Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

Đôi nét về phương pháp của V.I.Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 V.I. Lê-nin chỉ rõ, phong trào công nhân cần có một đảng cách mạng lãnh đạo, đó phải là một đảng kiểu mới, thật sự có năng lực xây dựng cương lĩnh chính trị đúng đắn để lãnh đạo cách mạng. V.I. Lê-nin nhấn mạnh, đảng kiểu mới là đảng lấy chủ nghĩa Mác - lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học - làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Bởi “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(1) và “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(2). Quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác cho thấy, chủ nghĩa Mác không phải ngay từ đầu đã khẳng định được địa vị của mình, mà quá trình đó luôn gắn chặt với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống các trào lưu tư tưởng đối lập cùng thâm nhập vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đây là tính quy luật trong phát sinh, hình thành, phát triển và hoàn thiện của bất cứ một học thuyết cách mạng nào.

Theo Lê-nin, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, làm thất bại các trào lưu tư tưởng sai trái, phản động, phản khoa học, khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác trong Đảng, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. “Nếu không có cuộc đấu tranh quyết định và thẳng tay về mọi mặt để chống lại các đảng ấy - hoặc các nhóm ấy, các phái ấy, v.v., cũng vậy thôi - thì không thể nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, nói đến chủ nghĩa Mác, nói đến phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa”(3). Thực tiễn cách mạng đã chứng minh từ năm 1840 đến nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XIX, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã phải đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng đối lập, phản động, phản khoa học. Từ phái Hê-ghen trẻ cấp tiến - phái tuyên truyền quan điểm của chủ nghĩa duy tâm triết học, đến lý luận kinh tế, chống chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản của Pru-đông. Từ các quan điểm vô chính phủ của phái Ba-cu-nin và loại bỏ phái này ra khỏi Quốc tế I, đến tư tưởng Muyn-béc-giơ thuộc phái kinh tế của Lát-xan nổi lên ở Đức... Từ đó, chủ nghĩa Mác đã chiến thắng tất cả những tư tưởng đối lập và chiếm vị trí độc tôn trong phong trào công nhân quốc tế. 

Kế tục sự nghiệp của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, V.I. Lê-nin luôn đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng phi mác-xít, phần tử cơ hội chủ nghĩa biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của phong trào cách mạng nói chung, của Đảng Cộng sản Nga nói riêng. Đây là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác của V.I. Lê-nin không những trực tiếp đánh bại mọi trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với chủ nghĩa Mác, nhằm làm cho chủ nghĩa Mác không ngừng phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn cờ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới vì chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, mà còn để lại những bài học có giá trị to lớn về phương pháp đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cho các đảng cộng sản, công nhân quốc tế trên thế giới. Từ thực tiễn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của V.I. Lê-nin, có thể khái quát phương pháp của V.I.Lê-nin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên một số nét chính sau:

Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm cho chủ nghĩa Mác phát triển không ngừng. Đây là phương pháp cơ bản mà V.I. Lê-nin sử dụng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm làm cho quần chúng lao động, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhận thức sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, làm cơ sở “miễn dịch” trước âm mưu, thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực phản động, thù địch. V.I. Lê-nin cho rằng: “Nhiệm vụ của đảng dân chủ - xã hội chính là ở chỗ phải dùng phương pháp tổ chức công nhân, tuyên truyền và cổ động họ để biến cuộc đấu tranh tự phát của họ chống bọn áp bức, thành một cuộc đấu tranh của toàn thể giai cấp, thành cuộc đấu tranh của một đảng chính trị nhất định, để đạt tới những lý tưởng chính trị và xã hội chủ nghĩa nhất định”(4). “Chỉ khi nào mỗi người công nhân riêng rẽ đều có ý thức rằng mình là thành viên của toàn bộ giai cấp công nhân, chỉ khi nào người công nhân đó nhận thấy rằng cuộc đấu tranh hàng ngày cho những yêu sách nhỏ, chống những tên chủ riêng rẽ và những tên quan lại riêng rẽ, là cuộc đấu tranh chống toàn bộ giai cấp tư sản và toàn thể chính phủ, chỉ khi đó cuộc đấu tranh của anh ta mới trở thành đấu tranh giai cấp”(5).

Theo V.I. Lê-nin, muốn phát triển chủ nghĩa Mác thì phải hiểu đúng, sâu sắc, toàn diện chủ nghĩa Mác. Đặc biệt, việc nghiên cứu, tìm hiểu sâu sắc bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn là cơ sở để giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhận rõ bản chất phản động, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động. V.I. Lê-nin giải thích rằng, ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa không phải phát sinh từ phong trào tự phát của công nhân, mà do Đảng Mác-xít cách mạng đưa vào phong trào công nhân. Đồng thời, một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của đảng vô sản là đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chống ảnh hưởng tư sản trong giai cấp công nhân, chống bọn cơ hội, xét lại - những kẻ truyền bá và là đại diện của hệ tư tưởng tư sản trong phong trào công nhân.

Cùng với việc đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác, V.I. Lê-nin còn tích cực phát triển, hiện thực hóa chủ nghĩa Mác, coi đây là biện pháp tốt nhất để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác. Theo V.I. Lê-nin, vấn đề này đòi hỏi không chỉ lòng dũng cảm, sự cố gắng phi thường, lòng nhiệt huyết cách mạng, mà còn là hành động cách mạng thực sự của quần chúng lao động trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi lẽ, sức sống của chủ nghĩa Mác, khả năng bảo vệ, phát triển của chủ nghĩa Mác không chỉ ở sức mạnh và khả năng tự thân, mà quan trọng hơn là nằm ở hoạt động của triệu triệu quần chúng, cán bộ, đảng viên cộng sản, khi họ đã nhận thức và tin tưởng sâu sắc sự đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác. Điều đó đã tạo nên sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác, đem lại sức mạnh cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làm cơ sở để chiến thắng các tư tưởng đối lập xuất hiện cả ở trong và ngoài phong trào công nhân.

