Thứ Ba, 13 tháng 9, 2022
Đấu tranh phòng chống thói ba phải và thái độ bàng quan
SỰ NGUY HIỂM CỦA NHÓM TẬP HỢP VÀ NGUYỄN GIA KIỂNG
Việt Nam kiên quyết đấu tranh bảo vệ các giá trị dân chủ, nhân quyền
CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG
Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa: Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư
gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967, nhân dịp
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị.
Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.
Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích
cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở
miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng
lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam ngày càng được nâng cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của
đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc
kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động
lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên
sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá
trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh
đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức
mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước
đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những
thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện
thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết
thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở
thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng
được củng cố và phát huy.
Trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo
vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu,
cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết
thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ,
không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực
lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự
an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với
Nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó./.
Phòng, chống sự phai nhạt lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên
Trong cuộc sống của mỗi con người có thể có các
loại lý tưởng khác nhau. Có lý tưởng sống được con người nuôi dưỡng
suốt cả cuộc đời; cũng có lý tưởng thuộc về một mặt nhất định nào đó, chẳng hạn
như lý tưởng chính trị, lý tưởng học vấn, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng đạo
đức, v.v.. Dù là loại nào thì lý tưởng cũng đều đóng vai trò định
hướng, có tác dụng điều chỉnh hoạt động và đặc biệt là có sức
mạnh kích thích con người hành động. Con người sống trong xã hội mà
nếu không có lý tưởng thì thật là vô vị, là “sống hoài, sống phí”.
Tiếp
nối truyền thống cách mạng của cha ông thuở trước, giờ đây, đội ngũ cán bộ,
đảng viên ngày càng nhận thức rõ lý tưởng như Bác Hồ từng khẳng định, đó là:
“Mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc”; “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và
hạnh phúc của quốc dân”; “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Nhờ sự đoàn kết nhất trí, sự đồng lòng ra sức
phấn đấu, lao động kiên cường của cả dân tộc, trong đó có các cán bộ, đảng
viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Để hiện thực hóa được lý
tưởng xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, công bằng, nhân văn, dân giàu, nước
mạnh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vô điều kiện; phải vì lợi
ích của nhân dân mà ra sức phấn đấu.
Trong
lĩnh vực tư tưởng chính trị, đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí có một
số ít cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nhưng bản thân, ở các mức độ khác
nhau, không còn tin vào những quan điểm cơ bản, những chân lý của Chủ nghĩa
Mác-Lênin; tuyên truyền những điều không phù hợp với đường lối, quan điểm của
Đảng, bất chấp những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà đất nước đã đạt được
trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay và được thế giới đánh giá
cao. Cần lưu ý rằng, sự phủ nhận ngấm ngầm, không bộc lộ ra mặt của họ một khi
có cơ hội sẽ bùng phát cũng đáng ngại và nguy hại không kém. Tấm gương tày đình
về sự thờ ơ, phai nhạt, phản bội lý tưởng cách mạng đã từng xảy ra trong Đảng
Cộng sản Liên Xô có hàng chục triệu đảng viên, trong lực lượng vũ trang của
Liên Xô một thời rất hùng mạnh và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước
đây là bài học đắt giá mà chúng ta không thể lơ là, chủ quan.
Trọn đời
trung thành với Đảng, tận hiếu với dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc. Điều
quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng
cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành
tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Chỉ có sự tự ý thức và
sự tự giác thấm nhuần lý tưởng ấy trong mọi tình huống thì mỗi cán
bộ, đảng viên mới có thể làm tròn trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân
dân. Đó là giải pháp quan trọng hàng đầu bên cạnh việc các tổ chức đảng
phải thường xuyên, liên tục giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong
cách cho mỗi cán bộ, đảng viên theo tấm gương Hồ Chí Minh. Sự kết hợp giữa việc thường xuyên giáo dục chính
trị, đạo đức với thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, nhất là nghiêm chỉnh
thực hiện điều lệ Đảng và nhiệm vụ đảng viên, là cơ sở quan trọng giúp đề phòng
và từng bước khắc phục được sự suy thoái về chính trị và đạo đức, từ đó đề
phòng một cách hiệu quả sự suy thoái lý tưởng cách mạng, để Đảng và mỗi đảng
viên được nhân dân luôn yêu mến, kính trọng và tin tưởng.
