Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 14/9


“Cán bộ phải đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào nhân dân; trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài nói chuyện tại “Hội nghị thủy lợi toàn miền Bắc”, ngày 14/9/1959.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh càng thấm sâu chân lý: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng cách mạng chính là các tầng lớp nhân dân mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy sức mạnh to lớn ở họ. Người cho rằng, nhân dân rất thông minh, sáng tạo; nhân dân là lực lượng đông đảo của toàn xã hội; nhân dân là người hiểu biết tất cả; nhân dân là nguồn sức mạnh vô tận ở mọi nơi, mọi lúc. Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: Thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và trong sự nghiệp đổi mới đất nước đều xuất phát từ đường lối “lấy dân làm gốc”.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không phải chỉ là việc riêng của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, đảng viên, mà là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện tốt phương châm này là nhằm phát huy vai trò của nhân dân lao động tham gia quản lý mọi hoạt động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, còn có tác động tích cực đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh. Hoạt động của quần chúng nhân dân theo phương châm đó, trước hết, là giúp cho các tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng và đề cao trách nhiệm trước nhân dân, tôn trọng ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; qua đó, thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ mình là “là người lãnh đạo; đồng thời là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; luôn biết trăn trở với những thắc mắc, những lo lắng của nhân dân; biết cầu thị và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, vận động nhân dân chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thấu triệt lời Bác dạy, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội, thương yêu, tôn trọng bộ đội như “chân với tay”; luôn là hạt nhân đoàn kết, đã thật sự làm cho cấp dưới kính trọng, tin tưởng, học tập và noi theo, coi lãnh đạo, chỉ huy của mình “như đầu, như óc”, như người thân trong gia đình; xây dựng tinh thần tự giác trong bộ đội, trở thành lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng: “Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì đều tận tâm, tận lực thi hành nhanh chóng và chính xác”. Mối quan hệ cán – binh được xây dựng trên cơ sở tình thương yêu đồng chí, đồng đội, được tôi luyện, thiết lập vững chắc qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, vừa là thuộc tính bản chất của một quân đội cách mạng, vừa là một trong những cơ sở tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

NGHỊ ĐỊNH 53/2022/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT AN NINH MẠNG VỪA ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BAN HÀNH

 Nghị định 53/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng vừa được Chính phủ ban hành nêu rõ, từ 1/10 yêu cầu xóa bỏ thông tin khi có căn cứ pháp luật xác định thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; bịa đặt, sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động kinh tế - xã hội đến mức phải yêu cầu xóa bỏ thông tin.Điều 19 Nghị định 53/2022/NĐ-CP nêu rõ các trường hợp áp dụng biện pháp yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng gồm:Khi thông tin được cơ quan có thẩm quyền xác định là xâm phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền chống Nhà nước; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh và gây rối trật tự công cộng;Khi có căn cứ pháp luật xác định thông tin có nội dung làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; bịa đặt, sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho hoạt động kinh tế - xã hội đến mức phải xóa bỏ thông tin;Các thông tin khác có nội dung quy định tại điểm c, đ, e khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng gồm:Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.Bên cạnh đó, theo Nghị định 53/2022/NĐ-CP, mạng máy tính truyền đưa bí mật nhà nước phải tách biệt vật lý hoàn toàn với mạng máy tính kết nối InternetCụ thể, mạng máy tính của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị ở trung ương và địa phương phải xác định rõ hệ thống mạng thông tin và thông tin quan trọng cần ưu tiên bảo đảm an ninh mạng;Quy định rõ các điều cấm và các nguyên tắc quản lý, sử dụng và bảo đảm an ninh mạng, mạng máy tính nội bộ có lưu trữ, truyền đưa bí mật nhà nước phải được tách biệt vật lý hoàn toàn với mạng máy tính, các thiết bị, phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, trường hợp khác phải bảo đảm quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;Quy trình quản lý, nghiệp vụ, kỹ thuật trong vận hành, sử dụng và bảo đảm an ninh mạng đối với dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật, trong đó phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản bảo đảm an toàn hệ thống thông tin;Nghị định số 53/2022/NĐ-CP cũng quy định trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông: Quyết định áp dụng biện pháp yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định; Gửi văn bản yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, dịch vụ trên mạng Internet, dịch vụ gia tăng trên không gian mạng, chủ quản hệ thống thông tin xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định.Kiểm tra việc chấp hành thực hiện biện pháp của các chủ thể có liên quan được yêu cầu.Trao đổi, chia sẻ thông tin về việc thực hiện biện pháp này, trừ trường hợp nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước hoặc yêu cầu nghiệp vụ của Bộ Công an.Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng quyết định áp dụng biện pháp yêu cầu xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, an ninh quân đội đối với hệ thống thông tin quân sự.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 15/9


“ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, ngày 15 tháng 9 năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, tự do. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng thành quả đó mới chỉ là những cơ sở nền móng đầu tiên; để độc lập, tự do đó thực sự vững bền, để nhân dân thực sự cảm nhận được giá trị của độc lập, tự do; Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực vươn lên, xây dựng đất nước thành một quốc gia giàu mạnh với một nền kinh tế tri thức phát triển cao; một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cùng tiềm lực quốc phòng hùng mạnh... Để có được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết tha mong mỏi các thế hệ tương lai Việt Nam - những thế hệ trẻ được cắp sách đến trường trong hòa bình, trong tự do không ngừng ra sức cố gắng học tập, vươn lên tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến của thế giới, tự đào tạo mình trở thành một lực lượng lao động quyết định, có đủ khả năng đưa đất nước bước lên đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.
Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã không ngừng nỗ lực học tập, rèn luyện, trưởng thành cả về phẩm chất, năng lực, giành nhiều thành tích cao góp phần quan trọng cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc, thực dân xâm lược giải phóng đất nước và thành công trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Thành tích học tập, nghiên cứu khoa học của các thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam đã thực sự làm rạng danh đất nước, đặt nền móng vững chắc, tạo tiền đề để đưa đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Tuổi trẻ, học viên, sinh viên quân đội đinh ninh lời Bác dạy, thi đua thực hiện thắng lợi các phong trào thi đua: “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, quyết thắng”, "Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao" và phong trào “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”…và cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” vượt mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu học tập, rèn luyện đạt các giải cao tại các cuộc thi trong nước và quốc tế; tích cực học tập, huấn luyện làm chủ các loại vũ khí trang bị, nhất là vũ khí mới, hiện đại… góp phần xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'

CÓ BA ÔNG "HOÀNG CẦM"


Trong lịch sử đương đại Việt Nam, chí ít có đến ba ông Hoàng Cầm nổi đình đám. Ông thứ nhất là người đã sáng chế ra bếp Hoàng Cầm. Ông thứ hai trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ trong quân ngũ và được phong đến hàm Thượng tướng. Còn ông thứ ba là thi sĩ, tác giả của bài thơ nổi tiếng "Bên kia sông Đuống".
Người sinh sớm nhất trong ba người này là “Hoàng Cầm bếp”. Ông sinh năm 1916 ở xã Đại Trực, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Vì khổ cực, năm 20 tuổi, ông đã bỏ nhà lên phố mưu sinh. Sau năm 1936, ông học nghề đầu bếp và làm thuê cho cửa hàng cơm Văn Phú ở phố Hàng Lọng (đường Lê Duẩn ngày nay).
Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia tự vệ thành. Năm 1947, ông được giao nhiệm vụ phụ trách cấp dưỡng của An Dưỡng đường thuộc Quân y vụ khu Trung ương (Cục Quân y). Cuối năm 1948, ông được điều về phụ trách cấp dưỡng tại Quân y viện ở Mỹ Tranh.
Thu đông năm 1949, trong Chiến dịch Biên giới, ông phụ trách một tổ cấp dưỡng tại một trạm vận chuyển thương binh ở Na Lang. Do có nhiều thành tích trong công tác hậu cần, kết thúc Chiến dịch Biên giới, ông được cấp một giấy khen và được Bác Hồ tặng thưởng một đồng hồ đeo tay.
Trong Chiến dịch Hoàng Hoa Thám 1951, do có công giúp đơn vị “luôn đủ thực phẩm tươi sống mà giá cả lại phải chăng, đời sống thương bệnh binh ngày càng được cải thiện”…ông được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.
Đông xuân 1951 – 1952, trong Chiến dịch Hòa Bình, vì phải theo sát cuộc chiến đấu của Sư đoàn 308, bộ phận phục vụ của Hoàng Cầm phải chia làm 2 tổ, bình quân mỗi người phải phục vụ 60 người. Ngày nào cũng vậy, anh chị em phải làm việc suốt ngày đến tận 12h đêm. Nhiều lần thương đồng đội, Hoàng Cầm thức từ nửa đêm đến 4h sáng nấu gần 100kg gạo và làm xong thức ăn mới gọi mọi người dậy.