Thứ hai, kiểm tra, phát hiện kịp thời, thanh lọc nhằm loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong nội bộ Đảng, xây dựng chính đảng kiểu mới, trong sạch, vững mạnh của giai cấp công nhân. Đây là phương pháp chủ yếu, hàng đầu được V.I. Lê-nin tiến hành khi đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tư tưởng đó của Người được thể hiện trong nhiều tác phẩm kinh điển, các bài viết chỉ đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới nói chung, ở nước Nga nói riêng. Theo V.I. Lê-nin, các phần tử cơ hội chủ nghĩa thường len lỏi vào trong hàng ngũ những người cộng sản để phá hoại tổ chức đảng từ bên trong; hành động chống phá của các phần tử này rất nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng. Người chỉ rõ: “bộ máy nhà nước của chúng ta, trong một mức độ rất lớn, vẫn còn là một tàn dư của thời trước, và rất hiếm được sửa đổi một cách ít nhiều đáng kể. Bộ máy ấy chỉ mới được tô điểm sơ qua bên ngoài; ngoài ra, nó vẫn là điển hình thật sự của bộ máy nhà nước cũ ở ta”(6). “Ở nước ta, vẫn còn không ít những phần tử tệ hại nhất của giới trí thức tư sản đã “luồn lỏi” vào trong Chính quyền xô-viết: tống cổ chúng đi”(7).

Khi đảng cộng sản đã nắm quyền lãnh đạo đất nước, V. I. Lê nin chỉ ra và cảnh báo về những căn bệnh đã và đang trở thành nguy cơ hiện hữu đe dọa sự tồn vong của chế độ xã hội mới và để kẻ thù lợi dụng hòng xóa bỏ mọi thành quả của cách mạng. Đó là những căn bệnh kiêu ngạo cộng sản, quan liêu, tham nhũng, hối lộ, xa hoa, lãng phí... Người chỉ rõ: “Tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, có nghĩa là một người ở trong đảng cộng sản, và chưa bị thanh trừ ra khỏi đảng, tưởng rằng chỉ bằng những pháp lệnh cộng sản là có thể giải quyết được tất cả mọi nhiệm vụ của mình”(8) và “nếu còn có một hiện tượng như nạn hối lộ, nếu còn có thể hối lộ được, thì cũng không thể nói đến chính trị được. Trong trường hợp này, thậm chí cũng không thể nói đến làm chính trị được, vì mọi biện pháp đều sẽ lơ lửng trên không trung, sẽ hoàn toàn không mang lại kết quả gì cả”(9).

V.I. Lê-nin đã đưa ra quan điểm dứt khoát về quá trình thanh lọc bộ máy nhà nước: “phải vĩnh viễn vứt bỏ ngay tất cả những tiêu chuẩn chung về số lượng nhân viên của các cơ quan thuộc bộ ấy. Chúng ta phải lựa chọn đặc biệt cẩn thận những cán bộ của Bộ dân ủy thanh tra công nông, căn cứ vào một sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất, chứ không khác được”(10). Điều đó nghĩa là, phải lựa chọn những người thực sự ưu tú trong chế độ xã hội để sử dụng trong bộ máy của Nhà nước, nhất là đối với những thành viên của Ủy ban Thanh tra Trung ương. Sử dụng con người phải đúng việc, cân nhắc thận trọng, coi việc thiết lập Bộ Dân ủy thanh tra công nông mới là cần thiết. Vì vậy, V.I. Lê-nin khẳng định, Đảng cần kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng để tẩy sạch các phần tử tha hóa, biến chất trong tổ chức của mình, nhằm làm trong sạch Đảng. Người cũng chỉ ra, cần lựa chọn những cán bộ cách mạng có phẩm chất cách mạng và tri thức tốt để phục vụ cách mạng.

Thứ ba, phê phán, đấu tranh không khoan nhượng, trực diện, trực tiếp với những quan điểm, tư tưởng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, của phong trào cách mạng. Đây là phương pháp cơ bản, quan trọng, thường xuyên được V.I. Lê-nin sử dụng trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. V.I. Lê-nin là lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, là người tiên phong trong đấu tranh làm thất bại những đòn tiến công hiểm độc của các thế lực thù địch, phản động trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ, nội dung, hình thức, lực lượng, phương tiện, thủ đoạn chống phá của chúng đối với chủ nghĩa Mác không giống nhau. Do vậy, để đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác có hiệu quả, V.I. Lê-nin lưu ý trước hết cần nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mà các thế lực thù địch, phản động, phản khoa học sử dụng để chống phá chủ nghĩa Mác.

Với tư duy luận chiến sắc sảo, V.I. Lê-nin đã đấu tranh trực tiếp, trực diện với từng quan điểm, tư tưởng chống phá chủ nghĩa Mác. Người yêu cầu những người cộng sản chân chính phải tỏ rõ thái độ dứt khoát, không mơ hồ, thỏa hiệp, kiên quyết đấu tranh trực diện, trực tiếp với chính những quan điểm, tư tưởng phản động của các thế lực thù địch. Chẳng hạn, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, bằng việc điểm mặt, chỉ tên rõ các phần tử cơ hội chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã trực tiếp luận chiến, vạch trần âm mưu, bản chất phản động của chúng. Người khẳng định: “Và chính hồi đó, vị lãnh tụ của Quốc tế II, ông Cau-xky đã cho xuất bản một cuốn sách về chuyên chính vô sản, nghĩa là về cách mạng vô sản, một cuốn sách còn trăm lần đê tiện, đáng ghét và phản bội hơn cuốn sách lừng danh “Những tiền đề của chủ nghĩa xã hội” của Bécstanh”(11) và “Cau-xky đã vứt bỏ... “đấu tranh giai cấp” áp dụng vào chế độ dân chủ! Cau-xky đã trở thành một tên phản bội hoàn toàn, một tên đày tớ của giai cấp tư sản”(12). Trong cuộc đấu tranh chống Crít-sép-xki, Mác-tư-nốp cùng đồng bọn cổ vũ cho sự phát triển của chủ nghĩa công liên, V.I. Lê-nin đã đấu tranh trực diện với các phần tử cơ hội chủ nghĩa đó: “Tôi không hề có ý nghi ngờ sự trong sạch của các ý định của ông; tôi đã nói rằng người ta cũng có thể trở thành người mị dân chỉ vì ngây thơ về chính trị thôi. Nhưng tôi đã vạch rõ rằng ông đã tự để cho mình rơi vào chỗ mị dân. Và tôi sẽ không ngừng nhắc lại rằng những người mị dân là kẻ thù tệ hại nhất của giai cấp công nhân”(13).