Phòng
và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng,
chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng,
chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh
tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường như hiện nay và
trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải
coi việc thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư”, một lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, tận tụy phụng sự Tổ
quốc, phục vụ nhân dân chính là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa sự suy
thoái, nhạt phai lý tưởng cách mạng, qua đó giữ vững vị thế, vai trò là lực
lượng tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt và lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Đó không phải thời cơ vàng
“Địa phương có tiềm
năng gì, mới được đánh thức à?"-không; “Nguồn nhân lực của quê ta được
nâng cao về chất à?”-không; “Có nhiều nhà đầu tư triển khai các dự án tại địa
phương?”-cũng không. Nhiều dự đoán nữa về “thời cơ vàng” của địa phương đều không
đúng. Một cán bộ huyện cho biết: “Quê tôi hiện có nhiều người là cán bộ cấp
tỉnh, cấp Trung ương và các bộ, ngành”. Dường như đội ngũ cán bộ chủ chốt ở đây
đều viên mãn với điều đó. Nếu họ viên mãn về quê mình có nhiều cán bộ các cấp
mà để khích lệ, nhân lên niềm tự hào của người dân, nhất là thế hệ trẻ thì tốt
biết mấy. Đằng này mảy may không một cán bộ nào đề cập đến “thời cơ vàng” trong
giáo dục truyền thống và niềm tự hào?
Họ cũng tỏ vẻ ý tứ: “Đầu nhiệm kỳ chưa
dám ý kiến với các bác ấy, nhưng 3 năm tới phải xúc tiến ngay, không thì mất
thời cơ. Chúng tôi sẽ đề nghị bác cán bộ tỉnh giúp việc này...; bác ở Trung
ương giúp công trình kia...”. Từ hé lộ đến cụ thể khiến chúng ta không khỏi suy
nghĩ!
Sao nhiều cán bộ
huyện này lại coi đây là “thời cơ vàng” của quê mình vậy?
Không biết khi lãnh đạo huyện “xúc tiến”
thì "các bác" trên tỉnh, trên Trung ương có nhận lời và hứa gì không?
Chúng ta đang phát triển đất nước, xã hội theo hướng công bằng, dân chủ, văn
minh, nên hẳn là không có vị lãnh đạo nào “gật đầu” trước những đề nghị trên.
Đó chỉ là thứ “bánh vẽ”, “bánh đặt”... từ quê nhà.
“Thời cơ vàng” rất quý, rất cần với mỗi
địa phương, lĩnh vực và cả đất nước. Thời cơ này có thể là chủ quan, khách
quan, nhưng quan trọng nhất là các cấp lãnh đạo ở từng địa phương, bộ, ngành
cần nhanh nhạy nắm bắt và có những giải pháp hữu hiệu trong lãnh đạo, tổ chức
thực hiện để phát huy, phát lợi cao nhất thời cơ đó-đó mới đúng nghĩa là “thời
cơ vàng”. Còn “thời cơ vàng” như với một số cán bộ ở huyện trên chỉ nặng về chủ
nghĩa cơ hội, cục bộ địa phương, đó là tư tưởng trông chờ, ỷ lại và cũng là một
biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến".
Mỗi địa phương có quyền tự hào về truyền
thống, về những người con quê hương đang giữ trọng trách ở các cấp, các ngành.
Nhưng đừng để những cán bộ cấp cao ấy khó xử và nhất là đừng để tạo thành cái
cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi
dụng quy chụp, xuyên tạc về bản chất tốt đẹp của xã hội ta./.
Tự do tuyệt đối về tôn giáo - sự đòi hỏi phi lý
Theo văn bản
pháp lý của Liên hợp quốc: mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối mà
là một quyền tương đối, có giới hạn. Điều này được chỉ rõ tại Khoản 2, Điều 29,
Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do
của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm
sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác,
cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và
phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo
hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi
sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc
đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Như
vậy, quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo” là sự
cố tình phớt lờ nội dung cốt lõi của các văn bản pháp lý quốc tế, nhằm can
thiệp, phá hoại hệ thống pháp lý các quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo của các
thế lực thù địch, phản động.