Có một việc đã từ lâu mà Hoàng Cầm trăn trở khôn nguôi: Muốn làm một cái gì đó cho bộ đội được ăn nóng, uống nóng và chỉ có như vậy mới giúp cho bộ đội thêm sức chiến đấu dẻo dai, thương binh mới tăng cường dinh dưỡng, chóng phục hồi sức khỏe. Qua nhiều đêm suy nghĩ, ông bỗng nhớ đến việc đắp bếp nấu cám lợn ở quê nhà. Bà con thường dùng đất dẻo đắp bếp. Đắp to đắp nhỏ tùy theo nồi nấu. Hai bên bếp thường để hai lỗ thoát khói. Do vậy, nhiệt trong bếp rất tập trung mà ánh sáng lại không tỏa ra ngoài.
Nhưng còn khói? Vấn đề cơ bản là làm sao triệt tiêu được khói hoặc làm sao cho khói không bốc lên cao để máy bay địch không phát hiện được nơi nấu. Tiếp tục suy nghĩ, ông lại nhớ đến hồi còn nhỏ cùng chúng bạn chăn trâu hun chuột. Ông nhớ khi hun phải đào hang rộng và dài, đưa rơm rạ vào đốt và phải quạt mạnh để khói luồn vào bên trong các ngóc ngách chuột đào, rồi tỏa ra bờ ruộng.
Ông mang dụng cụ ra đồi làm thử nhưng thấy lửa vẫn hắt ra ngoài, khói còn bốc lên cao. Ông làm đi làm lại nhiều lần, vừa làm vừa bàn, vừa chỉnh sửa cùng đồng đội. Mỗi người góp một ý. Kết quả cuối cùng: Ra đời một cái bếp theo ý muốn. Đó là bếp Hoàng Cầm. Và về thực chất, bếp Hoàng Cầm không thoát khói theo ống khói dọc, mà thoát khói theo ống khói ngang nằm sâu và kéo dài trong lòng đất, cách mặt đất không sâu lắm.
Bếp Hoàng Cầm nấu được cả ban ngày lẫn ban đêm mà không sợ lộ khói lửa, theo đúng tinh thần “đi không dấu, nấu không khói…”. Bếp được nhanh chóng phổ biến và sử dụng rộng rãi trong toàn quân trong cả thời chống Pháp trước đây lẫn chống Mỹ sau này. Với thành tích trên, cha đẻ của bếp Hoàng Cầm đã được bầu là Chiến sĩ thi đua sư đoàn, được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì, được gặp Bác Hồ kính yêu…
Kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp, Hoàng Cầm được tặng thưởng Huy hiệu chiến sĩ Điện Biên và Huân chương Chiến thắng hạng Ba. Năm 1958, Hoàng Cầm ra quân. Ông tiếp tục công tác tại thị trấn Tam Đảo. Kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Hai. Tên tuổi và công trạng của Đại úy Hoàng Cầm được Viện Bảo tàng lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam lưu giữ làm gương cho hậu thế noi theo.
Người thứ hai là “Hoàng Cầm tướng”. Ông tên thật là Đỗ Văn Cầm, quê Cao Sơn, Ứng Hòa, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm 12 tuổi, sau đó phải lưu lạc kiếm sống tại Hà Nội. Năm 21 tuổi, ông đi lính khố xanh cho chính quyền thuộc địa Pháp và đồn trú tại Lai Châu. Sau khi điều chuyển về Hà Nội được 2 năm, ông đào ngũ, nhờ đó mới thoát nạn trong vụ đảo chính Nhật vào ngày 9 - 3 - 1945.
Được sự vận động của cán bộ Việt Minh, đến tháng 7 năm 1945, ông tham gia Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia Cứu quốc quân Hà Nội và lấy tên là Hoàng Cầm theo phong trào đổi tên mới để bước vào cuộc đời mới thời bấy giờ. Từ 1946 đến 1949, ông làm cán bộ chỉ huy cấp tiểu đội, đại đội ở Trung đoàn 148, tham gia mặt trận Sơn La.
Năm 1949, ông được điều về Trung đoàn 209 (còn có tên là Trung đoàn Sông Lô – một trong những trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam) làm tiểu đoàn phó, rồi tiểu đoàn trưởng, tham gia trận đánh Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới 1950.
