Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022
NHẬN DIỆN VỀ TÀ ĐẠO GIÊ SÙA, BÀ CÔ DỢ TRONG DÂN TỘC MÔNG
230 năm ngày mất vua Quang Trung - Vị Anh hùng kiệt xuất của nước Việt
Phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII gắn liền với sự nghiệp của ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, mà tiêu biểu là Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, vị lãnh tụ kiệt xuất, trí dũng song toàn, người đã đưa phong trào Tây Sơn từ cuộc khởi nghĩa nông dân trở thành phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ một tướng lĩnh tài ba bách chiến, bách thắng, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã trở thành vị anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự, đánh đổ các thế lực phong kiến các cứ Lê, Trịnh, Nguyễn, xóa bỏ ranh giới Sông Gianh chia cắt đất nước trên 200 năm, quét sạch 5 vạn quân Xiêm với chiến công Rạch Gầm -Xoài Mút vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Quang Trung - Nguyễn Huệ không những là nhà quân sự thiên tài mà còn là nhà chính trị lỗi lạc với nhiều chính sách chiêu hiền, đãi sĩ, thu phục nhân tâm, lãnh đạo đất nước trên các phương diện kinh tế, văn hoá, xã hội và bang giao hữu nghị với các nước láng giềng, hòa nhập vào tiến bộ chung của nhân loại.

Nhưng vị anh hùng áo vải cờ đào từng đánh Nam, dẹp Bắc trải nhiều gian lao trên đường chinh chiến đã đột ngột băng hà ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (năm 1792). Vị anh hùng kiệt xuất đã ra đi, cả dân tộc đau xót mất đi đấng minh quân, một anh hùng với bao hoài bão còn dang dở: “…Hỡi ôi! Trời thương dân Lạc Việt, phát đến Đức vũ hoàng… Nhớ tôn linh xưa: Sức đề binh khiển tướng trăm trận chẳng hề thua. Lòng trọng sĩ tôn hiền muôn đời còn mãi nhắc… Nhưng than ôi! Trời chửa vá xong, Rồng sao vội khuất! Biển Thị Nại bèo mây tản mát. Trời Phú Xuân sương gió lạnh lùng! Chúng tôi nay: Tranh vĩ nhân trải rộng xem chung, dòng lịch sử mở ra ôn lại. Bồi hồi chạnh nghĩ xuân xưa! Kính cẩn cúi dâng lễ mọn!...” (Trích Văn tế vua Quang Trung của nhà thơ Quách Tấn - Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn phụng soạn).
Cuộc đời của Quang Trung - Nguyễn Huệ chỉ có 39 mùa xuân, nhưng ông đã cống hiến tất cả tâm hồn, trí tuệ, tài năng, nghị lực của mình cho cuộc đấu tranh vì lợi ích của dân tộc. Với chính nghĩa sáng ngời, tài năng và đức độ cao cả, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã tô điểm cho lịch sử nước nhà một trang vàng chói lọi. Sự nghiệp vẻ vang của phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ là khúc ca hùng tráng trong thiên anh hùng ca bất diệt của dân tộc ta.

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, hàng năm Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung được long trọng tổ chức theo nghi thức truyền thống vào ngày 29/7 âm lịch tại Di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt. Kỷ niệm 230 năm Ngày mất Hoàng đế Quang Trung (1792 - 2022), sáng ngày 26/8/2022, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Bình Định đã long trọng tổ chức Lễ dâng hoa tại Tượng đài và Lễ giỗ, dâng hương tại Đền thờ Tây Sơn Tam kiệt. Tham dự lễ giỗ có Đ/c Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đ/c Lê Kim Toàn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, hội đoàn thể tỉnh; lãnh đạo huyện Tây Sơn và các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; Đoàn đại biểu Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Đoàn đại biểu thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đại biểu các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, cùng đông đảo nhân dân địa phương và du khách.
Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung là dịp để tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tưởng nhớ Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ là tưởng nhớ đến một lãnh tụ thiên tài, nhà quân sự kiệt xuất, một vị Hoàng đế anh minh đã hết lòng vì độc lập dân tộc, vì sự bình an, hạnh phúc của nhân dân. Tinh thần, khí chất, trí tuệ, di sản của vua Quang Trung mãi mãi trường tồn cùng dân tộc, góp phần giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau, là nguồn cổ vũ, động viên để các thế hệ tiếp bước cha ông, phấn đấu xây dựng, phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.