Bốn là, kiên quyết khắc phục những biểu hiện sai trái trong nhận thức, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác. Hoạt động nhận thức, vận dụng chủ nghĩa Mác của mỗi người cộng sản vừa phản ánh kết quả tuyên truyền, giáo dục, vừa thể hiện sức sống của chủ nghĩa Mác trong hiện thực. Những nhận thức sai trái, vận dụng không đúng đắn trong thực tiễn ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, sức sống của chủ nghĩa Mác cũng như khả năng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ảnh hưởng tiêu cực này càng lớn nếu phạm vi nhận thức, vận dụng sai trái đó ở quy mô lớn, thời gian dài, nhất là đối với những đảng viên giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. V.I.Lê-nin kịch liệt lên án cách hiểu chủ nghĩa Mác một cách giáo điều, máy móc, ở trình độ cảm tính, tư duy kinh nghiệm. Họ quy giản chủ nghĩa Mác vào một số nguyên lý, quy luật, phạm trù; vi phạm nguyên tắc khách quan. Hậu quả của tình trạng này sẽ làm suy giảm nghiêm trọng uy tín, sức sống của chủ nghĩa Mác, thậm chí trực tiếp tạo ra những phần tử cơ hội chống phá cách mạng.

Giai đoạn năm 1895 - 1898, phái “kinh tế” bao gồm các phần tử cơ hội, thỏa hiệp đầu tiên trong hàng ngũ các tổ chức mác-xít ở Nga. V.I. Lê-nin coi luận điệu tuyên truyền của phái “kinh tế” là phản lại chủ nghĩa Mác, là phủ nhận sự cần thiết phải thành lập một chính đảng độc lập của giai cấp công nhân; là mưu mô muốn biến giai cấp công nhân thành vật phụ thuộc về chính trị của giai cấp tư sản. V.I. Lê-nin cho rằng, phái “kinh tế” là trung tâm của chính sách thỏa hiệp và chủ nghĩa cơ hội; trong phong trào công nhân, nếu phái “kinh tế” thắng nghĩa là phong trào cách mạng tan rã và chủ nghĩa Mác thất bại. Do đó, muốn thành lập được chính đảng của giai cấp vô sản thì phải đánh bại phái “kinh tế”. 

Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet

 Đại hội XIII của Đảng đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch: “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục”(2).

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào những vấn đề tư tưởng, lý luận, đồng thời sử dụng không gian mạng là một mặt trận chính để chống phá ta, do đó công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng.

Thứ nhất, công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn, quyết liệt, nên tuyêt đối tránh tư tưởng xem nhẹ, lơ là, buông lỏng, mất cảnh giác. Cần lấy chính các phương tiện truyền thông mới và không gian mạng là phương tiện và nền tảng chủ đạo để khắc chế thủ đoạn dùng không gian mạng chống phá ta của các thế lực thù địch, theo phương châm “lấy độc trị độc”, tận dụng chính những ưu thế của các phương tiện truyền thông mới để phản tuyên truyền lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, thay vì phiến diện chỉ thấy các yếu tố tiêu cực, mặt trái của nó.

Thứ hai, làm loãng thông tin xấu, độc bằng xây dựng tuyến, luồng bài viết có thông tin tích cực hoặc trực diện phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch để liên tục phủ lên và tiến tới chiếm thế thượng phong trên không gian mạng, không gian các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội. Kết hợp hài hòa giữa lan tỏa phổ rộng thông tin với ngày càng coi trọng chiều sâu thông tin, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng hệ bài chuyên luận chuyên sâu bẻ gãy từ gốc những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch bằng lý luận, có hệ thống luận cứ, luận chứng chặt chẽ, tính thuyết phục cao, giúp độc giả hiểu sâu, thấy rõ bản chất vấn đề, từ đó có niềm tin khoa học vững chắc vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là phương thức đấu tranh có chiều sâu, căn cơ, kịp thời và chủ động ngăn chặn thủ đoạn chuyển hướng chống phá của các thế lực thù địch nhằm vào những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng và nền tảng lý luận của Đảng ta.

Thứ ba, giữ vững vai trò nòng cốt, chủ lực của hệ thống cơ quan chuyên trách đấu tranh tư tưởng, các cơ quan tuyên giáo, báo chí của Đảng, đồng thời mở rộng các kênh, lực lượng thông tin rộng khắp, làm chủ không gian thông tin trong nước và không gian mạng; xây dựng cơ chế chỉ đạo thông tin thống nhất, hiệp đồng thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến. Kết hợp thông tin phản bác của các cơ quan báo chí chính thống với các kênh truyền thông khác, theo phương thức lấy thông tin chủ đạo từ các cơ quan báo chí làm thông tin nguồn để lan tỏa trên không gian mạng từ tận dụng tính năng siêu kết nối xã hội của các phương tiện truyền thông mới, truyền thông xã hội; tích hợp tính năng chia sẻ thông tin của các báo, tạp chí điện tử đến một số ứng dụng truyền thông xã hội lớn; mở các kênh truyền thông xã hội riêng như “cánh tay” nối dài của các báo, tạp chí, nếu phù hợp…