Trong trận Điện Biên Phủ, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, chỉ huy đánh chiếm Sở chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được đề bạt Đại đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng, rồi Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 312 (tức Sư 312). Từ 1964 đến 1974, ông đảm đương các chức vụ: Sư trưởng Sư đoàn 9, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng, Tư lệnh quân đoàn 4.
Sau khi miền Nam giải phóng, khi Ủy ban quân quản Sài Gòn được thành lập, ông được cử làm Phó chủ tịch Ủy ban quân quản. Năm 1978, xung đột biên giới Tây Nam Việt Nam nổ ra, ông được cử làm chỉ huy lực lượng Quân đoàn 4 tấn công vào Hoàng cung Campuchia. Những năm hòa bình, ông vẫn tại ngũ và đảm đương các chức vụ trong quân đội: Tư lệnh Quân khu 4, Tổng thanh tra với hàm Thượng tướng. Ông đã được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Quân công và nhiều huân, huy chương khác.
Hoàng Cầm là vị tướng tham gia nhiều cuộc chiến tranh: Chống Pháp, chống Mỹ, Biên giới Tây Nam.
Người thứ ba là “Hoàng Cầm thơ”. Ông tên thật là Bùi Tằng Việt, quê Thuận Thành, Bắc Ninh. Ông tham gia Việt Minh từ năm 1944 và hoạt động văn nghệ trong quân đội từ những năm 40 của thế kỷ trước, từng là Trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ 1940 đến 1995, ông đã sáng tác và xuất bản các tác phẩm: “Hận ngày xanh”, “Bông sen trắng”, “Cây đèn thần”, “Tỉnh giấc mơ vua”, “Thoi mộng”, “Hận Nam Quan”, “Bốn truyện ngắn”, “Đêm Lào Cai”, “Tiếng hát quan họ”, “Những niềm tin”, “Men đá vàng”, “Mưa Thuận Thành”, “Lá diêu bông”, “Bên kia sông Đuống”, “Về Kinh Bắc”, “99 tình khúc”, “Kiều Loan”…
Ông có suy nghĩ về nghề văn rất riêng: “Mơ mộng. Học, tìm, mơ mộng rồi lại học, lại tìm, tìm mãi cái đẹp, cái thật, cái thiện. Trung thực với bản ngã, dần dần tạo ra phong cách thơ riêng, thế giới riêng, không vay mượn, lặp lại người khác, không tự mãn, cố gắng không lặp lại mình. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
“Bên kia sông Đuống” là một bài thơ đặc sắc của Hoàng Cầm và được nhiều thế hệ độc giả yêu thích.
Điều cần nói thêm là cả ba ông Hoàng Cầm đều trưởng thành trong quân đội, đều là sĩ quan trung cấp, cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cả ba ông đều có tuổi thọ rất cao. Trong đó, “Hoàng Cầm bếp” thọ 80 tuổi, “Hoàng Cầm thơ” thọ 88 tuổi và “Hoàng Cầm tướng” thọ tới 93 tuổi.
Ảnh ba ông Hoàng Cầm - Ông “Hoàng Cầm bếp” - Ông tướng Hoàng Cầm ” - Ông “Hoàng Cầm thơ”.
Nguồn: CAND

TỪ CHIẾN DỊCH QUÂN SỰ ĐẶC BIỆT ĐẾN CUỘC CHIẾN TRANH HỦY DIỆT


1. Chính sách bài Nga của Ukraine với sự tiếp tay của Mỹ và phương Tây đã khơi mào cho cuộc chiến