Sở dĩ có quan
niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, là bởi họ đã cố tình vin vào cái
gọi là “thuyết nhân quyền tự nhiên” về quyền tự do tuyệt đối, vĩnh hằng, không
bị giới hạn “không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát
hay tước bỏ các quyền bẩm sinh, vốn có của con người”. Đây là điều hết sức
phi lý. Vì trong xã hội, nếu không có hoạt động quản lý của nhà nước thì các
quyền tự do cơ bản của con người không thể thực hiện, tất yếu sẽ dẫn đến mất ổn
định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người
dân. Bên cạnh một số ít quyền tuyệt đối, như: quyền được sống, còn lại đa số
các quyền đều là quyền tương đối, thụ hưởng các quyền đó phải có điều kiện,
phải chịu sự chế ước của xã hội. Điều đó càng có sức thuyết phục khi mỗi tín đồ
tôn giáo đồng thời là công dân, được thực hiện các quyền của mình, nhưng phải
thực hiện nghĩa vụ công dân, tuân thủ pháp luật nhà nước. Như vậy, ở bất cứ
quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn
khổ pháp luật, không thể có tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc, xem thường
pháp luật. Ở Việt Nam, Điều 15, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.
Mặt khác, “tự do
tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” là hai vấn đề không đồng nhất với nhau,
mỗi vấn đề có nội hàm riêng biệt. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966 quy định: “tự do tôn giáo” là mọi người có quyền tuyệt
đối tự do lựa chọn tôn giáo của mình, nhưng khi thể hiện quyền tự do tôn giáo, tức
là thực hiện hành vi tôn giáo trên thực tế phải phù hợp với
bối cảnh, điều kiện xã hội cụ thể trên cơ sở tôn trọng nhu cầu riêng tư của
người khác, không ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Song, với những toan tính chính
trị, các thế lực thù địch ra sức nhào nặn, đồng nhất, đánh tráo hai khái niệm
này, nhằm khẳng định tự do thể hiện tôn giáo là tuyệt đối. Ở khía cạnh khác,
cụm từ “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” tuy khác về bản chất,
nhưng lại có sự trùng lặp tương đối về mặt ngôn ngữ, nên đã trở thành công cụ
chính trị để một số quốc gia tự cho mình “quyền” để phán xét thành tựu bảo đảm
quyền tự do tôn giáo của quốc gia khác vì mục đích chính trị.
Thực tế ở Việt
Nam có không ít hoạt động tôn giáo nhuốm màu mê tín dị đoan, trái với văn hóa
truyền thống, không được pháp luật cho phép, như: hoạt động của Hội thánh Đức
Chúa Trời Mẹ, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, Nhất quán đạo, v.v. Một số vụ vi
phạm pháp luật bị đưa ra xét xử, phạt tù, điển hình là: đối tượng Rah Lan Hip
(trú tại Ia Băng, Chư Prông, Gia Lai) bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên
phạt 7 năm tù, vì đã tổ chức nhóm họp “Tin lành Đề ga”, tuyên truyền duy trì
hoạt động Fulro để thành lập cái gọi là Nhà nước Đề ga của người dân tộc thiểu
số Tây Nguyên, vi phạm Khoản 1, Điều 116, Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phá hoại
chính sách đại đoàn kết”. Một số linh mục: Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam,
Nguyễn Duy Tân,… bị hạn chế đi lại, do các linh mục này có nhiều hoạt động
không phải là hoạt động tôn giáo thuần túy. Họ đã lợi dụng tòa giảng để chống chính
quyền, có nhiều phát biểu đăng trên mạng xã hội xuyên tạc lịch sử Việt
Nam, vi phạm Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “quy định các hành vi
bị nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh,
chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo”.
Gần đây, một số linh mục tại các giáo xứ: Hà Lời (Phong Nha, Bố Trạch, Quảng
Bình); Xuân Hòa (Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình); Dũ Thành (Kỳ Khang, Kỳ
Anh, Hà Tĩnh); Hội thánh truyền giáo Phục Hưng (Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh)
vi phạm chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các quy định của Bộ Y tế và địa phương
về công tác phòng, chống đại dịch Covid-19. Hành động này của các vị linh mục,
xét cho cùng đã “lạm quyền” tự do thể hiện tôn giáo một cách
thái quá, vi phạm nguyên tắc thượng tôn pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì
vậy, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò lợi dụng vấn đề tự do
tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.