Coi trọng công tác dự báo khoa học về những xu hướng truyền thông mới, tác động trực tiếp tới sự thay đổi về thủ đoạn, cách thức, phương tiện chống phá kiểu mới của các thế lực thù địch, trực tiếp phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sát trúng, có tầm nhìn dài hạn, chủ động trong mọi tình huống. Kết hợp các giải pháp về nội dung với các giải pháp kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ an ninh bao gồm việc chặn lọc, vô hiệu hóa, đấu tranh với các nhà cung cấp các phương tiện truyền thông xã hội nước ngoài gỡ bỏ thông tin xấu độc; răn đe; xử lý hình sự…, để tạo hiệu quả đấu tranh tổng lực.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận, xây dựng hệ thống luận cứ, luận chứng khoa học - thực tiễn nền tảng cho công tác đấu tranh phản bác các thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch; gắn chặt nghiên cứu lý luận với đấu tranh lý luận, nhất là việc tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới40 năm tiến hành Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) trong thời gian tới./.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch

 (1) Các thế lực thù địch đòi Đảng ta từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Chúng bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tập trung tấn công vào những vấn đề nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất, như phê phán quy luật giá trị thặng dư; bác bỏ chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà nền tảng là bác bỏ bản chất cách mạng và khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và bản chất giai cấp công nhân của Đảng ta; phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Chúng công kích, xuyên tạc nhằm “hạ bệ” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng phủ nhận nội dung, giá trị tư tưởng của Người; cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để phủ nhận gián tiếp tư tưởng của Người, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính dân tộc của Đảng. Nói xấu, bôi nhọ đời tư, hình ảnh lãnh tụ cộng sản, lãnh tụ Đảng ta.

(2) Chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. Phủ nhận, bôi đen những thành tựu; cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những tiêu cực, khuyết tật, tạo cái nhìn đen tối, bi quan về tình hình đất nước.

(3) Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi xóa bỏ sở hữu toàn dân, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân đồng nhất với tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cổ xúy phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ quân đội nhân dân và công an nhân dân. Tán dương nền tự do báo chí tư sản, vai trò “quyền lực thứ tư” của báo chí, nhân danh tự do sáng tạo để tách sự lãnh đạo của Đảng khỏi hoạt động báo chí, văn học, nghệ thuật. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình, từ đó cho ra đời các tổ chức đối lập chính trị ở Việt Nam. Tiếp tục lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá…


Đấu tranh phản bác những thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, giữ vững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng trong bối cảnh mới

 Trong kỷ nguyên số, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Với những ưu thế nổi trội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính siêu kết nối, tính mở, khó kiểm soát, tính nặc danh…, các phương tiện truyền thông mới bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để phát tán các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch trên không gian mạng, biến thành công cụ đắc lực chống phá Đảng, Nhà nước ta. Với lượng người dùng internet cao của nước ta (tính đến tháng 1-2021, số lượng người dùng internet và các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam lần lượt chiếm 70,3% và 73,7% tổng dân số)(1)những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội. Hằng ngày, có hàng nghìn tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Nếu chủ quan, lơ là, mất cảnh giác hoặc thiếu những giải pháp đấu tranh hữu hiệu, để những thông tin xấu độc tràn lan trên không gian mạng sẽ gây nên những hệ lụy khôn lường.

Trong các thông tin xấu độc trên không gian mạng, những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch tấn công trực diện vào những vấn đề lý luận cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta đặc biệt nguy hiểm. Hiện nay, sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, các thế lực thù địch đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi, khiến công tác đấu tranh của ta càng thêm khó khăn, phức tạp.

Nhận diện âm mưu, phương thức, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên không gian mạng

