Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

Bản chất cách mạng màu và những nguy cơ tiềm ẩn đối với Việt Nam hiện nay (phần 2) Các hoạt động nhằm thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam Sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ ngày 25/12/1991, đặc biệt từ khi Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch gia tăng với những phương thức, thủ đoạn ngày càng thâm độc, quy mô lớn, tác động tiêu cực đến đời sống an ninh xã hội. Mục tiêu của chúng là xây dựng lực lượng, nhân tố và điều kiện và tạo ra thời cơ để tiến hành cách mạng màu gây bạo loạn, xúi giục nhân dân biểu tình, kích động chống đối chính quyền, tìm mọi cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự lãnh đạo của Đảng. Hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng nhằm tạo tiền đề về tư tưởng, chính trị, xã hội cho cuộc cách mạng màu ở Việt Nam. Đó là những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò cầm quyền của Đảng. Những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, những kẻ thâm thù cộng sản, đối lập và phản bội cách mạng, những người a dua, kiêu ngạo, thậm chí có cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sử dụng những thủ đoạn và cách thức đa dạng, phong phú, mà chủ yếu là các bài viết theo lối “bổn cũ soạn lại”, các video, clip cắt ghép, các bloger trên một số báo chí nước ngoài, các trang mạng xã hội có tư tưởng chống phá Việt Nam như: Chantroimoi media, BBC NEWS, VOA tiếng Việt, Dân Báo, RFA,... ra sức đưa ra những luận điệu sai trái, thù địch, bóp méo và phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, tuyên truyền kêu gọi cải cách chính trị để tiến tới một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng, thiết lập quyền tự do phát ngôn, ra báo tư nhân, lập đảng, lập hội, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang... Các hoạt động tuyên truyền kích động các hoạt động biểu tình, phá rối an ninh, trật tự xã hội, gây bạo loạn thông qua các sự kiện chính trị lớn của Đảng, Nhà nước, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm như: tranh chấp, khiếu kiện, đình công, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tranh chấp biển đảo. Hoạt động tác động, chuyển hóa nội bộ, hình thành nhân tố chống đối từ bên trong, thúc đẩy “tự diễn biến” nội bộ. Chúng lợi dụng quá trình hợp tác toàn diện với Việt Nam, chúng tăng cường tiếp cận vào những vấn đề chính trị - xã hội nội bộ, thông qua các dự án, chương trình nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ hóa chính trị. Chúng sử dụng các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế đầu tư ở Việt Nam, tìm mọi cách tác động làm thay đổi chính sách, pháp luật, cải cách hành chính theo quỹ đạo dân chủ tư sản; tác động vào các cơ quan báo chí truyền thông và đội ngũ phóng viên định hướng theo cách làm báo phương Tây, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự; thâm nhập vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo nhằm hình thành “giá trị Mỹ”, tự do phương Tây để chuyển hóa tư tưởng giới trẻ, tạo đà xây dựng lực lượng chính trị và tổ chức đối lập ở Việt Nam. Chúng tác động phân hóa, xâm nhập, cài cắm cơ sở nội gián, in sao và phát tán rộng rãi tài liệu với nội dung sai lệch gây mất niềm tin chế độ, thay đổi lập trường, hình thành lực lượng chống đối từ nội bộ trong hệ thống chính trị. Hoạt động thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” hướng đến một xã hội đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo tiền đề cho sự ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và các hoạt động trao đổi, chuyển giao, hỗ trợ, hợp tác góp phần đẩy mạnh xã hội dân sự theo tiêu chí phương Tây, tạo dựng hành lang pháp lý cho việc hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam. Thông qua quan hệ hợp tác, tài trợ cho các tổ chức đoàn thể quần chúng, các thế lực thù địch đẩy mạnh