Lịch sử đã minh
chứng: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tôn giáo chung sống gắn
bó, hòa hợp, “tốt đời, đẹp đạo”; các tín đồ, chức sắc tin tưởng vào đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phát huy truyền thống yêu
nước, đồng hành cùng dân tộc, góp phần to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Đến ngày 31/12/2020, Việt Nam có: 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được
Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; gần 30.000 cơ sở thờ tự,
53 cơ sở đào tạo; các nhóm người theo tôn giáo chưa được công nhận được chính quyền
địa phương bảo đảm sinh hoạt tại gia đình, điểm nhóm đã đăng ký theo quy định
của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có cả điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo của
người nước ngoài. Nhiều tỉnh, thành phố bàn giao đất cho các tổ chức tôn giáo
xây dựng cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo: Thành phố Hồ Chí Minh giao 7.500 m2 cho
Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam xây dựng Viện Thánh kinh thần học;
Thừa Thiên Huế giao 20 ha cho Học viện Phật giáo; Đà Nẵng giao 6.000 m2 cho
Hội truyền giáo Cơ đốc; Hà Nội giao 11 ha cho Giáo hội Phật giáo để xây dựng
Học viện Phật giáo, v.v. Hằng năm, có hàng trăm đoàn của tổ chức, cá nhân tôn
giáo ở trong nước tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài; nhiều chức sắc nước
ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế được tổ
chức thành công tại Việt Nam: Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới;
Tin lành kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền vào Việt Nam; Giáo hội Phật giáo
tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 đã thu hút sự tham dự của trên 3.000
đại biểu tăng ni, phật tử trong và ngoài nước tham dự, được dư luận quốc tế
đánh giá cao, v.v. Đặc biệt, Việt Nam trúng cử là thành viên Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu cao nhất và đã bảo vệ
thành công các Phiên Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II. Hiện nay, các
nước ASEAN đã đồng ý giới thiệu Việt Nam ứng cử vào thành viên Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Sự thực trên là sự khẳng định mạnh mẽ
nhất của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời khẳng định: không ở đâu có quyền tự do tôn giáo
tuyệt đối như đòi hỏi phi lý của một số người.
Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm
Để đẩy mạnh hơn nữa
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành
Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).
Đến nay, tất cả 63
tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội
chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định
bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn,
thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận
điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.
Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN,
TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các
thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai
trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo
cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em
dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng
tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên
tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về
PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.
Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...
Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!
Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền
phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy,
sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam
quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh
đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực
tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận
điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.
Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa
trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng
quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết
phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm
tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu
sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.
Biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hoá trên không gian mạng - cần đấu tranh, bác bỏ
Cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng,
tạo dựng môi trường và không gian xã hội mới, xóa nhòa khoảng cách về không
gian, thời gian và địa vị xã hội của mỗi con người; tạo ra sự giao lưu, tiếp
biến văn hóa khác hẳn về chất trên tất cả các lĩnh vực, với tất cả các quốc
gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam hiện là quốc gia có tốc độ phát triển và
ứng dụng internet thuộc tốp đứng đầu thế giới1, không gian mạng được
sử dụng để tương tác trong học tập, lao động, giao tiếp, giải trí của người dân
đã trở nên phổ biến và quen thuộc. Chúng ta đang đứng trước cơ hội và thách
thức tiếp cận khối lượng khổng lồ các sản phẩm văn hóa của nhân loại bao gồm cả
sản phẩm có giá trị văn hóa và phản văn hóa. Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ
trương, chính sách tạo điều kiện cho việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Song, trong thời kỳ hội nhập
quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sự kết nối xuyên “biên giới” trên không gian
mạng, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa vẫn còn những lệch lạc, biểu hiện ở hiện
tượng “sùng ngoại” và “lai căng” văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng xây
dựng nền văn hóa tiên tiến thời kỳ hội nhập.
“Sùng ngoại”
trong văn hóa có thể hiểu là sự đánh giá thái quá những yếu tố, sản phẩm, giá
trị của nước ngoài; từ đó, dẫn đến cuồng tín, tôn sùng, theo đuổi trong nhận
thức và hành động, hạ thấp, coi thường các sản phẩm, giá trị văn hóa trong
nước. Còn “lai căng” văn hóa là sự tiếp thu sản phẩm, giá trị văn hóa nước
ngoài trên không gian mạng để pha trộn, gán ghép một cách gượng ép, tùy tiện
với các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước theo kiểu “dở tây dở ta”, hay nói
cách khác, đó là sự bắt chước nước ngoài không có chọn lọc, gây phản cảm.