Thực tiễn công tác bảo vệ an ninh quốc gia thời gian qua cho thấy, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị là tìm mọi cách xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã kết hợp các hoạt động chống phá bên ngoài và bên trong nhằm tăng cường tuyên truyền xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng nhân dân, từng bước tạo bất ổn trong xã hội, tiến tới hình thành các xu hướng phản kháng chống chính quyền ngay trong lòng xã hội. Phương thức, thủ đoạn chống phá Bên ngoài, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam; thông qua tài trợ, hợp tác từng bước tác động chuyển hóa nội bộ, hướng lái Việt Nam theo đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Sử dụng các trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài, hậu thuẫn cho các tổ chức, cá nhân hoạt động chống Việt Nam; thúc đẩy hình thành hội, nhóm hoạt động chống phá trong nước, kích động số trí thức, văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích lợi dụng phản biện, góp ý để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tạo dựng các phần tử chống đối trong nước “đòi dân chủ”, “tự do thông tin” theo tiêu chí phương Tây. Chúng triệt để lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; giao lưu kinh tế, văn hóa; đầu tư, viện trợ, nhất là ở cấp cơ sở để tuyên truyền xuyên tạc, hỗ trợ, hậu thuẫn các hoạt động chống phá, kích động tụ tập biểu tình, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thúc đẩy mâu thuẫn trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng, tiến tới kích động, bạo loạn lật đổ chế độ ta. Để phục vụ cho mục đích này, thời gian vừa qua, các tổ chức phản động lưu vong, trung tâm phá hoại tư tưởng bên ngoài duy trì và lập mới hàng ngàn website, blog, tài khoản facebook, youtube..., gia tăng các chiến dịch “chiến tranh tâm lý”; phát động hàng trăm chiến dịch tán phát tin giả, tin sai sự thật trên mạng internet; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội” để thu thập thông tin, tập hợp lực lượng đối lập, thúc đẩy “bất tuân dân sự” ở trong nước, xuyên tạc chia rẽ nội bộ, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Một số đối tượng ở bên ngoài đóng vai trò là “nguồn tin”, thường xuyên tạo dựng các thông tin sai lệch, xuyên tạc về nội bộ Đảng, chính quyền các cấp, đời tư các đồng chí lãnh đạo cấp cao... để tán phát lên internet, mạng xã hội nhằm dẫn dắt, định hướng số đối tượng phức tạp, chống đối trong nước hoạt động tuyên truyền chống phá. Trong nước, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có chiều hướng phức tạp, ngày càng công khai. Số cơ hội chính trị tăng cường các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đa nguyên, đa đảng; cung cấp thông tin cho báo, đài phương Tây công khai chống phá, thách thức chính quyền; móc nối, nhận tài trợ từ bên ngoài, lập hội, nhóm chống đối trên mạng internet, lôi kéo cán bộ, đảng viên, cán bộ hưu trí, văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... tham gia; lợi dụng vỏ bọc “xã hội dân sự”, “phản biện xã hội”, danh nghĩa yêu nước, từ thiện, giáo dục, hoạt động tôn giáo; lợi dụng các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp trong nước để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, chờ thời cơ để hình thành “tổ chức đối lập”. Tình trạng đăng tải, chia sẻ thông tin nội bộ chưa được kiểm chứng diễn ra phổ biến trên không gian mạng, tạo dư luận trái chiều trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Một số cơ quan báo chí chưa chấp hành nghiêm định hướng tuyên truyền, buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đưa tin không chính xác, sai sự thật, vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Báo chí, ảnh hưởng an ninh chính trị, đối ngoại... Đáng chú ý, một số phóng viên, biên tập viên thiếu bản lĩnh chính trị, trích đăng/dẫn lại thông tin xấu, độc trên mạng internet, gây dư luận xấu. Để hiện thực hóa phương thức và thủ đoạn trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để khai thác, lợi dụng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là internet và mạng xã hội nhằm gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với những chiêu thức, thủ đoạn mới hơn, tinh vi hơn. Trong đó, nổi bật là việc sử dụng mạng xã hội (thông qua các ứng dụng phổ biến như facebook, youtube, zalo...) và một số hãng truyền thông không thiện chí với Việt Nam để phát động các chiến dịch tuyên truyền phá hoại tư tưởng, đẩy mạnh các hoạt động đăng tải, phát tán tin, bài viết, video clip xấu, độc, sai lệch, xuyên tạc về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, bôi nhọ thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tình hình dịch bệnh Covid-19 và công tác phòng chống dịch Covid-19 của chính quyền các cấp; các vụ việc xử lý một số cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, từ đó kích động, chia rẽ, phá hoại nội bộ; tạo ra nhiều luồng thông tin không đúng sự thật, đi ngược lại các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tìm cách tác động “chuyển hóa” Việt Nam đi theo “quỹ đạo” tư bản chủ nghĩa, thay đổi thể chế chính trị của Việt Nam, mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị ở Việt Nam. Tập trung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiệu quả Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thời gian tới, các cấp, các ngành cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm. Trong đó, các cơ quan truyền thông tăng cường phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về phương thức, thủ đoạn và các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước trên không gian mạng; kịp thời cập nhật, cung cấp thông tin chính thống về các vấn đề, vụ việc mà dư luận xã hội quan tâm để cho người dân dễ dàng tiếp cận, đối chiếu, kiểm chứng thông tin trên mạng xã hội. Các cơ quan Đảng, Nhà nước tăng cường các biện pháp công tác quản lý đảng viên, quản lý cán bộ, thường xuyên thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, người lao động; quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định về sử dụng mạng xã hội của cán bộ, đảng viên, chủ động trong công tác cập nhật, tiếp cận, xử lý thông tin. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau dồi nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng lệch lạc, quan điểm sai trái, thù địch, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bị lôi kéo, mua chuộc; hãy là người sử dụng mạng xã hội thông minh, nhận diện và đẩy lùi thông tin xấu độc, tin sai sự thật, góp phần tuyên truyền, nhân rộng những thông tin tích cực, chính thống trong cộng đồng mạng. Song song đó, các cơ quan chức năng chủ động trong công tác phòng ngừa, tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin và truyền thông, xử lý nghiêm các hoạt động tán phát thông tin xấu, độc, chống Đảng, chống Nhà nước và chính quyền các cấp. Tổ chức có hiệu quả công tác phối hợp giữa các lực lượng; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội tham gia vào công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống Đảng và Nhà nước trên không gian mạng. Phối hợp rà soát, chấn chỉnh, kiến nghị xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong việc sử dụng mạng xã hội, những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cần sớm thành lập lực lượng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Công an tỉnh Hậu Giang gắn với đầu tư trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Nguồn Báo Hậu Giang./.

“MẮT SÁNG, TAI TINH, ĐẦU ÓC THÔNG MINH" KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI


Với đặc tính ảo, dễ ẩn danh, phát tán, lan truyền nhanh, internét và mạng xã hội đã trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị lợi dụng, khai thác, tung tin xấu, độc, lừa gạt mọi người, gây hại cho cộng đồng, xã hội. Đúng là, sử dụng mạng xã hội như dùng “dao hai lưỡi”, vừa tiện ích, vừa hiểm nguy. Ai có đủ trí thông minh để khai thác, sử dụng mặt tiện ích sẽ đem lại hiệu quả cao trong công việc; khắc chế được mặt tiêu cực, sự nguy hiểm do mạng xã hội sinh ra và ngược lại.
Vài năm gần đây, do đại dịch Covid-19 hoành hành, cả thế giới phải gồng mình chống dịch. Để đối phó với tình hình, tiếp tục khơi thông “dòng chảy lịch sử”, duy trì sự sống, các nhà khoa học đã nghiên cứu, tìm ra việc chuyển đổi số, thiết kế và xây dựng các chương trình, phần mềm hỗ trợ nhằm khuyến khích mọi người dân vừa thực hiện “giãn cách xã hội”, vừa làm việc tại nhà, học tập, họp hành hiệu quả theo hình thức trực tuyến, góp phần nối liền mạch máu thông tin, khắc phục sự gián đoạn, bị cô lập cục bộ. Qua đó, khắc phục được tình trạng thông tin đơn điệu, một chiều, chậm chễ, bị chia tách. Nhờ đó, người dân “ngồi tại nhà, ở một chỗ mà biết mọi việc diễn ra trên thế giới”, không bị lạc hậu với thời cuộc. Họ đã kết nối, cùng nhau tương tác, cung cấp, chia sẻ thông tin, tạo nên các mối quan hệ đa chiều với nhiều nội dung, hình thức khác nhau rất tiện lợi. Vì vậy, sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của một số công cụ, thiết bị máy móc, đã góp phần mở rộng và phát triển mạng xã hội; làm cho nó trở thành cơ hội cho tin giả, xấu, độc “lên ngôi”, tăng tốc chóng mặt với sự lan truyền nhanh chóng, tạo đột biến trên không gian mạng, thậm chí gây nhiễu loạn thông tin, dư luận xã hội, môi trường sống.
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao nhất thế giới. Hơn thế, xu hướng đọc tin, tìm kiếm tư liệu phục vụ nghiên cứu, học tập, sản xuất, kinh doanh qua mạng xã hội ngày càng tăng lên, nhất là việc kết nối, sử dụng Facebook, Youtube, TikTok, Za lô… Triệt để lợi dụng điều đó, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị đã triệt để lợi dụng các nền tảng mạng xã hội để xuyên tạc sự thật, phát tán tin giả, phổ biến thông tin xấu, độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, cản trở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; làm cho công tác quản lý thông tin, quản trị mạng, định hướng dư luận, tuyên truyền thông tin tích cực đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, nhất là việc ngăn chặn, bóc gỡ những tin xấu, độc và nguy cơ lột, lọt thông tin, bí mật quốc gia.
Vì vậy, yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách đặt ra hiện nay là các cơ quan chức năng, đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin cần có biện pháp khả thi giúp các đối tượng người dân “mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh” khi khái thác, sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả nhất là việc quản lý mạng an toàn nhằm mục đích kép: vừa khai thác mặt ưu điểm, lợi thế, tích cực, tiện ích của mạng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, vừa hạn chế tối đa những tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu từ mặt trái của nó, qua đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để đáp ứng yêu cầu khai thác, quản lý mạng xã hội an toàn, hiệu quả, cần “mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh”, thực hiện tốt các giải pháp sau:
(1) Đẩy mạnh việc trang bị kiến thức, sự hiểu biết và phương pháp khai thác, sử dụng mạng xã hội cho các đối tượng người dân, nhất là giới trẻ, học sinh, sinh viên để họ tự quản lý, chủ động tham gia, khai thác các loại hình truyền thông, internét, mạng xã hội một cách thông minh, hiệu quả, nhất là việc nhận diện, phát hiện, cảnh giác cao với những thông tin xấu, độc, tin giả để biết cách phòng tránh. Đồng thời, biết tiếp cận, lựa chọn, sàng lọc kỹ và sử dụng những thông tin lành mạnh, hữu ích, tạo được “sự miễn dịch” trước những thông tin thất thiệt lan tràn trên mạng. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn, nghiêp vụ, làm cơ sở giúp các đối tượng người dân có kiến thức công nghệ thông tin cần thiết để tương tác và thực hành trao đổi thông tin trên không gian mạng: kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn, hiệu quả. Qua học tập, người dân biết làm chủ các tính năng, công cụ, thiết bị máy móc kết nối với internét, mạng xã hội. Đây là biện pháp quan trọng, trực tiếp thúc đẩy truyền thông chủ động, phát hiện và xử lý kịp thời những mối đe dọa, nguy cơ tiềm ẩn, các yếu tố tác động, gây bất lợi cho quá trình quản lý không gian mạng.
(2) Tăng cường lan tỏa thông tin chính thống, tích cực, lành mạnh, phù hợp với nhu cầu, thị hiếu, sở thích, sự mong muốn của người dân trên không gian mạng, góp phần chuyển dần sự tập trung chú ý của dư luận xã hội tại cùng thời điểm, thu hút người dân tập trung vào những thông tin tích cực, có giá trị văn hóa và sự hấp dẫn cao. Nhờ đó, góp phần “pha loãng”, phân hóa và cô lập nhóm thông tin tiêu cực, thực hiện tốt phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, tạo môi trường phát triển thông tin tốt nhằm phủ kín, bao trùm, lấn át các thông tin xấu, độc trên không gian mạng.