hình thành các tổ chức đối lập (như: công đoàn độc lập), tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, đồng thời liên kết tạo thành mạng lưới các hiệp hội nhằm tăng cường vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong nước phối hợp tổ chức quốc tế để tiến hành cách mạng màu ở Việt Nam khi có thời cơ. Biện pháp ngăn ngừa nguy cơ “cách mạng màu” ở Việt Nam Xác định được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản pháp lý nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý đối với công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Đặc biệt là chủ trương, chính sách về công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, phòng và chống “diễn biến hòa bình”; công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản; hoàn thiện hệ thống pháp lý trong đấu tranh với hoạt động thù địch, tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Đẩy mạnh các biện pháp ngăn ngừa hoạt động thù địch bên ngoài tạo dựng tổ chức chính trị đối lập gây nguy cơ cách mạng màu ở Việt Nam. Nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ vô hiệu hóa những kế hoạch, phương thức tổ chức huấn luyện, đào tạo lực lượng hậu thuẫn, tài trợ vật chất, móc nối các đối tượng trong nước, tạo ảnh hưởng chính trị của các đối tượng thù địch đối với quần chúng nhân dân và với dư luận xã hội. Phối hợp chặt chẽ các cấp chính quyền, lực lượng vũ trang cơ sở, mạng lưới nhân dân triển khai các biện pháp nghiệp vụ, giám sát chặt chẽ các đối tượng cầm đầu, bao vây, phong tỏa, tước bỏ điều kiện hoạt động của đối tượng thù địch. Đồng thời, ngăn chặn, bóc gỡ, triệt phá mọi hoạt động hình thành tổ chức đối lập ở trong nước dưới danh nghĩa hợp tác, chương trình, dự án, tài trợ,… nhằm thúc đẩy cho ra đời ồ ạt các tổ chức xã hội dân sự, đảng phái chính trị phản động, tranh giành ảnh hưởng, thu hút quần chúng, gây mất niềm tin của nhân dân với chính quyền, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo và đòi độc lập. Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề chính trị, xã hội phức tạp để kích động thành những làn sóng chống đối cục bộ, biểu tình, bạo loạn, gây áp lực với Đảng và Nhà nước. Tùy từng đối tượng, vụ việc để có các biện pháp kịp thời, hợp lý để tổ chức phòng ngừa, răn đe, đấu tranh, trấn áp và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao nhận thức, cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thủ đoạn, âm mưu cách mạng màu, nắm bắt tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, kịp thời định hướng, uốn nắn tư tưởng đúng đắn, phê phán những biểu hiện mơ hồ, lệch lạc, a dua, bị lôi kéo, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tiếp tục quản lý có hiệu quả Luật An ninh mạng, kiểm soát mạng xã hội và định hướng các kênh thông tin đại chúng. Thực tiễn các cuộc cách mạng màu đã diễn ra trên thế giới và cuộc đấu tranh phòng ngừa nguy cơ ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị vững mạnh từ Trung ương đến địa phương; giữ gìn nền quốc phòng toàn dân, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; nâng cao tinh thần đoàn kết toàn dân; các lực lượng vũ trang luôn chủ động trước những nguy cơ và thách thức; tăng cường vai trò quản lý báo chí, truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội trong việc phát tán thông tin, định hướng dư luận… Có thể khẳng định một điều, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa dịch bệnh từ xa. Loại bỏ tham nhũng tiêu cực, xử lý các cá nhân cán bộ biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa là điều chúng ta bắt buộc phải làm. Làm tốt việc này, không những đất nước phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Khi nhân dân có niềm tin, họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Bài học ở nhiều quốc gia trên thế giới cho chúng ta thấy rõ ràng rằng phải cảnh giác với chúng và cũng cần phải chấn chỉnh lại chính mình./.