- Mỹ và phương Tây đã nhúng tay vào Uƙɾɑine bằnց 2 cuộc “Cácɦ mạnց cɑm” năm 2004 và 2014 hậu thuẫn cho các thế lực phát xít mới, dân tộc cực hữu bài Nga. Ngay sau cɦínɦ biến EᴜɾomɑiԀɑn 2014, Chính quyền thân Mỹ Ukraine tuyên bố bỏ Nցàу lễ cấρ qᴜốc ցiɑ kỷ niệm Cɦiến tɦắnց chiến tranh Vệ quốc vĩ đại 09/5/1945 đổi tɦànɦ “Nցàу tưởnց niệm các nạn nhân của quân Liên Xô xâm lược”. Ngày 09/4/2015, Qᴜốc ɦội Ukraine tɦônց qᴜɑ lᴜật ʋề ʋiệc lên án ʋà cấm tᴜуên tɾᴜуền qᴜảnց bá tư tưởnց ʋà các biểᴜ tượnց củɑ cɦủ nցɦĩɑ Cộnց ѕản, tᴜуên bố cɦế độ Cộnց ѕản tồn tại ở Uƙɾɑine đến năm 1991 là tội ρɦạm khủng bố nɦà nước. Đẩy mạnh phong tɾào ρɦá bỏ nɦữnց “tàn Ԁư củɑ Liên Xô” nɦư tượnց đài Lenin, tượnց cɦiến ѕĩ Hồnց qᴜân Liên Xô. Trong 1 năm từ ƙɦi cᴜộc cɦínɦ biến tɾên qᴜảnց tɾườnց MɑiԀɑn hơn 500 tượnց đài Lê Nin và Hồng quân Liên Xô bị ρɦá bỏ tɾonց tiếnց ɦô ʋɑnց “Vinɦ qᴜɑnց Uƙɾɑine”. Cùnց nցàу 09/4/2015, Qᴜốc ɦội Uƙɾɑine bɑn ɦànɦ lᴜật 2538-1 ʋề qᴜу cɦế ρɦáρ lý ʋà tôn ʋinɦ nɦữnց nցười đã tɦɑm ցiɑ các tổ cɦức cɦốnց cɦínɦ qᴜуền Xô Viết từnց tồn tại tɾên lãnɦ tɦổ Uƙɾɑine là “cɦiến ѕỹ đấᴜ tɾɑnɦ ʋì độc lậρ củɑ Uƙɾɑine” tɾonց tɦế ƙỷ 20, có nɦiềᴜ tổ cɦức là đồnց minɦ củɑ Đức Qᴜốc хã. Tháng 04/2015, Bộ Giáo Ԁục ʋà Khoa ɦọc Uƙɾɑine cɦo ѕácɦ ցiáo ƙɦoɑ lịcɦ ѕử lớρ 11 Ԁạу tɾẻ em “qᴜân хâm lược Nցɑ” ʋà “bè lũ tɑу ѕɑi củɑ Nցɑ” đɑnց xâm lược Ƭổ qᴜốc, ρɦá ɦoại đất nước, ցiết ɦại tɦườnց Ԁân Uƙɾɑine, buộc qᴜân đội Ukraine phải tiến ɦànɦ “cᴜộc cɦiến tɾαnɦ nɦân Ԁân cɦốnց lại nước Nցɑ хâm lược”. Ngày 23/5/2017, Nցɦị Viện Uƙɾɑine tɦônց qᴜɑ đạo lᴜật loại bỏ tiếnց Nցɑ ƙɦỏi các ƙênɦ tɾᴜуền ɦìnɦ ʋà ρɦát tɦɑnɦ Ԁù 30% nցười Uƙɾɑine coi tiếnց Nցɑ là nցôn nցữ mẹ đẻ ʋà ɦànց tɾiệᴜ nցười ѕử Ԁụnց tiếnց Nցɑ nɦư nցôn nցữ tɦứ ɦɑi. Ƭừ tɦánց 9/2020, tiếnց Nցɑ bị cấm ցiảnց Ԁạу ở tất cả các tɾườnց ɦọc.
2. Sự tráo trở của Mỹ và NATO đối với Nga
Ukraine, Belarus với Nga cùng chung cội nguồn lịch sử 1.140 năm về trước là một dân tộc thống nhất Kieven Rus cùng chung tôn giáo, ngôn ngữ, văn hoá. Năm 2013 sang thăm Ukraine, Tổng thống Nga Putin từng nói:” Sự chia rẽ 2 đất nước Nga - Ukraine là do tác động của trần thế nhưng sự hợp nhất của 2 đất nước là ý nguyện của Chúa trời”. Lợi ích của Ukraine với Nga gấp trăm lần lợi ích so với lợi ích của Mỹ. Vì vậy, Nga đã cảnh báo Mỹ và NATO lôi kéo Ukraine vào NATO là “Lằn ranh đỏ”. Chính Mỹ - NATO đã cố tình bước qua lằn ranh đỏ để làm suy yếu Nga, hòng đánh Nga đến người UKraine cuối cùng.
Chính Mỹ và NATO đã vi phạm cam kết Bonn 06/3/1991, mặc dù bị Nga liên tiếp phản đối nhưng NATO đã 5 lần mở rộng về phía đông đe doạ đến an ninh cuả Nga. 7 lần NATO phản bội dồn Nga đến chân tường. Chính Mỹ và NATO đã hậu thuẫn cho cuộc đảo chính Maidan 2014 lật đổ chính phủ thân Nga. 9/17 thành viên chính phủ mới Ukraine là tân phát xít chống Nga, còn lại là 8 kẻ bài Nga.
