm gương của mẹ Nguyễn Thị Thứ, người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.


Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ. Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.


Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?


Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”.


Đây, nữ hoàng của dân tộc Việt Nam là như thế. Và các mẹ xứng đáng là Nữ hoàng của nhân dân các nước thứ 3, các nước bị các nước dân tộc “thượng đẳng” áp bức, bóc lột suốt hàng trăm năm.

CÂU CHUYỆN "ĐƯA CON SÂU QUA SÔNG": DẠY CON XIN ĐỪNG NÓNG VỘI.!

 

“Làm thế nào để đưa một con sâu qua sông?” Thực tế, con sâu chỉ cần thời gian, vì theo thời gian, nó sẽ hóa bướm và tự bay qua sông… Dạy con cũng vậy, xin đừng nóng vội, hãy kiên trì và chờ đợi, sẽ đạt được hạnh phúc và thành công bền vững.


Một ngày nọ, vị thầy mới hỏi các học trò một câu hỏi rằng “Làm thế nào để đưa một con sâu qua sông?”

Có người bảo, cho nó một chiếc lá là nó có thể qua sông. Có người bảo, bỏ nó lên tay rồi đi qua thôi. Người khác lại bảo, bỏ nó vào cành cây rồi đẩy qua sông…

Vị thầy mỉm cười và ôn tồn nói:

- Tất cả các câu trả lời đều không sai, nhưng sự thật thì con sâu nó có cần điều đó không?

Trầm ngâm một lúc, vị thầy tiếp tục:

- Theo ta, câu trả lời là Không, con sâu chỉ cần thời gian thôi. Vì theo thời gian, nó sẽ hóa bướm và tự bay qua sông…


Trong cuộc sống và công việc cũng vậy. Chúng ta kỳ vọng quá nhiều trong ngắn hạn mà quên đi rằng muốn thành công trong dài hạn chúng ta cần sự tích lũy. Cuộc sống là một trò chơi của sự cân bằng giữa ngắn hạn và dài hạn.


Cha mẹ muốn con mình khỏe mạnh và lớn nhanh, nên ép con ăn nhiều trong ngắn hạn, và kết quả là con sẽ béo phì và sợ ăn trong dài hạn.


Cha mẹ muốn con mình được thành tích cao trong học tập, nên ép con học trong ngắn hạn, và kết quả là con sẽ bị chán học và tạo ra tư duy "học vẹt" thui chột Đạo đức, Trí tuệ của con trong dài hạn.


Cha mẹ thấy con chưa làm được như ý mình muốn thì vội vàng làm thay con trong ngắn hạn và kết quả là con thụ động, ích kỷ, lười biếng, thiếu ý chí trong dài hạn.


Bài học rút ra: Để đạt tới thành công rất cần sự kiên trì và bền bỉ, cân bằng giữa kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Người nóng vội thường muốn đốt cháy giai đoạn với mong muốn nhanh chóng đạt được mục tiêu mà bất chấp rủi ro. Người thông thái biết kiên trì thực hiện kế hoạch và chờ đợi để đạt được thành công bền vững. Dạy con, xin đừng nóng vội, hãy kiên trì và chờ đợi, sẽ đạt được hạnh phúc và thành công bền vững.

St

KỶ LUẬT LÀ ĐỘNG LỰC GIỮ SỨC MẠNH CỦA BỘ ĐỘI

  

Ngày 11-9-1950: Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị Bộ chỉ huy Chiến dịch Biên giới và chỉ thị: “Chưa đánh thắng thì chưa được coi là đã chuẩn bị xong... Trong quân sự phải kiên quyết và bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải là liều. Liều là dại. Dũng cảm là khôn. Kiên quyết và bạo dạn không phải là một người mà phải toàn bộ tất cả mọi người. Muốn toàn bộ kiên quyết và bạo dạn thì phải có kỷ luật... Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”.


Kỷ luật của Quân đội Nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật Quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.


Lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một Quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong sự nghiệp xây dựng Quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật Quân đội, cùng với việc chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị, tiến hành xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải là những cán bộ luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội làm tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của Quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng Quân đội Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


QĐND

Phòng chống, đấu tranh thói ba phải và thái độ “im lặng đáng sợ”

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

Xưa nay có nhiều cách nói về những người dĩ hòa vi quý. Nào là ông ba phải, gió chiều nào che chiều ấy. Nào là ông mũ ni che tai, khôn ăn người. Nặng nề hơn thì cho rằng đó là kẻ “ngậm miệng ăn tiền”. Thời hiện đại, còn có những cụm từ mới xuất hiện: “tai lành tai điếc”, “đi giữa hai hàng”...