NHẬN DIỆN VỀ TÀ ĐẠO GIÊ SÙA, BÀ CÔ DỢ TRONG DÂN TỘC MÔNG


Tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tuyên truyền, tập hợp lực lượng để lập cái gọi là “Nhà nước Mông” gây ra tình trạng phức tạp về an ninh, trật tự. Vậy nguồn gốc, bản chất và hoạt động của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ trong dân tộc Mông như thế nào?
Nguồn gốc của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ
đạo Giê Sùa do đối tượng David Her (tên thật là Hờ Chá Sùng, tự xưng là mục sư, người dân tộc Mông, quê quán ở huyện Phôn Xa Vẳn, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa DCND Lào, hiện đang sinh sống ở bang California, Mỹ) lập ra năm 2015. David Her tự nhận mình là người đưa tin của chúa Giê Sùa, cho rằng chúa Giê Sùa sẽ tái lâm, bảo vệ và lãnh đạo người Mông xây dựng nhà nước riêng. “Hội thánh chúa Giê Sùa” đã chỉnh sửa, xuyên tạc giáo lý, giáo luật của đạo Tin Lành để tuyên truyền cho rằng, tên chúa Giê Su phải gọi là Giê Sùa và giải thích Giê Su là tên do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người.
“Hội thánh chúa Giê Sùa” không công nhận Adam và Eva mà thay vào đó là chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết của người Mông, không tà đạo lễ giáng sinh và phục sinh hàng năm; không bắt buộc tín đồ phải dâng quỹ dâng hiến 10%. David Her đã đăng tải, tán phát các đoạn video clip, bài viết trên trang website “www.covntseegye[1]suamessiah.com” và trang youtube nhằm tuyên truyền, lôi kéo, kích động người Mông theo tà đạo Giê Sùa.
Đáng chú ý, Hờ Chá Sùng tuyên truyền, kêu gọi tà đạo Giê Sùa là tôn giáo riêng cho người Mông; chúa Giê Sùa sẽ tái lâm để bảo vệ, lãnh đạo người Mông xây dựng nhà nước riêng; tuyên truyền, kích động người Mông ở các nơi về tỉnh Xiêng Khoảng, Lào để chiến đấu, xây dựng “Nhà nước Mông”. Hờ Chá Sùng nhận mình chính là người đưa tin của chúa Giê Sùa và biết trước ngày chúa Giê Sùa sẽ tái lâm trong thời gian tới, sẽ làm vua của dân tộc Mông. Ai tin tưởng đi theo chúa Giê Sùa thì có được đất nước riêng của người Mông, cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc....
Một số điểm nhóm theo tà đạo Giê Sùa đã công khai cầu nguyện, mong muốn chúa Giê Sùa về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông” với các luận điệu “Chúng tôi đi theo Giê Sùa thì kiên quyết theo”, “chúng tôi đang làm đất nước Mông, trước đây Tráng A Chớ ở Mường Nhé làm không thành công thì chúng tôi sẽ làm thành công”...
Tà đạo Bà Cô Dợ do đối tượng Vừ Thị Dợ, sinh năm 1977, là người Mông gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại thành phố Milwaukee, bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm hội trưởng từ cuối năm 2016. Vừ Thị Dợ đã đăng tải, tán phát nhiều video clip trên YouTube với nội dung con trai của Dợ, sinh năm 2000, là chúa Giê Su, đến năm 2018 (đủ 18 tuổi) sẽ tái lâm làm vua của người Mông. Vừ Thị Dợ đã lập ra nhóm đạo có tên “Đức Chúa trời yêu thương chúng ta” hay còn gọi là Bà Cô Dợ và lôi kéo mọi người tin theo và tham gia nhóm đạo trên để tập hợp lực lượng, lập nhà nước riêng của người Mông. Vừ Thị Dợ trước đây tin theo Công giáo và Tin lành nhưng có nhiều vi phạm về giáo lý, giáo luật, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc Kinh thánh hai tôn giáo này nên đã bị khai trừ ra khỏi giáo hội. Sau khi bị khai trừ, Vừ Thị Dợ đã lập trang mạng kiếm tiền từ YouTube kết với truyền đạo. Những người tin theo tà đạo Bà Cô Dợ không tà đạo lễ Phục sinh, chỉ tà đạo lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của chúa Cứ Nu Si Lông, tuyên truyền rằng không phải đóng 10% thu nhập, ai tin theo Bà Cô Dợ sẽ được chia tiền. Sáng chủ nhật hằng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm nhóm.
Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ; nội dung chủ yếu chúng tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc Kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo Bà Cô Dợ tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.
Bản chất, hoạt động của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ
Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạonhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác.
Thời gian tới, chúa sẽ tái lâm làm vua của dân tộc Mông, ai tin tưởng đi theo chúa Giê Sùa thì có được đất nước riêng của người Mông, cuộc sống sẽ ấm no, hạnh phúc. Theo đạo Giê Sùa, đạo Bà Cô Dợ khi có chiến tranh, thiên tai thì sẽ được đưa đến đất nước của chúa sinh sống; kêu gọi người Mông phải đoàn kết để chung tay xây dựng đất nước riêng của người Mông...
Đáng chú ý, trong một buổi sinh hoạt, nhóm đối tượng ở bản Na Cô Sa 3, xã Na Cô Sa, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên công khai cầu nguyện, mong muốn chúa Giê Sùa về phù hộ, dẫn dắt để có được “Nhà nước Mông”. Khi chính quyền đến tuyên truyền, vận động thì số này tỏ thái độ chống đối đến cùng và xé biên bản vi phạm hành chính. Một số đối tượng ở xã Pú Xi, huyện Tuần Giáo khi được người đứng đầu các hệ phái Tin Lành tuyên truyền quay lại tôn giáo chính thống đã công khai tuyên bố: “Ở Mường Nhé hoạt động “Nhà nước Mông” không thành thì người Mông ở huyện Tuần Giáo sẽ làm, mọi người phải tin theo Giê Sùa để lập “Nhà nước Mông”, ai làm lộ thông tin sẽ giết người đó...”! Một số đối tượng cầm đầu “Nhà nước Mông” đã thường xuyên liên lạc, chỉ đạo hoạt động cho số đối tượng cầm đầu các điểm nhóm “Giê Sùa”, tuyên truyền với những luận điệu cho rằng, đi theo Giê Sùa thì mới có “Nhà nước Mông”. Một số người tin theo tà đạo Giê Sùa còn bao che, dẫn đường, cung cấp lương thực cho số đối tượng tham gia hoạt động lập “Nhà nước Mông” trong quá trình trốn tránh lực lương chức năng truy bắt…
Bên cạnh đó, chúng thông qua việc hỗ trợ tài chính cho số đối tượng cầm đầu, cốt cán ở trong nước để động viên, chỉ đạo lôi kéo, phát triển tín đồ. Từ năm 2018 đến nay, nhóm của đối tượng Vừ Thị Dợ ở Mỹ đã công khai chỉ trích một mục sư ở trong nước và một số mục sư Tin Lành khác ở Mỹ là tà giáo, kêu gọi người Mông không tin những mục sư trên. Từ năm 2017 đến nay, đối tượng Vừ Thị Dợ và số đối tượng cốt cán ở Mỹ đã nhiều lần gửi tiền cho đối tượng cầm đầu, cốt cán ở Điện Biên, Lai Châu để hoạt động.
Số đối tượng cốt cán trong tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ ở các tỉnh Tây Bắc và một số tỉnh ở Tây Nguyên đã chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ, có đối tượng đứng đầu chỉ đạo, phụ trách; có sự trao đổi thông tin, tình hình và thống nhất về cách thức hoạt động và chịu sự chỉ đạo chung của đối tượng ở Mỹ. Tuy nhiên, tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ chưa có cơ cấu tổ chức rõ ràng mà chia thành nhiều nhóm hoạt động riêng lẻ; không có giáo lý, giáo luật, hiến chương, điều lệ cụ thể, hoạt động chủ yếu cắt xén giáo lý của đạo Tin lành, bị các chức sắc Tin lành Mông ở Mỹ và nhiều nước lên án. Tài liệu tuyên truyền, sinh hoạt chủ yếu do Vừ Thị Dợ và David Her soạn thảo, tán phát trên mạng Internet dựa vào giáo lý, giáo luật của đạo Tin lành nhưng có lược bỏ, sửa đổi.
Luận điệu tuyên truyền, tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ đã đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục tập quán truyền thống của đồng bào dân tộc Mông, coi các tôn giáo khác là tà giáo, còn bản thân tự nhận là tôn giáo chính thống của người Mông. Những gì mà các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ tuyên truyền là hoàn toàn trái ngược với thuần phong mỹ tục cũng như những giá trị chuẩn mực về đạo đức, văn hóa của đồng bào dân tộc Mông; không được pháp luật Việt Nam cho phép. Vì vậy, việc nhận thức rõ bản chất của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ để kịp thời ngăn chặn, xử lý hoạt động phi pháp, nguy hiểm của những đối tượng cầm đầu, cốt cán đang tích cực tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia vào các hoạt động gây phức tạp về tình hình an ninh, trật tự trong giai đoạn hiện nay.
ST
Có thể là hình ảnh về 3 người, mọi người đang ngồi và mọi người đang đứng
4
1 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