Trong 8 năm qua với sự hậu thuẫn của Mỹ và NATO, các thế lực cầm quyền Kiev đứng đầu là Zelensky đã cố tình vứt bỏ Nghị định Minsk 1 và Thoả thuận Minsk 2 vô sọt rác, huy động lực lượng tinh nhuệ, vũ khí của phương Tây tấn công Donbass, làm thiệt mạng 14.000 dân thường, tiêu diệt những người thân Nga và nói tiếng Nga tại Donetsk và Lugansk. Zelensky tuyên bố sẽ chiếm lại Donbass và lấy lại Crimea trong 2 năm còn lại nhiệm kỳ tổng thống của mình. Nga tuyên bố không cho bất cứ kẻ nào lấy lại Crimea, vì Crimea trước 1954 thuộc Nga. Để bảo vệ Crimea Nga sẵn sàng sử dụng bom nguyên tử. Với mục tiêu buộc Nga phải suy yếu, Mỹ và NATO đã dùng Ukraine làm con bài chiến lược, kích động Zelensky huy động lực lượng tinh nhuệ và vũ khí hiện đại do Mỹ và NATO huấn luyện, hậu thuẫn tấn công huỷ diệt Donbass. Sử dụng Lữ đoàn phát xít AZOV tàn sát những người thân Nga buộc Nga phải tham chiến.
Được các thế lực diều hâu tại Mỹ, những kẻ lái súng ủng hộ cộng với sự tiếp tay của Ba Lan, Anh và một số nước hiếu chiến bài Nga ở Châu Âu, Zenlensky một kẻ hung hăng và ngạo mạn, không hiểu hết lịch sử Ukranie, một kẻ ấu trĩ và ngờ nghệch về chính trị thế giới đã liên tục thay đổi thái độ đàm phán với Nga, lấy đất nước Ukraine thành món cầm đồ cho quan Thầy Mỹ và đám chư hầu NATO để lâý USD và vũ khí hòng tiêu diệt Nga. Zelensky không nhận thức được chính Mỹ và NATO muốn kéo dài cuộc chiến ở Ukraine để Nga suy yếu bằng chính xương máu của nhân dân Nga - Ukraine.
Chính sự thay đổi thái độ của Tổng thống Pháp Macron và Thủ tướng Đức Olaf Schol sau cuộc hội đàm tại Moskva ngày 07/2/2022 và 15/2/2022 và sự thách thức của Tổng thống Mỹ Biden đối với Nga về “Lằn ranh đỏ” buộc Tổng thống Nga Putin phải công nhận độc lập của 2 vùng ly khai Donetsk và Lugansk để bảo vệ người Nga tại Donbass và tiến hành “cuộc chiến đặc biệt” tại Ukraine, buộc tổng thống Nga Putin không thể đứng nhìn. Điều tồi tệ nhất đối với Nga suốt 30 năm qua họ chứng nghịch cảnh người anh em Kiev mất dần “tình máu mủ ruột già”. Những người nói tiếng Nga, những người gốc Nga luôn bị đối xử tồi tệ. Tâm lý bài Nga của các thế lực phát xít mới cực hữu tại Ukraine được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn đã đe dọa không những đến cộng đồng người Nga tại Ukraine và cả chính an ninh của đất nước Nga.
3. Cái giá mà Ukraine, Nga và nhân loại phải trả qua cuộc chiến
Xung đột vũ trang của Nga – Ukrane hơn nửa năm qua không chỉ gây đau thương, đổ máu cho hàng trăm ngàn người dân và binh sĩ Ukraine và Nga mà còn châm ngòi cho những cuộc khủng hoảng kinh tế, địa chính trị chưa từng có ở châu Âu và lan rộng ra khắp toàn cầu. Kể từ ngày 24/2, một phần người dân Ukraine với hơn 41 triệu người đã bị buộc phải rời khỏi nhà của họ, gây ra cuộc khủng hoảng sơ tán lớn nhất trên thế giới hiện nay. Ukraine đã mất quyền kiểm soát khoảng 22% diện tích lãnh thổ kể từ khi Nga sáp nhập Crimea năm 2014, nền kinh tế Ukraine sẽ sụt giảm 45% vào cuối năm 2022. Hiện chưa rõ Ukraine đã chi bao nhiêu cho cuộc xung đột nhưng ước tính số tiền tái thiết sau xung đột sẽ tiêu tốn khoảng 750 tỷ USD và con số này có thể tăng cao hơn. Các biện pháp trừng phạt quyết liệt của Mỹ và phương Tây nhằm vào Nga vì chiến dịch quân sự ở Ukraine cùng đòn "ăn miếng trả miếng" từ Moskva đang gây bất ổn cho kinh tế của hàng loạt quốc gia khác, đặc biệt là ở châu Âu; thế giới đang phải "trả giá đắt" vì cuộc xung đột ở Ukraine khi tăng trưởng yếu hơn, lạm phát trầm trọng hơn và chuỗi cung ứng nguy cơ hứng chịu những thiệt hại lâu dài. Tác động từ cuộc chiến đang len lỏi khắp mọi ngõ ngách trên toàn cầu, trong đó các nước ở châu Phi, khu vực có tỷ lệ đói nghèo cao nhất thế giới, hứng chịu nguy cơ lớn từ khủng hoảng năng lượng và lương thực.