“Sùng
ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng như những virus “văn hóa độc
hại” lây lan, tác động to lớn đến con người và xã hội Việt Nam. Nó cổ súy cho
lối sống dân chủ, thể chế chính trị tư sản phương Tây. Những biểu hiện “sùng
ngoại”, “lai căng” văn hóa theo khuynh hướng xã hội công nghiệp hiện đại và mặt
trái của kinh tế thị trường, như: chủ nghĩa thực dụng, đề cao cá nhân, lối sống
hưởng thụ, tôn thờ tiền bạc thái quá, thị hiếu thấp kém,… đi ngược lại với giá
trị văn hóa truyền thống, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã
lựa chọn. Không chỉ vậy, nó còn làm cho những giá trị đạo đức cốt lõi bị lung
lay, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là của giới trẻ hiện nay, mà còn
tạo ra nhiều hệ lụy trong xã hội, làm cho nhiều người dễ dao động, buông xuôi
trước sự tấn công của văn hóa ngoại lai xấu độc, gây khủng hoảng niềm tin, mất
phương hướng trong lựa chọn các giá trị, lối sống
Kiên quyết đấu tranh, bác bỏ biểu hiện
“sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa
Để giữ gìn và
phát huy văn hóa dân tộc, một mặt phải không ngừng chăm lo, xây dựng những giá
trị văn hóa tốt đẹp, mặt khác cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những biểu
hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng theo tinh thần:
“Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt
Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc
biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”2.
Trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giao lưu, tiếp biến
văn hóa giữa các quốc gia, trong đó có Việt Nam là tất yếu khách quan, song sự
du nhập, “lai căng” văn hóa từ bên ngoài đối với từng quốc gia cũng khác nhau.
Điều này phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng các thiết chế quản lý văn hóa của
mỗi nước. Vì thế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối
với lĩnh vực văn hóa nói chung và trên không gian mạng nói riêng là
vấn đề rất quan trọng. Đây là những cơ sở pháp lý cần thiết để các cấp, ngành,
tổ chức, lực lượng đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm
về văn hóa. Theo đó, cùng với quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ
thị, quy định của Đảng, Nhà nước về văn hóa, cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện
thể chế, chính sách, khung pháp lý về văn hóa, quản lý văn hóa ở tất cả các
cấp. Đồng thời, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, nhằm phát huy mọi
tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực cho bản sắc văn hóa dân tộc phát triển theo
hướng hiện đại, hội nhập mà không hòa tan. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật về an ninh mạng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa,
đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; nâng cao năng lực bảo vệ hệ
thống thông tin quốc gia, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây
dựng môi trường an toàn, lành mạnh trên không gian mạng. Tiếp tục hoàn thiện,
đồng bộ cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư, sáng tạo, sản xuất, phân phối,
tiêu thụ các sản phẩm, nguồn tài nguyên, dịch vụ văn hóa nhằm giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên không
gian mạng.
Lá bài “nhân quyền” trong thời đại số
Những
năm qua, một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế
là việc Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về
nhân quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền
của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không
ai có thể phủ nhận. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch
và một số tổ chức phi chính phủ được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi
dụng nhằm thực hiện những động cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước
khác, nhất là các quốc gia có thể chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Ðảng Cộng sản.
Trong mọi
giai đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng,
Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách
thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước,
gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng
sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng
các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản
báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho
một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA,
RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ
thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính
trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.
Đồng thời
các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam
tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số
nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn
viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn
giáo, tự do báo chí ngôn luận.
Thông
qua các nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của
báo chí chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung
“thật giả lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra
những trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp
cao nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin
(mà báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt
thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến những
vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng số
nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và lừa
dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng thù địch,
phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến cho nhiều
người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông tin giả mạo,
dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.
Do đó,
hoạt động tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới không thể tách rời với việc
đấu tranh phản bác, chống các luận điểm xuyên tạc, bôi nho hình ảnh Việt Nam.
Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng nói
chung và công tác đối ngoại nói riêng.
Hiện thực sinh động phản bác những trò xảo biện trong dịp Quốc khánh
Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử ngày
Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế
lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.
Song, có
những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của
người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả,
cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao.
Chẳng hạn,
bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9
nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi
người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức
nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác
về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất,
dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được
chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này
còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền
gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân,
hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…
Đọc những
câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy
được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì
phải “trả bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc
càng có tiền.
Họ cho rằng,
77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của
Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn
cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”!
Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến
cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết
cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!
Nhưng thựu
tế, việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được
đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề
xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết
những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và
lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống
dịch bệnh vào 27/12 hằng năm. “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng
tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”. Trong
các phát biểu khi tham dự lễ kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam, nhiều đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế đã đề cao vị thế và coi trọng hợp
tác với Việt Nam.
Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động
Ngày 25/8,
TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị
cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa,
Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm,
các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp
khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ
hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan
Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!
Cũng với cách tiếp cận này, một số
trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh
trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân,
việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất
thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê
phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng”
để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ
tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!
Điều đáng
nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này
được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau
khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức
lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà
báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.
Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ
nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do
rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên
bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng,
tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ
hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt
giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái
ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.
Cũng “té nước theo mưa”,
tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước
bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo
chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm
Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo
rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ,
yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ
với Hà Nội”.
Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ
Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những
tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được
dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ
trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài
nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự
như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể
hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông. Trong khi
đó, Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện”
như những phán xét nói trên.
Đánh người chạy đi, không ai đánh người
chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai
biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính
mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.
Những kiểu xuyên tạc, vu cáo trong thời đại số
Những năm qua,
một trong các yếu tố tạo nên uy tín của Việt Nam trong quan hệ quốc tế là việc
Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định quan điểm tiến bộ, tích cực về nhân
quyền, đồng thời cố gắng tạo điều kiện để mọi người dân được hưởng các quyền
của mình và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhân quyền không
ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải khi nào hoạt động này cũng nhận được
sự hợp tác thiện chí từ một số quốc gia. Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà
toàn thế giới hướng tới.
Thế nhưng đây
cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ
được sự giúp đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động
cơ xấu để can thiệp vào công việc nội bộ nước khác, nhất là các quốc gia có thể
chế chính trị XHCN nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản.
Trong mọi giai
đoạn cách mạng, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng,
Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách
thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước,
gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng
sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng
các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản
báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho
một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA,
RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ
thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính
trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.
Đồng thời các
hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ
chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị
quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện
trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn
giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc
triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”,
khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối
tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo
dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo
hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý
đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.
Thông qua các
nền tảng số, các thế lực thù địch sử dụng những tin, bài, hình ảnh của báo chí
chính thống trong nước, sau đó tô vẽ thêm bớt, đưa ra những nội dung “thật giả
lẫn lộn” và thông tin sai lệch để đưa lên mạng xã hội. Chúng lập ra những
trang/tài khoản núp dưới danh xưng của các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo cấp cao
nhằm lôi kéo tâm lý hiếu kỳ của công chúng, đánh vào khoảng trống thông tin (mà
báo chí chính thống trong nước chưa đăng tải hoặc cần thời gian kiểm duyệt
thông tin); ngụy tạo các bài viết dưới những tiêu đề giật gân liên quan đến
những vấn đề đang được dư luận quan tâm… Những thủ đoạn lợi dụng nền tảng
số nêu trên của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn ít nhiều đã dẫn dụ và
lừa dối được một bộ phận người dân. Những cái “bẫy thông tin”mà các đối tượng
thù địch, phản động, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam tung ra cũng đã khiến
cho nhiều người nước ngoài không phân biệt được thông tin chính thống và thông
tin giả mạo, dẫn đến có nhận thức không đúng, không tốt về Việt Nam.
Không ngừng nỗ lực để bảo đảm nhân quyền
Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung
tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ
trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu
phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành
sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người
Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất
nước”.
Quyền con người được khẳng định trong
bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11
chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến
Điều 49).
Để có cơ sở pháp
lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những
nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền
con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban
hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con
người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ
bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ
luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam
2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em
2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018,
Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền
công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ
chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây
dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo
ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn
nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.