Năm 1947, tại Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cuốn “Sửa đổi lối làm việc”. Bác gọi những kẻ khôn ăn người như thế là “bọn thứ ba”. Đó là những kẻ cơ hội, là khôn mà không ngoan, làm gì cũng nghĩ đến cái lợi riêng mình mà quên đi lợi ích chung, quyền lợi của người khác. Thời nay, "bọn thứ ba" là người ta ám chỉ những người "dĩ hòa vi quý".

Thật ra thành ngữ “dĩ hòa vi quý” khởi thủy của nó là thiện ý tốt. Nôm na rằng, lấy hòa thuận làm vui. Chịu khó nhẫn nhịn một chút, hòa là quý, nhẫn là cao. Đừng vội nổi xung lên, phỉ báng, nhiếc móc nhau, bé xé ra to, mà nên “biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự”. Đúng như cái nghĩa ngọn nguồn này thì quá hay. Thế nhưng, theo thời gian, theo những diễn biến phức tạp trong đời sống hiện đại mà dần dần cái nghĩa của thành ngữ này bị hiểu chệch, hiểu sai, lắm khi chỉ còn được hiểu theo nghĩa đó là tính cách khôn lỏi, chả bao giờ nêu chính kiến, “tránh voi chả xấu mặt nào”, tránh mất lòng người khác, nhất là mất lòng cấp trên.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Trong đó có một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị là: "Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Thực tế thấy rằng những thiếu sót, khuyết điểm này đã được gọi đúng tên, cái nọ liên quan đến cái kia, thậm chí là nơi trú ẩn, là chỗ để ngụy biện cho những điều sai trái. Vì vậy, phải đồng thời phân tích, chỉ rõ biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục nó thế nào cho hiệu quả, để hướng tới xây dựng một bầu không khí trong lành, tin cậy, chân thành, vô tư trong mỗi cơ quan, đơn vị.

"Ngậm miệng" tức là ngược lại với những anh hay phán xét, phách lối, a dua, nói năng văng mạng. Đương nhiên, cả hai thái cực này đều cần phê phán. "Ngậm miệng" mà là “một sự nhịn chín sự lành”, giữ kín chuyện nội bộ, khỏi tổn thương người khác thì hẳn là điều tốt. Cái nguy hại ở chỗ “ngậm miệng ăn tiền”, tức là đã có chủ ý xấu rồi. Ở một cơ quan nọ, mấy người bảo nhau, cái ông X lúc nào mồm cũng như rùa ăn sung, chả có chính kiến gì. Khi anh ta có ý kiến thì toàn dựa ý cấp trên, dựa ý tập thể, mong “làm rõ thêm” và “hy vọng rằng”. Còn khi cần nói rõ, vấn đề này sai chỗ nào, đúng chỗ nào, thái độ của anh, sẽ xử lý ra sao, thì anh ta sẽ “ném cát bụi tre” bằng những câu chữ mập mờ, nước đôi, đại loại như: "Cần tính toán thêm, nên hỏi lại cơ sở, vấn đề này nhạy cảm, có thể lùi đến phiên họp sau được không?". Hoặc có anh nói ráo hoảnh: “Tôi biểu quyết theo đa số”. Thế nhưng lúc giải lao thì vẫn là anh, rỉ tai người này, vỗ vai người khác: “Ông nói đi, ông nói khách quan hơn tôi. Tội cậu này đáng chém”. Hoặc: “Oan cho nó quá! Đồng chí gần nó lâu sao không nói. Sau này nó oán chúng ta”. Cái kiểu bày tỏ, vận động hành lang này đã cũ lắm, nhưng nó sống dai dẳng và biến ảo rất tinh vi. Nhất là từ khi nó được sự "phù phép" của chiếc điện thoại thông minh vốn chả có tội vạ gì.

Vì sao căn bệnh này tồn tại dai dẳng thế? Vì sao mà không ít cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao cũng mắc thói tai lành tai điếc. Thậm chí có vị chủ trì cuộc họp sắp diễn ra cũng “khó” nói sự thật, bèn nghĩ ra cách gọi điện cho cấp dưới: "Mai chú đề xuất nhé. Anh nêu 3 phương án, chú theo phương án này. Việc này là anh vì chú!". Nó khiến cho người trong cuộc trằn trọc, mất ngủ không đáng có. Nó là mảnh đất cho cái “cây” suy diễn nảy mầm, suy bụng ta ra bụng người, chủ quan và phiến diện.