ĐỀ XUẤT BỔ SUNG CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
Ngày này năm xưa: 15 /9/2022: Mở màn chiến dịch Biên giới Tiêu diệt cứ điểm Đông Khê
Ngày 16 tháng 9 năm 1950, trung đoàn 174 và trung đoàn 209 của quân Việt Minh do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái chỉ huy (khi đó ông là: Tổng Tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam và làm Tham mưu trưởng chiến dịch), chủ động đánh chiếm cứ điểm Đông Khê đầu tiên với mục đích: chắc chắn đạt được thắng lợi; cô lập Cao Bằng, uy hiếp cứ điểm Thất Khê từ đó phá thế trận phòng thủ của quân Pháp trên đường số 4; mở đầu Chiến dịch Biên giới thu đông 1950.
Thị trấn Đông Khê thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nằm dọc theo đường số 4, trên ngã ba đường đi Cao Bằng, Tà Lùng, Thất Khê. Cách Đông Khê 45 km về phía bắc là TX Cao Bằng, 15 km về phía nam là Pò Khẩu, 5–7 km về phía đông là Phìa Khoá, 12 km về phía tây là làng Hạc.
Cụm cứ điểm Đông Khê nằm trong hệ thống phòng thủ Cao Bắc Lạng, trực thuộc phân khu Thất Khê. Lực lượng Pháp có 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 bộ binh lê dương trấn giữ và 1 trung đội bảo an do đại úy Allioux chỉ huy, quân số khoảng 350. Vũ khí có 2 đại bác 105mm, 2 súng cối 81mm, 2 cối 60mm, 2 pháo 57mm, 2 pháo 20mm. Bố trí thành 2 khu vực chính là khu trung tâm và ngoại vi. Cứ điểm Đông Khê có hoả lực mạnh, công sự kiên cố. các cứ điểm được xây dựng liên hoàn, có thể chi viện hỗ trợ nhau.
Để đảm bảo chắc thắng trận đầu, Ban chỉ huy mặt trận Đông Khê, do Hoàng Văn Thái phụ trách, quyết định sử dụng một lực lượng ưu thế để đánh Đông Khê. Nhiệm vụ các đơn vị được phân công như sau:
Trung đoàn 174 được tăng cường tiểu đoàn 426, tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308, sáu khẩu sơn pháo 75mm, bốn khẩu ĐKZ 57mm có nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu từ hướng đông bắc và bắc.
Trung đoàn 209 được tăng cường bốn khẩu sơn pháo 75mm, hai khẩu ĐKZ, có nhiệm vụ tiến công trên hướng thứ yếu từ hướng tây nam và tây.
Tiểu đoàn pháo 75mm gồm ba khẩu bố trí ở đông cụm cứ điểm, chi viện trực tiếp cho trận đánh.
Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 bố trí ở đông nam Đông Khê, có nhiệm vụ tiêu diệt quân nhảy dù và chặn đánh quân Pháp ở Đông Khê chạy về phía nam, đồng thời làm lực lượng dự bị đánh Đông Khê khi cần thiết.
Sáng ngày 16/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp dậy sớm lên đài quan sát trên một mỏm núi liền với bản Nà Lạn. Ngọn núi này cách Đông Khê khoảng 10 km theo đường chim bay. Từ đây có thể theo dõi tình hình chung của trận đánh qua ống nhòm.
Sáng ngày 16/9 năm 1950, Đông Khê, 6 giờ 30, Một trận pháo kích lớn đổ xuống những trận địa Pháp ở đây. Trung đoàn 174 tổ chức mở cuộc tiến công các vị trí tiền tiêu, đến 9 giờ chiếm được đồn Yên Ngựa, 10 giờ 30 phút, chiếm đồn Thìa Khóa (phía đông cách pháo đài 200m). Hướng tây nam, trung đoàn 209 triển khai trận địa chậm, nên đến 18 giờ mới nổ súng, 21 giờ diệt được đồn Pò Đình, tiếp tục tiến công đồn Pò Hầu, nhưng hết ngày vẫn chưa giải quyết xong.
Ở Cao Bằng, Trung tá Charton, chưa nhận được lệnh của cấp trên, vẫn dựa vào những thông tin của tướng Marchand cho ông ta cách đây 3 ngày. Ông ta chưa biết những do dự của bộ chỉ huy cấp cao, nhưng từ sáng đến giờ, ông ta biết rõ: "Tiếng pháo nổ vang liên tục ở phía nam! chắc là ở Đông Khê, lần này có vẻ rất nghiêm trọng..."