Hiện nay, Việt
Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công
ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban
hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không
thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người.
Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên
hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc
tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên
thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách
nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.
Mặc dù nước ta
đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự
chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề
nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được
những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở
những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn
được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Điển hình như,
Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần
lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem
là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát
triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo
“Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118
trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về
quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở
Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm
Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021
với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện
tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp
sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những
thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh
giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường
quốc tế.
Thành tựu đảm
bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã
hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch
COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là
những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến
cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.
Đánh giá về nhân
quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo
kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện
tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh
giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu
thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội
chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của
Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát,
trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền
của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt
khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để
biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.
“Thành tích ảo”, giảm lòng tin
Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát
triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công
cuộc đổi mới. Một xã hội phát triển, dân chủ, công bằng, văn minh là xã hội mà người
dân được hưởng lợi từ các chính sách tích cực của Nhà nước. Hạnh phúc của nhân
dân là thước đo tiến bộ, công bằng xã hội. Hiện nay, nếu chỉ lắng nghe những
báo cáo dày đặc thành tích nhưng thử hỏi người dân có hài lòng không, mức độ
hài lòng là bao nhiêu?
Để sớm được công nhận về đích trong xây dựng nông thôn mới,
nhiều địa phương báo cáo rất “đầy đặn”. Buổi lễ công nhận đạt chuẩn nông thôn
mới ở một số địa phương được tổ chức linh đình, cấp trên xuống dự, cờ đèn kèn
trống, báo chí rầm rộ đưa tin, thành công tốt đẹp, thế nhưng thực chất, bộ mặt
đời sống người dân không có nhiều thay đổi, thậm chí nhiều hộ dân rơi vào khó
khăn vì thành tích "thoát nghèo". Tất cả đều do bệnh thành tích,
thích "đánh bóng" tên tuổi, phô trương mà nên.
Trên lĩnh vực kinh tế, cũng vì “tô hồng” báo cáo tài chính, kinh
doanh của nhiều tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước khiến người dân và cả
chuyên gia cũng không biết đó là lãi giả, lỗ thật hay lãi thật, lỗ giả! Bởi có
doanh nghiệp vừa mới báo cáo làm ăn có lãi nhưng chỉ giai đoạn sau thì phá sản,
xin trợ vốn gấp. Những báo cáo này đã khiến nền kinh tế bị méo mó, thiếu sự
cạnh tranh, minh bạch. Thậm chí, có đơn vị khi cần một báo cáo đánh giá trung
thực, khách quan để có căn cứ đưa ra các quyết sách, lại phải nhờ vào một đơn
vị độc lập đánh giá, khảo sát lại chứ không thể sử dụng báo cáo của các cơ
quan, đơn vị đã công khai.
Đặc biệt, bệnh “tô hồng” báo cáo, thành tích, háo danh trong
lĩnh vực xây dựng Đảng biểu hiện ở nhiều nội dung, từ công tác cán bộ đến đánh
giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên, phát triển đảng viên mới và kiểm tra,
giám sát. Bệnh thành tích đã nâng đỡ, tâng bốc, "lót đường" thăng
quan tiến chức cho một số kẻ gian dối. Họ đã đi lên bằng những báo cáo thành
tích hào nhoáng, không có thật, nhưng lại được hợp thức hóa bằng những phần
thưởng cao quý. Điều này làm thui chột nhiệt huyết của những người chân chính,
làm việc, cống hiến thật sự. Nó làm cho nhiều cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí
phấn đấu vươn lên.
Theo chuyên gia kinh tế, TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt
Nam: Thực tế, có rất nhiều dạng làm dở mà báo cáo hay, nhưng nguy hiểm nhất là
sai về chất lượng. Ví dụ chương trình làm ra không tốt nhưng vẫn nghiệm thu,
công trình chất lượng bình thường hoặc có vấn đề nhưng vẫn báo cáo tốt. Kiểu
báo cáo này vô cùng nguy hại, nhất là ở những dự án, vấn đề quan trọng quốc
gia. Khi cơ quan chỉ đạo điều hành không nắm được đúng vấn đề thì giải pháp có
thể không sát, kế hoạch cũng có thể sai và đặc biệt là đánh giá con người cũng
có thể không chính xác.