Vì sao dai dẳng thế, còn là do thái độ cầu an. Nói ra lúc này thế nào đây, khen cũng chết, chê cũng chết. Đại hội đến nơi rồi, bầu bán sát gần rồi, mất phiếu có khi chỉ vì “lộ thiên cơ”, thế là đành trốn vào một cái tham luận vô thưởng vô phạt “mạnh bước trên đường phát triển”. Im lặng còn vì một thỏa thuận ngầm nào đó, lợi ích của tôi, của anh, của “nhóm tôi”, “nhóm anh”. Và người ta đã chọn im lặng.

Vì sao dai dẳng thế? Vì cái chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người, cái tôi lớn quá. Có khi là vì quá đam mê quyền lực, quá ham muốn về vật chất nên đánh mất mình. Quyền lực và danh vọng thường làm hư hỏng con người. Vụ Việt Á gần đây nhất, cái vô lương hoành hành trên nỗi đau khổ của đồng loại là một minh chứng rõ nhất. Có người rao giảng về đạo đức nhưng đã “im lặng” cho thuộc cấp, cho những đơn vị liên quan nhân danh khoa học vi phạm pháp luật.

Rất mừng là, bên cạnh những chuyện kể trên, có rất nhiều gương sáng quanh ta. Trong các cơ quan, đơn vị có rất nhiều những tấm gương sáng-tấm gương trung thực, dám nói thẳng, nói thật. Thấy đúng thì bảo vệ để khuyến khích người tốt, việc tốt, lên án những kẻ cơ hội, đố kỵ, thúc đẩy công việc hoàn thành. Thấy sai thì lên tiếng mạnh mẽ để làm rõ đúng sai, vạch trần tham nhũng, tiêu cực. Có những cán bộ quân đội, cựu chiến binh suốt mấy chục năm không chịu im lặng, kiên quyết đấu tranh vạch trần cái xấu, cái ác, mặc dù có thể nguy hiểm tới bản thân, gia đình. Như trường hợp cựu chiến binh Trần Văn Bính (sinh năm 1946), 20 năm kiên trì đấu tranh chống tham nhũng và cuối cùng đã thành công. Ông đã thẳng thắn nêu vấn đề tiêu cực ra trước Đại hội Đảng bộ phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bị đe dọa, bị đánh trọng thương ông vẫn không lùi bước. Các cán bộ tiêu cực cũng không mua được sự “im lặng” của ông, dù họ trả “giá” rất cao. Thấy sai mà mình im lặng thì càng sai, ông Bính trả lời đơn giản như vậy.

Một câu hỏi đã có nhiều dịp được trả lời, rằng làm sao đây để chống được căn bệnh “điếc có chủ ý”? Xin thưa, chúng ta vẫn phải tiếp tục trả lời, vì thực tiễn luôn vận động, vì sự diễn biến phức tạp của tình trạng này. Thẳng thắn và trung thực, nói như vậy mà làm thì khó thay! Nhưng nhất định phải làm. Trước hết là phải xây dựng được khối đoàn kết, thật sự dân chủ trong sinh hoạt đảng và các tổ chức chính trị-xã hội. Người đứng đầu đơn vị phải thật sự gương mẫu, đề cao trách nhiệm cá nhân, phải có con mắt tinh đời để nhận ra ai chân, ai giả, ai tạm thời im lặng vì cái chung, ai “ngậm miệng ăn tiền”? Khi anh không nói ra, không hẳn mọi người không biết, vì còn có một nhân chứng nữa, đó chính là lương tâm anh. Và điều không bao giờ cũ: Nghiêm túc tự phê bình và phê bình để nội bộ thật sự đoàn kết, hiểu nhau, tin nhau, hướng đến những giá trị tốt đẹp, nhân văn, vì sự phát triển, vững mạnh của cơ quan, đơn vị; đồng thời cũng vì sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên.

Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới

 

Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì: (1) Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. (2) Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. (3) Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. (4) Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính. Đại hội XIII của Đảng đã xác định bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”. Đồng thời, xác định “tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng nắm vấn đề chính trị hiện nay. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, nhất là các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên, những người lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là chủ động phòng ngừa là chính, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những vi phạm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thận trọng đánh giá, khách quan khi giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Trong xem xét lịch sử chính trị với những vấn đề chính trị hiện nay, thì xem xét vấn đề chính trị hiện nay là chính; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính. Qua đó, giải đáp được các câu hỏi: Hiện tại người cán bộ, đảng viên như thế nào, có đủ tiêu chí, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, có đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hay không?.

Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện các yêu cầu để góp phần: (1) Hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và một số tác động tiêu cực đến tình hình chính trị nội bộ. (2) Giải quyết kịp thời những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. (3) Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố và nâng cao uy tín; xây dựng niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.