230 năm ngày mất vua Quang Trung - Vị Anh hùng kiệt xuất của nước Việt

 Phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn vào nửa cuối thế kỷ thứ XVIII gắn liền với sự nghiệp của ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, mà tiêu biểu là Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ, vị lãnh tụ kiệt xuất, trí dũng song toàn, người đã đưa phong trào Tây Sơn từ cuộc khởi nghĩa nông dân trở thành phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ một tướng lĩnh tài ba bách chiến, bách thắng, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã trở thành vị anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự, đánh đổ các thế lực phong kiến các cứ Lê, Trịnh, Nguyễn, xóa bỏ ranh giới Sông Gianh chia cắt đất nước trên 200 năm, quét sạch 5 vạn quân Xiêm với chiến công Rạch Gầm -Xoài Mút vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử năm Kỷ Dậu 1789, đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Quang Trung - Nguyễn Huệ không những là nhà quân sự thiên tài mà còn là nhà chính trị lỗi lạc với nhiều chính sách chiêu hiền, đãi sĩ, thu phục nhân tâm, lãnh đạo đất nước trên các phương diện kinh tế, văn hoá, xã hội và bang giao hữu nghị với các nước láng giềng, hòa nhập vào tiến bộ chung của nhân loại.

 
230NamGioHDeQTrung 01
Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh và nguyên lãnh đạo tỉnh dâng hoa Tượng đài Hoàng đế Quang Trung

          Nhưng vị anh hùng áo vải cờ đào từng đánh Nam, dẹp Bắc trải nhiều gian lao trên đường chinh chiến đã đột ngột băng hà ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (năm 1792). Vị anh hùng kiệt xuất đã ra đi, cả dân tộc đau xót mất đi đấng minh quân, một anh hùng với bao hoài bão còn dang dở: “…Hỡi ôi! Trời thương dân Lạc Việt, phát đến Đức vũ hoàng… Nhớ tôn linh xưaSức đề binh khiển tướng trăm trận chẳng hề thua. Lòng trọng sĩ tôn hiền muôn đời còn mãi nhắc… Nhưng than ôi! Trời chửa vá xong, Rồng sao vội khuất! Biển Thị Nại bèo mây tản mát. Trời Phú Xuân sương gió lạnh lùng! Chúng tôi nay: Tranh vĩ nhân trải rộng xem chung, dòng lịch sử mở ra ôn lại. Bồi hồi chạnh nghĩ xuân xưa! Kính cẩn cúi dâng lễ mọn!... (Trích Văn tế vua Quang Trung của nhà thơ Quách Tấn - Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn phụng soạn).
Cuộc đời của Quang Trung - Nguyễn Huệ chỉ có 39 mùa xuân, nhưng ông đã cống hiến tất cả tâm hồn, trí tuệ, tài năng, nghị lực của mình cho cuộc đấu tranh vì lợi ích của dân tộc. Với chính nghĩa sáng ngời, tài năng và đức độ cao cả, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã tô điểm cho lịch sử nước nhà một trang vàng chói lọi. Sự nghiệp vẻ vang của phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ là khúc ca hùng tráng trong thiên anh hùng ca bất diệt của dân tộc ta.
 
230NamGioHDeQTrung 02
Các đoàn đại biểu vào dâng hương Khu Đền thờ Tây Sơn Tam kiệt

           Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, hàng năm Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung được long trọng tổ chức theo nghi thức truyền thống vào ngày 29/7 âm lịch tại Di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt. Kỷ niệm 230 năm Ngày mất Hoàng đế Quang Trung (1792 - 2022), sáng ngày 26/8/2022, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Bình Định đã long trọng tổ chức Lễ dâng hoa tại Tượng đài và Lễ giỗ, dâng hương tại Đền thờ Tây Sơn Tam kiệt. Tham dự lễ giỗ có Đ/c Hồ Quốc Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đ/c Lê Kim Toàn, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh; lãnh đạo các sở, ban, ngành, hội đoàn thể tỉnh; lãnh đạo huyện Tây Sơn và các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; Đoàn đại biểu Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Đoàn đại biểu thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đại biểu các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, cùng đông đảo nhân dân địa phương và du khách.    
          Lễ giỗ Hoàng đế Quang Trung là dịp để tỏ lòng thành kính, tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của vị anh hùng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tưởng nhớ Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ là tưởng nhớ đến một lãnh tụ thiên tài, nhà quân sự kiệt xuất, một vị Hoàng đế anh minh đã hết lòng vì độc lập dân tộc, vì sự bình an, hạnh phúc của nhân dân. Tinh thần, khí chất, trí tuệ, di sản của vua Quang Trung mãi mãi trường tồn cùng dân tộc, góp phần giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau, là nguồn cổ vũ, động viên để các thế hệ tiếp bước cha ông, phấn đấu xây dựng, phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.

ĐỀ XUẤT BỔ SUNG CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO LỰC LƯỢNG VŨ TRANG


Tại dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), Bộ Xây dựng đề xuất bổ sung chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang.
Dự thảo nêu rõ, đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang bao gồm: Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân và viên chức quốc phòng, công chức quốc phòng, người làm công tác cơ yếu thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quy định về điều kiện thụ hưởng chính sách nhà ở cho lực lượng vũ trang.
Kế hoạch phát triển nhà ở cho lực lược vũ trang
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm xác định nhu cầu và xây dựng kế hoạch phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang cho các đối tượng quy định và trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Xây dựng.
UBND cấp tỉnh lập và phê duyệt kế hoạch phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang trong kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương theo quy định trên cơ sở nhu cầu và kế hoạch của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Cơ quan lập kế hoạch phải xác định rõ nhu cầu về nhà ở cho lực lượng vũ trang bao gồm loại nhà ở, số lượng, diện tích sàn nhà ở; địa điểm xây dựng và diện tích đất để xây dựng nhà ở; nguồn vốn và phân kỳ đầu tư hằng năm và 05 năm; xác định trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Hình thức phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang
Theo dự thảo, nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở cho lực lượng vũ trang bằng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công để cho các đối tượng quy định thuê.
Doanh nghiệp, hợp tác xã bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà ở cho lực lượng vũ trang để cho các đối tượng quy định mua, thuê mua, thuê.
Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở cho lực lượng vũ trang là nhà chung cư phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Căn hộ chung cư phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội./.
Nguồn: Báo Xây dựng
Có thể là hình ảnh về 2 người và ngoài trời