(3) Nghiên cứu, nắm vững đặc điểm tâm lý, phương thức sử dụng thời gian, công việc của từng đối tượng và thời điểm sử dụng mạng xã hội để chọn cách tiếp cận viết bài, đưa tin, xây dựng các video clip phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Ngoài những giá trị phổ biến của thông tin, nhất là tính xác thực, tính thực chứng, tính giáo dục thuyết phục, luận cứ khoa học chặt chẽ; người sử dụng mạng đang cần nhiều hơn những tin, bài viết ngắn gọn, dễ hiểu, các video clip có hình ảnh, âm nhạc để dễ xem và cảm nhận. Theo đó, cần tránh viết tin, bài dài dòng, lý luận cao siêu, trừu tượng, thuần túy với giọng điệu “lên lớp, dạy đời”, xa rời thực tế…Vì vậy, việc tuyền truyền thông tin trên mạng xã hội cần chọn lọc kỹ lưỡng, bảo đảm tính thiết thực, cụ thể, rõ ràng, đúng nhu cầu, lợi ích của người thụ hưởng, đem lại cho họ thông tin tích cực, niềm tin và sự thuyết phục cao. Do đó, việc “sản xuất”, “chế biến” các tin, bài viết, video clip cần rõ hơn thông điệp truyền tải, định hướng chính trị, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và ngôn ngữ của cư dân mạng, thời gian tối ưu cho phép.
(4) Bên cạnh việc đổi mới nội dung, hình thức các thông điệp thông tin, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức tạo tin, viết bài, xây dựng video clip, nhất là chọn thời điểm “giờ vàng” để đưa thông tin lên mạng xã hội. Cần làm “cuộc cách mạng” về việc “sản xuất”, “chế biến” các sản phẩm: bài viết, videp clip sao cho “hợp khẩu vị cư dân mạng”, nghĩa là tin, bài viết thật ngắn gọn, các video clip vừa có nội dung đặc sắc, vừa có màu, có nhạc, có lời bình hay, hấp dẫn, rõ hơn tính “giải trí”, giáo dục và sức thuyết phục.
Muốn vậy, cần thông qua các câu chuyện lý thú, có kết cấu chặt chẽ, cốt truyện hấp dẫn để thu hút người xem, có tác dụng khêu gợi, “đánh thức” tình cảm, “chạm vào trái tim” người sử dụng tin, bài, mang lại cho họ giá trị nhân đạo đích thực, lẽ sống cao đẹp. Từ đó, truyền tải thông điệp thông tin, định hướng dư luận cần thiết. Cùng với đó, phát hiện các thông tin thất thiệt, giả dối, xấu, độc để kịp thời ngăn chặn. Cách tốt nhất là có ngay “ngân hàng thông tin tích cực” để kịp thời “giải độc”, “trị bệnh”, giúp người dân nắm rõ bản chất vấn đề, tính khách quan của sự thật. Qua đó, họ biết cách tự khẳng định, lan tỏa tính đúng đắn, sáng tạo từ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tự giác đưa nó vào cuộc sống. Hơn thế, giúp họ củng cố niềm tin, có thêm dũng khí để đấu tranh, phản bác, bác bỏ những thông tin giả, xấu, độc; chủ động, tích cực tham gia chia sẻ, lan tỏa nguồn thông tin chính thống, tạo thành dòng chủ lưu chi phối trên không gian mạng.
(5) Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là cơ bản, là chính yếu, tập trung vào bên trong, nội bộ; “chống” là giải pháp quan trọng, hướng vào việc ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin giả mạo, xấu, độc, tiêu cực từ bên ngoài; “chống” phải kiên quyết, kiên trì, quyết liệt, khẩn trương, nghiêm túc và hiệu quả, đồng loạt diễn ra ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, xu hướng vận động, phát triển của sự việc để chủ động phòng, chống, chiếm lĩnh truyền thông, không gian mạng. Trên cơ sở đó, tổ chức các đợt đấu tranh cứng rắn, kiên quyết, nhất là sử dụng các có biện pháp mạnh, khả thi, kể cả biện pháp quân sự, an ninh để chống lại các mạng xã hội “đen”, “lậu”, xuyên biên giới; kịp thời bóc gỡ tin giả, thông tin xấu, độc, lừa đảo, gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Cần trí tuệ thông minh để sử dụng mạng “tinh khôn” hiệu quả
Mạng xã hội do con người tạo ra để phục vụ con người, nếu sử dụng mạng xã hội thông minh, nó sẽ đem lại hiệu quả tốt; ngược lại, nếu sử dụng mạng xã hội không đúng cách, chính nó sẽ gây hại cho con người. Kể từ khi ra đời cho đến nay, mạng xã hội đã trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong việc cung cấp thông tin chính thống, định hướng kịp thời những vấn đề quan trọng; những vấn đề nhạy cảm, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi, phản bác các thông tin xấu, độc, tiêu cực, làm lành mạnh xã hội.
Ở nước ta, mạng xã hội thật sự là công cụ thông minh, “bộ óc trí tuệ” rất cần cho cuộc sống. Nó không chỉ góp phần tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; thiết thực phục vụ cuộc sống của đất nước có gần 100 triệu dân. Vì vậy, các cấp, các ngành cần vào cuộc, có quan điểm, chủ trương, biện pháp phù hợp để khai thác và phát huy mặt tích cực, lợi thế của mạng xã hội, nhất là khả năng ứng dụng các tiện ích của nó trong công tác thông tin, tuyên truyền. Đồng thời, hạn chế tối đa những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ mặt trái của nó, tạo môi trường không gian mạng rộng mở, tích cực để phục tốt hơn nữa sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Vì lẽ đó, mỗi chúng ta cần giữ cho mắt sáng, tai tinh, đầu óc thông minh khi tham gia mạng xã hội./.
ST