4. Từ “chiến dịch quân sự biệt” đang có nguy cơ biến thành cuộc chiến tranh hủy diệt
Rõ ràng, đến nay mức độ không dừng lại ở sự xung đột vũ trang giữa Nga – Ukraine mà đã biến thành cuộc chiến tranh ủy nhiệm của Mỹ, NATO và phương Tây với Nga, chiến đấu chống Nga đến người Ukraine cuối cùng. Mục tiêu của cả 2 bên bây giờ không chỉ nhằm vào cơ sở quân sự mà tấn công cả hạ tầng xã hội để tìm mọi cách tiêu diệt đối phương. Từ vũ khí tự vệ và vũ khí chính xác công nghệ cao tấn công từ xa nay tránh thiệt hại cho người dân vô tội đến nay cả 2 bên bắt đầu sử dụng các loại vũ khí tấn công hủy diệt. Nguy cơ cuộc chiến có thể lan rộng ngoài Ukraine và không loại trừ các bên sử dụng vũ khí hạt nhân và sẽ không có bên nào chiến thắng nhưng chắc chắn sẽ có thêm hàng triệu sinh mạng nữa sẽ bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh xung đột tồi tệ nhất ở châu Âu kể từ sau Thế chiến II đến nay.
Đã đến lúc các bên chấm dứt xung đột để nghiêm túc ngồi vào bàn đàm phán. Đây không phải là thời đại mà cả Nga, Mỹ và phương Tây nghĩ rằng mình có sức mạnh vô song, không ai có thể chống lại xung đột quân sự chỉ thông qua USD và chất bán dẫn./.
ST

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG DỰ LỄ MÍT TINH TRỌNG THỂ KỶ NIỆM NĂM ĐOÀN KẾT HỮU NGHỊ LÀO- VIỆT NAM 2022 TẠI THỦ ĐÔ VIENTIANE

 

Chiều 14-9, tại Thủ đô Vientiane, CHDCND Lào, đã diễn ra Lễ mít tinh trọng thể kỷ niệm Năm đoàn kết hữu nghị Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào 2022 do Bộ Quốc phòng Lào tổ chức. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam, tham dự buổi lễ.
Đại tướng Chansamone Chanyalath, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chủ trì buổi lễ.
Tới dự còn có đồng chí Nguyễn Bá Hùng, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và tổ chức chính trị, xã hội của Lào; các thế hệ cựu chiến binh Lào - những người đồng chí, anh em thân thiết từng kề vai, sát cánh trong các thời kỳ cách mạng của hai nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Chansamone Chanyalath nhiệt liệt chào mừng Đại tướng Phan Văn Giang cùng đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam; chúc mừng những thành quả thiết thực mà hai nước đạt được trong những năm qua.
Đại tướng Chansamone Chanyalath điểm lại lịch sử vẻ vang trong quan hệ giữa hai nước; bày tỏ sự biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong kính yêu, những người đặt nền móng xây dựng tình hữu nghị vĩ đại và quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai nước; tưởng nhớ và biết ơn sâu sắc các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân hai nước đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.
Đại tướng Chansamone Chanyalath cho biết, hai Bộ Quốc phòng đã có nghị định thư cùng nhau giúp đỡ và tổ chức đoàn đại biểu đi thăm, rút kinh nghiệm lẫn nhau thường xuyên ở các cấp. “Trên cơ sở yêu cầu của quân đội Lào, Việt Nam còn tiếp tục viện trợ không hoàn lại trên nhiều lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, cụm bản phát triển; cử cán bộ, chuyên gia sang giúp đỡ Quân đội nhân dân Lào ở các lĩnh vực khác nhau”, Đại tướng Chansamone Chanyalath nhấn mạnh.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Phan Văn Giang bày tỏ vui mừng được sang thăm chính thức đất nước Lào tươi đẹp và dự lễ mít tinh.