Ngày này năm xưa: 15 /9/2022: Mở màn chiến dịch Biên giới Tiêu diệt cứ điểm Đông Khê

Ngày 16 tháng 9 năm 1950, trung đoàn 174 và trung đoàn 209 của quân Việt Minh do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái chỉ huy (khi đó ông là: Tổng Tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam và làm Tham mưu trưởng chiến dịch), chủ động đánh chiếm cứ điểm Đông Khê đầu tiên với mục đích: chắc chắn đạt được thắng lợi; cô lập Cao Bằng, uy hiếp cứ điểm Thất Khê từ đó phá thế trận phòng thủ của quân Pháp trên đường số 4; mở đầu Chiến dịch Biên giới thu đông 1950.

Thị trấn Đông Khê thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nằm dọc theo đường số 4, trên ngã ba đường đi Cao Bằng, Tà Lùng, Thất Khê. Cách Đông Khê 45 km về phía bắc là TX Cao Bằng, 15 km về phía nam là Pò Khẩu, 5–7 km về phía đông là Phìa Khoá, 12 km về phía tây là làng Hạc.

Cụm cứ điểm Đông Khê nằm trong hệ thống phòng thủ Cao Bắc Lạng, trực thuộc phân khu Thất Khê. Lực lượng Pháp có 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 bộ binh lê dương trấn giữ và 1 trung đội bảo an do đại úy Allioux chỉ huy, quân số khoảng 350. Vũ khí có 2 đại bác 105mm, 2 súng cối 81mm, 2 cối 60mm, 2 pháo 57mm, 2 pháo 20mm. Bố trí thành 2 khu vực chính là khu trung tâm và ngoại vi. Cứ điểm Đông Khê có hoả lực mạnh, công sự kiên cố. các cứ điểm được xây dựng liên hoàn, có thể chi viện hỗ trợ nhau.

Để đảm bảo chắc thắng trận đầu, Ban chỉ huy mặt trận Đông Khê, do Hoàng Văn Thái phụ trách, quyết định sử dụng một lực lượng ưu thế để đánh Đông Khê. Nhiệm vụ các đơn vị được phân công như sau:

Trung đoàn 174 được tăng cường tiểu đoàn 426, tiểu đoàn 11 Đại đoàn 308, sáu khẩu sơn pháo 75mm, bốn khẩu ĐKZ 57mm có nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu từ hướng đông bắc và bắc.

Trung đoàn 209 được tăng cường bốn khẩu sơn pháo 75mm, hai khẩu ĐKZ, có nhiệm vụ tiến công trên hướng thứ yếu từ hướng tây nam và tây.

Tiểu đoàn pháo 75mm gồm ba khẩu bố trí ở đông cụm cứ điểm, chi viện trực tiếp cho trận đánh.

Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 bố trí ở đông nam Đông Khê, có nhiệm vụ tiêu diệt quân nhảy dù và chặn đánh quân Pháp ở Đông Khê chạy về phía nam, đồng thời làm lực lượng dự bị đánh Đông Khê khi cần thiết.

Sáng ngày 16/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp dậy sớm lên đài quan sát trên một mỏm núi liền với bản Nà Lạn. Ngọn núi này cách Đông Khê khoảng 10 km theo đường chim bay. Từ đây có thể theo dõi tình hình chung của trận đánh qua ống nhòm.

Sáng ngày 16/9 năm 1950, Đông Khê, 6 giờ 30, Một trận pháo kích lớn đổ xuống những trận địa Pháp ở đây. Trung đoàn 174 tổ chức mở cuộc tiến công các vị trí tiền tiêu, đến 9 giờ chiếm được đồn Yên Ngựa, 10 giờ 30 phút, chiếm đồn Thìa Khóa (phía đông cách pháo đài 200m). Hướng tây nam, trung đoàn 209 triển khai trận địa chậm, nên đến 18 giờ mới nổ súng, 21 giờ diệt được đồn Pò Đình, tiếp tục tiến công đồn Pò Hầu, nhưng hết ngày vẫn chưa giải quyết xong.