Ngày 17/9, ở Đông Khê, tình hình trở nên rất khó khăn cho Pháp. Trong pháo đài, hệ thống phòng thủ bị cắt ra làm đôi. Đến 4 giờ sáng, trung đoàn 174 chiếm được Cẩm Phầy, trung đoàn 209 chiếm được Phủ Thiện, Nhà Cũ, khu trường học. Vào cuối buổi sáng, 1 chiếc Morane vẫn quan sát cờ tam tài bay trên pháo đài. Trung sỹ nhất Rajault, phi công thuộc phi đội 3/6 "Roussillon" đồn trú ở Gia Lâm trên chiếc P63 Kingcobra số 599, trong một đợt rải đạn yểm trợ cho pháo đài đã bị bộ đội Việt Minh dùng ba khẩu M2 Browning với 405 viên đạn thu được của quân Pháp bắn rơi ở phía nam Đông Khê. Cuối ngày hôm đó, trước sự chống cự quyết liệt của lính lê dương Pháp, cuộc tấn công bị dừng lại một thời gian.
Vào 18 giờ 30, tướng Hoàng Văn Thái, chỉ huy trực tiếp trận đánh hạ lệnh tổng tấn công. Tiểu đoàn 251 tiến công trên hướng đông pháo đài, đã chiếm được đầu cầu. Trên hướng bắc, tiểu đoàn 249 cũng chiếm được đồn Nhà Thương, phát triển vào bên trong, bắt liên lạc được với trung đoàn 209, cùng phối hợp tổ chức mũi tiến công vào sau lưng pháo đài. Trận chiến đấu ác liệt kéo dài suốt đêm, nhiều chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm: Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tiểu đội trưởng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương để tiếp tục lao lên đánh bộc phá.
Sau 54 giờ chiến đấu, đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ, mặc dù đã được không quân yểm trợ. Quân Pháp bị diệt hơn 120 lính, bị bắt 200, chỉ có 20 lính thoát vây chạy vào rừng. Đại úy Jeaugeon cùng khoảng 20 lính lê dương trốn thoát được về Thất Khê ngày 24/9, quần áo tả tơi, đói khát và kiệt sức. Đại úy Allioux, chỉ huy cứ điểm, bị bắt cùng với số còn lại. Pháp mất 1 máy bay khu trục bị bắn rơi; 2 pháo 105mm, 1 pháo 57mm, 1 cối 81mm, 1 trọng liên, 5 đại liên, 3 khẩu PIAT, 13 trung liên, 2 cac bin, 2 súng ngắn, 162 súng trường bị tịch thu. Phía Việt Minh có 130 người tử trận và 223 bị thương.
Lần đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng cho chiến dịch, đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy.
Chiến thắng Đông Khê đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4, khiến phòng tuyến của Pháp bị cắt ra làm đôi. Đây là trận chiến đấu công kiên có quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt 1 cứ điểm lớn của Pháp bố trí phòng ngự trong công sự kiên cố, hoả lực mạnh, quân số đông ở địa hình rừng núi hiểm trở.
Hướng mặt trận Na Sầm - Lạng Sơn, trước khi đánh Đông Khê, bộ đội địa phương đã phá bốn cầu, nhiều đoạn đường trên đường 4 đoạn phía nam Thất Khê. Ngày 16 tháng 9, tiểu đoàn 428 phục kích ở đoạn Pắc Luông đánh tiểu đoàn 3 Ta-bo từ Lạng Sơn lên Na Sầm, phá bốn xe, diệt 60 lính. Ngày 17 tháng 9, tiểu đoàn 888 phục kích ở Tha Lai phá hai xe, diệt 120 lính, đến 18 tháng 9 phá cầu Tha Lai.
77 năm ngày thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Lịch sử hình thành Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (Việt Nam)
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới do ông Nguyễn Ngọc Xuân làm trưởng phòng, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội. Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kỹ thuật vũ khí; văn phòng.