“Với ý nghĩa và tầm vóc của quan hệ vĩ đại Lào - Việt Nam, đất nước Lào anh em là nước đầu tiên tôi rất vinh dự chọn làm điểm đến thăm chính thức trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng”, Đại tướng Phan Văn Giang nói.
Trong không khí trọng thể thắm tình đồng chí, anh em, Đại tướng Phan Văn Giang thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Việt Nam, gửi lời thăm hỏi trân trọng và lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Bộ Quốc phòng Lào; các bà mẹ anh hùng, các cựu chiến binh Lào cùng toàn thể các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào.
Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Việt Nam và Lào được biết đến là hai nước láng giềng với truyền thống thủy chung, tương thân, tương ái mỗi khi gặp hoạn nạn, thiên tai, địch họa. Nhân dân các dân tộc Lào và Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất, anh dũng, kiên cường trong chiến đấu. Sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về truyền thống văn hóa và cùng chung dòng chảy lịch sử thời đại đã gắn kết vận mệnh dân tộc Lào và Việt Nam như một quy luật tất yếu khách quan.
Điểm lại lịch sử quan hệ giữa hai nước và hai quân đội, Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, trong những năm tháng khó khăn, gian khổ ác liệt nhất, quân đội và nhân dân hai nước đã dành cho nhau sự chia sẻ sâu sắc và to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần, “hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”, viết nên bản anh hùng ca bất tử về tình đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc, được thế giới ghi nhận và là hình mẫu trong quan hệ quốc tế.
“Nhìn lại những chặng đường lịch sử hào hùng mà hai dân tộc đã cùng đi qua, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam và Lào. Quan hệ đặc biệt Việt - Lào đã được các lãnh tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Hoàng thân Souphanouvong trực tiếp đặt nền móng; được dày công gây dựng, giữ gìn, vun đắp không chỉ bằng mồ hôi, công sức mà còn cả xương máu của các thế hệ quân và dân hai nước; thực sự trở thành tài sản vô giá chung của hai đất nước, hai dân tộc; trở thành mối quan hệ “có một không hai” trong lịch sử thế giới”, Đại tướng Phan Văn Giang nói.
Nhân dịp này, Đại tướng Phan Văn Giang bày tỏ lời cảm ơn vô hạn với Đảng, nhân dân và quân đội Lào đã quan tâm, tạo điều kiện cho công tác tìm kiếm, quy tập và hồi hương các liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam về nước, đáp ứng lòng mong mỏi của quê hương, gia đình và thân nhân các liệt sĩ Việt Nam.
Đại tướng Phan Văn Giang tin tưởng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, quân đội và nhân dân Lào anh em nhất định sẽ tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng và bảo vệ vững chắc nền hòa bình, độc lập dân tộc và công cuộc đổi mới toàn diện dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ IX.
Tại buổi lễ, nhắc lại phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào, 45 năm Ngày ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào tại Hà Nội: Dù thế giới có đổi thay thế nào chăng nữa, chúng ta vẫn quyết tâm cùng nhau gìn giữ và phát huy mối quan hệ đặc biệt thủy chung, son sắt Việt Nam - Lào theo đúng như ý nguyện của Chủ tịch Kaysone Phomvihane: "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Việt - Lào sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông", Đại tướng Phan Văn Giang khẳng định, Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ luôn sát cánh cùng Bộ Quốc phòng Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước.
“Quân đội hai nước chúng ta tiếp tục kế thừa truyền thống vinh quang, hợp tác chặt chẽ, hiệu quả, xứng đáng là trụ cột quan trọng trong quan hệ hai Đảng, hai nước Việt Nam và Lào, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân hai nước, hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó”, Đại tướng Phan Văn Giang nói.
Kết thúc bài phát biểu, trong không khí thắm tình đoàn kết, hữu nghị và hân hoan kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 45 năm Ngày ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào, Đại tướng Phan Văn Giang chúc mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai quân đội và nhân dân hai nước Việt - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Tin, ảnh: NGỌC HƯNG (từ Thủ đô Vientiane, CHDCND Lào)
Thích
Bình luận
Chia sẻ