Ở Cao Bằng, Trung tá Charton, chưa nhận được lệnh của cấp trên, vẫn dựa vào những thông tin của tướng Marchand cho ông ta cách đây 3 ngày. Ông ta chưa biết những do dự của bộ chỉ huy cấp cao, nhưng từ sáng đến giờ, ông ta biết rõ: "Tiếng pháo nổ vang liên tục ở phía nam! chắc là ở Đông Khê, lần này có vẻ rất nghiêm trọng..."

Ngày 17/9, ở Đông Khê, tình hình trở nên rất khó khăn cho Pháp. Trong pháo đài, hệ thống phòng thủ bị cắt ra làm đôi. Đến 4 giờ sáng, trung đoàn 174 chiếm được Cẩm Phầy, trung đoàn 209 chiếm được Phủ Thiện, Nhà Cũ, khu trường học. Vào cuối buổi sáng, 1 chiếc Morane vẫn quan sát cờ tam tài bay trên pháo đài. Trung sỹ nhất Rajault, phi công thuộc phi đội 3/6 "Roussillon" đồn trú ở Gia Lâm trên chiếc P63 Kingcobra số 599, trong một đợt rải đạn yểm trợ cho pháo đài đã bị bộ đội Việt Minh dùng ba khẩu M2 Browning với 405 viên đạn thu được của quân Pháp bắn rơi ở phía nam Đông Khê. Cuối ngày hôm đó, trước sự chống cự quyết liệt của lính lê dương Pháp, cuộc tấn công bị dừng lại một thời gian.

Vào 18 giờ 30, tướng Hoàng Văn Thái, chỉ huy trực tiếp trận đánh hạ lệnh tổng tấn công. Tiểu đoàn 251 tiến công trên hướng đông pháo đài, đã chiếm được đầu cầu. Trên hướng bắc, tiểu đoàn 249 cũng chiếm được đồn Nhà Thương, phát triển vào bên trong, bắt liên lạc được với trung đoàn 209, cùng phối hợp tổ chức mũi tiến công vào sau lưng pháo đài. Trận chiến đấu ác liệt kéo dài suốt đêm, nhiều chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm: Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tiểu đội trưởng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương để tiếp tục lao lên đánh bộc phá.


Sau 54 giờ chiến đấu, đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ, mặc dù đã được không quân yểm trợ. Quân Pháp bị diệt hơn 120 lính, bị bắt 200, chỉ có 20 lính thoát vây chạy vào rừng. Đại úy Jeaugeon cùng khoảng 20 lính lê dương trốn thoát được về Thất Khê ngày 24/9, quần áo tả tơi, đói khát và kiệt sức. Đại úy Allioux, chỉ huy cứ điểm, bị bắt cùng với số còn lại. Pháp mất 1 máy bay khu trục bị bắn rơi; 2 pháo 105mm, 1 pháo 57mm, 1 cối 81mm, 1 trọng liên, 5 đại liên, 3 khẩu PIAT, 13 trung liên, 2 cac bin, 2 súng ngắn, 162 súng trường bị tịch thu. Phía Việt Minh có 130 người tử trận và 223 bị thương.

Lần đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng cho chiến dịch, đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy.

Chiến thắng Đông Khê đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4, khiến phòng tuyến của Pháp bị cắt ra làm đôi. Đây là trận chiến đấu công kiên có quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt 1 cứ điểm lớn của Pháp bố trí phòng ngự trong công sự kiên cố, hoả lực mạnh, quân số đông ở địa hình rừng núi hiểm trở.

Hướng mặt trận Na Sầm - Lạng Sơn, trước khi đánh Đông Khê, bộ đội địa phương đã phá bốn cầu, nhiều đoạn đường trên đường 4 đoạn phía nam Thất Khê. Ngày 16 tháng 9, tiểu đoàn 428 phục kích ở đoạn Pắc Luông đánh tiểu đoàn 3 Ta-bo từ Lạng Sơn lên Na Sầm, phá bốn xe, diệt 60 lính. Ngày 17 tháng 9, tiểu đoàn 888 phục kích ở Tha Lai phá hai xe, diệt 120 lính, đến 18 tháng 9 phá cầu Tha Lai.

77 năm ngày thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.

 Lịch sử hình thành Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (Việt Nam)

Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới do ông Nguyễn Ngọc Xuân làm trưởng phòng, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội. Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kỹ thuật vũ khí; văn phòng.