Thực hiện sắc lệnh số 34/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng Quân giới tổ chức thành Cục Chế tạo Quân giới, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam. Phụ trách chung là ông Vũ Anh (Chế tạo Cục trưởng theo Sắc lệnh 35/SL ngày 25/3/1946[2]). Đồng thời ở các khu chuẩn bị thành lập các ty, khoa hoặc phòng quân giới để trực tiếp chỉ đạo các xưởng sửa chữa sản xuất vũ khí cho các đơn vị trong khu.
Ngày 4 tháng 2 năm 1947, Chế tạo Quân giới cục đổi tên thành Cục Quân giới do kỹ sư vũ khí nổi tiếng, sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa làm Cục trưởng. Cơ quan cục kiện toàn thành 3 nha và một phòng.
Nha Nghiên cứu kỹ thuật (có một xưởng sản xuất mẫu) do ông Trần Đại Nghĩa cục trương kiêm giám đốc, ông Hoàng Đình Phu phó giám đốc. Nhiệm vụ: nghiên cứu, thiết kế, chế thử các loại vũ khí mới theo yêu cầu chiến đấu. Nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả các vũ khí sản xuất, nghiên cứu các vật liệu thay thế.
Nha Giám đốc binh công xưởng do ông Nguyễn Duy Thái làm giám đốc. Nhiệm vụ: Chỉ đạo kế hoạch và kỹ thuật sản xuất của các binh công xưởng, các ty quân giới
Nha Mậu dịch do ông Nguyễn Ngọc Xuân phó cục trưởng kiêm giám đốc, ông Nguyễn Quang phó giám đốc. Nhiệm vụ tìm nguồn vật tư và tổ chức thu mua máy móc, nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất quân giới.
Phòng Văn thư do ông Vũ Văn Đôn phụ trách. Nhiệm vụ quản lý hành chính, kế toán tài vụ và vận tải.
Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Cung cấp, Bộ Tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.
Ngày 4 tháng 11 năm 1958, Bộ trưởng Quốc phòng ra Nghị định số 262/NĐA sáp nhập hai Cục Quân giới và Cục Quân khí, tổ chức thành Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Ông Nguyễn Văn Nam làm Cục trưởng.
Ngày 29 tháng 1 năm 1966, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 128/QĐQP tách Cục Quân giới thành 2 cục Quân khí và Quân giới.
Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (số 39/QUTW ngày 5 tháng 4), Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định (số 221/CP) thành lập Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng. Ngành Quân giới được tổ chức thành các cục: Cục Quản lý kỹ thuật - sản xuất, Cục Quản lý xí nghiệp và các nhà máy, xí nghiệp chế tạo vũ khí - khí tài - đạn dược trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng.
Ngày 5 tháng 4 năm 1976, Tổng cục Xây dựng Kinh tế được thành lập theo Nghị định 59/CP của Chính phủ. Cuối năm 1979 được thu hẹp dần và đến cuối những năm 1980 thì được giải thể.
Ngày 7 tháng 11 năm 1985 Tổng cục Kinh tế được thành lập theo Nghị định số 260/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập với tên gọi Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế trên cơ sở Tổng cục Kinh tế và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam - cơ quan quản lý các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng.
Ngày 24 tháng 12 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 249/1998/QĐ-TTg thành lập và thay đổi một số tổ chức trực thuộc Bộ Quốc phòng. Trong đó có nội dung: “Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế thôi nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về kinh tế, động viên công nghiệp và đổi tên thành Tổng cục Công nghiệp quốc phòng”.[3]
Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam được tổ chức lại và mang tên gọi hiện nay khi Bộ Quốc phòng tách hai chức năng quản lý công nghiệp quốc phòng - giao cho Tổng cục và chức năng quản lý Quân đội làm kinh tế (quản lý các doanh nghiệp quân đội) giao cho Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng.
Theo Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng đã được Ủy ban Thường vụ QH khóa XII thông qua ngày 26-1 thì Cơ sở công nghiệp quốc phòng bao gồm: Cơ sở nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, vật tư kỹ thuật được Nhà nước đầu tư phục vụ quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng (cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt) do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. Cơ sở sản xuất công nghiệp được Nhà nước đầu tư xây dựng năng lực sản xuất phục vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật động viên công nghiệp (cơ sở công nghiệp động viên) do Bộ Công thương quản lý.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh ngày 18/12/2007, tại phiên họp thứ 3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội "...Sau năm 2012 công nghiệp quốc phòng cần hội nhập với công nghiệp quốc gia và do Chính phủ quản lý, Bộ Quốc phòng chỉ quản lý các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt..."