Thực hiện sắc lệnh số 34/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng Quân giới tổ chức thành Cục Chế tạo Quân giới, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam. Phụ trách chung là ông Vũ Anh (Chế tạo Cục trưởng theo Sắc lệnh 35/SL ngày 25/3/1946[2]). Đồng thời ở các khu chuẩn bị thành lập các ty, khoa hoặc phòng quân giới để trực tiếp chỉ đạo các xưởng sửa chữa sản xuất vũ khí cho các đơn vị trong khu.

Ngày 4 tháng 2 năm 1947, Chế tạo Quân giới cục đổi tên thành Cục Quân giới do kỹ sư vũ khí nổi tiếng, sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa làm Cục trưởng. Cơ quan cục kiện toàn thành 3 nha và một phòng.

Nha Nghiên cứu kỹ thuật (có một xưởng sản xuất mẫu) do ông Trần Đại Nghĩa cục trương kiêm giám đốc, ông Hoàng Đình Phu phó giám đốc. Nhiệm vụ: nghiên cứu, thiết kế, chế thử các loại vũ khí mới theo yêu cầu chiến đấu. Nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả các vũ khí sản xuất, nghiên cứu các vật liệu thay thế.

Nha Giám đốc binh công xưởng do ông Nguyễn Duy Thái làm giám đốc. Nhiệm vụ: Chỉ đạo kế hoạch và kỹ thuật sản xuất của các binh công xưởng, các ty quân giới

Nha Mậu dịch do ông Nguyễn Ngọc Xuân phó cục trưởng kiêm giám đốc, ông Nguyễn Quang phó giám đốc. Nhiệm vụ tìm nguồn vật tư và tổ chức thu mua máy móc, nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất quân giới.

Phòng Văn thư do ông Vũ Văn Đôn phụ trách. Nhiệm vụ quản lý hành chính, kế toán tài vụ và vận tải.

Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Cung cấp, Bộ Tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.

Ngày 4 tháng 11 năm 1958, Bộ trưởng Quốc phòng ra Nghị định số 262/NĐA sáp nhập hai Cục Quân giới và Cục Quân khí, tổ chức thành Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Ông Nguyễn Văn Nam làm Cục trưởng.

Ngày 29 tháng 1 năm 1966, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 128/QĐQP tách Cục Quân giới thành 2 cục Quân khí và Quân giới.

Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (số 39/QUTW ngày 5 tháng 4), Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định (số 221/CP) thành lập Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng. Ngành Quân giới được tổ chức thành các cục: Cục Quản lý kỹ thuật - sản xuất, Cục Quản lý xí nghiệp và các nhà máy, xí nghiệp chế tạo vũ khí - khí tài - đạn dược trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng.

Ngày 5 tháng 4 năm 1976, Tổng cục Xây dựng Kinh tế được thành lập theo Nghị định 59/CP của Chính phủ. Cuối năm 1979 được thu hẹp dần và đến cuối những năm 1980 thì được giải thể.

Ngày 7 tháng 11 năm 1985 Tổng cục Kinh tế được thành lập theo Nghị định số 260/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập với tên gọi Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế trên cơ sở Tổng cục Kinh tế và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam - cơ quan quản lý các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng.

Ngày 24 tháng 12 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 249/1998/QĐ-TTg thành lập và thay đổi một số tổ chức trực thuộc Bộ Quốc phòng. Trong đó có nội dung: “Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế thôi nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về kinh tế, động viên công nghiệp và đổi tên thành Tổng cục Công nghiệp quốc phòng”.[3]

Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam được tổ chức lại và mang tên gọi hiện nay khi Bộ Quốc phòng tách hai chức năng quản lý công nghiệp quốc phòng - giao cho Tổng cục và chức năng quản lý Quân đội làm kinh tế (quản lý các doanh nghiệp quân đội) giao cho Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng.

Theo Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng đã được Ủy ban Thường vụ QH khóa XII thông qua ngày 26-1 thì Cơ sở công nghiệp quốc phòng bao gồm: Cơ sở nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, vật tư kỹ thuật được Nhà nước đầu tư phục vụ quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng (cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt) do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý. Cơ sở sản xuất công nghiệp được Nhà nước đầu tư xây dựng năng lực sản xuất phục vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật động viên công nghiệp (cơ sở công nghiệp động viên) do Bộ Công thương quản lý.

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh ngày 18/12/2007, tại phiên họp thứ 3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội "...Sau năm 2012 công nghiệp quốc phòng cần hội nhập với công nghiệp quốc gia và do Chính phủ quản lý, Bộ Quốc phòng chỉ quản lý các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt..."