Đấu tranh phòng chống âm mưu "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới

Công tác tuyên truyền, giáo dục cho thế hệ trẻ nêu cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trong nước và quốc tế, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của cách mạng Việt Nam, được coi là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Chiến lược "Diễn biến hòa bình" Chiến lược “Diễn biến hòa bình” là chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới mà không cần đến chiến tranh. Vì vậy, chiến lược DBHB là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội tiến bộ, trước hết là các nước XHCN từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền. Thuật từ “Diễn biến hòa bình” còn được sử dụng thay thế bằng các thuật từ khác như: chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cần chiến tranh... Mục tiêu tổng quát của DBHB là làm cho đại đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, từ cán bộ cấp cao cho đến người dân đều có chung tâm trạng hoài nghi, dao động; không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, nhằm tiến tới xóa bỏ mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu cụ thể của DBHB thể hiện sự chống phá trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tập trung ở các khía cạnh: Về tư tưởng, chính trị, dùng nhiều kế hoạch và phương tiện, tuyên truyền nhằm xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó gây ra “tự diễn biến”, hòng tạo ra sự khủng hoảng về lý tưởng chính trị, làm suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Từ đó làm chệch hướng và sụp đổ chế độ chính trị, từng bước thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bằng ý thức hệ tư bản chủ nghĩa. Về kinh tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế nhằm xâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Về văn hóa, làm phai nhạt và tiến tới làm mất bản sắc văn hóa Việt Nam. Về thể chế pháp luật, đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng. Đặc trưng cơ bản để nhận biết được chiến lược DBHB so với các chiến lược phản cách mạng khác, chính là: cuộc chiến không sử dụng súng, không mùi thuốc súng; cuộc chiến chủ yếu sử dụng các công cụ mềm như kinh tế, ngoại giao văn hóa, tư tưởng, khi cần mới sử dụng sức mạnh quân sự, để răn đe đối phương; tác động từ bên ngoài vào tạo nên sự chuyển hóa, tự diễn biến, tự suy yếu bên trong các nước XHCN, thông qua con người, lực lượng phương tiện của chính đối phương; không phá hủy của cải vật chất của đối phương bằng sức mạnh quân sự, chủ yếu “ru ngủ”, gây mất cảnh giác cách mạng của Nhân dân lao động, mua chuộc, lôi kéo những người có chức vụ cao trong cơ quan Đảng và nhà nước, những văn nghệ sĩ, tri thức có uy tín, những người có tư tưởng dao động, nhận thức lệnh lạc hoặc bất mãn với chế độ.Và một đặc điểm khác, chiến lược DBHB mang tính toàn cầu, được triển khai trên quy mô lớn và rộng khắp, tiến hành gặm nhấm, không vội vã, có trọng tâm, trọng điểm, từng bước làm cho đối phương rối loạn nội bộ rồi sụp đổ... DBHB đã trở thành một trong những nguyên nhân đến sự sụp đổ của các nhà nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô. Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động đang đẩy mạnh DBHB đối với các nước XHCN còn lại. DBHB do các thế lực thù địch tiến hành, đã và đang là một trong bốn nguy cơ của cách mạng Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định: DBHB do các thế lực thù địch gây ra - đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào. Âm mưu, thủ đoạn, chiến lược DBHB của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay Như trên đã đề cập, mục tiêu chiến lược nhất quán của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ XHCN, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc và phương Tây. Để đặt được mục tiêu đó, địch không từ bỏ một thủ đoạn chống phá nào, kể cả hành động can thiệp quân sự và trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược... Từ đầu thập niên 50 đến năm 1975, đây là giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá nước ta toàn diện, dùng hành động quân sự là chủ yếu để can thiệp và tiến hành chiến tranh xâm lược, nhưng cuối cùng đã thất bại hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. Từ sau năm 1975 đến năm 1994, đây là giai đoạn nước ta còn nhiều khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiên tai nặng nề, đặc biệt là tác động tiêu cực của những biến động Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đối với Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tăng cường nhiều biện pháp chống phá như: bao vây, cấm vận kinh tế; cô lập ngoại giao; kết hợp DBHB, bạo loạn lật đổ để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Chúng lợi dụng tình hình xã hội nước ta vẫn tồn tại những sơ hở để tổ chức các đảng phái và lực lượng vũ trang phản động, lôi kéo phần tử thoái hóa, biến chất trong cơ quan Đảng, Nhà nước và phần tử cực đoan trong Nhân dân, nhanh chóng thành lập các đảng, tổ chức chính trị và lực lượng phản động, chống phá cách mạng Việt Nam; trước hết và chủ yếu bằng DBHB, nhưng để nhanh chóng đặt được mục đích đề ra và tạo áp lực lớn đối với ta, chúng kết hợp với thủ đoạn bạo loạt lật đổ. Từ năm 1995 đến nay, sau thất bại trong âm mưu cô lập chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc buộc phải điều chỉnh chính sách, thủ đoạn chống phá, bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa quan hệ về ngoại giao. Chủ nghĩa đế quốc đã chuyển thủ đoạn, biện pháp hành động kiên quyết sang thủ đoạn trực tiếp dính líu, ngầm, sâu, đẩy mạnh các hoạt động thâm nhập, chống phá cách mạng Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Các thế lực thù định tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của đất nước” - Chúng tiếp tục thực hiện âm mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định chống phá cách mạng Việt Nam toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với nhiều biện pháp, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, tập trung vào một số lĩnh vực sau: Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù định đã xác định chống phá về chính trị là khâu then chốt nhằm chuyển hóa chế độ xã hội chính trị của Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những thiếu sót, hạn chế của Đảng, Nhà nước, kích động những phần tử cực đoan, kích động thực hiện chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập để hạ bệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Địch tập trung phá ta về lý luận, đồng thời khuyến khích những quan điểm lệnh lạc và những khuynh hướng xã hội dân chủ, làm chệch định hướng XHCN ở nước ta. Thực hiện ý đồ trên, chúng đã dùng các biện pháp, thủ đoạn móc nối, kích động nhiều người chống lại quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của nhà nước. Tuyên truyền, gieo rắc chủ nghĩa thực dụng, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo ra sự chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng Cộng sản. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo một số văn nghệ sĩ, phóng viên có xu thế cấp tiến, đầu tư ngầm cho một số cơ quan báo chí, truyền thông, mạng internet, in, xuất bản, từng bước thao túng và chi phối các lĩnh vực này. Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý tác động làm chệch hướng XHCN thông qua chiến lược giáo dục - đào tạo, thúc đẩy sự phát triển các trường quốc tế... theo mô hình hệ thống giáo dục - đào tạo của Mỹ và phương Tây tạo nên làn sóng du học ở nước ngoài... Trên lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chủ trương dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, âm mưu thông qua hợp tác kinh tế để can dự vào nội bộ, dùng kinh tế gây sức ép tác động, chuyển hóa chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN. Thông qua thủ đoạn chiếm lĩnh đầu tư, chi phối thị trường, để chống phá nền kinh tế Việt Nam. Thực hiện chủ trương tư nhân hóa tài sản, mở rộng kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế thị trường tự do, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, tiến tới thiết lập một nền kinh tế tư bản dưới sự điều khiển của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam. Hoạt động chủ yếu của chúng dùng sát thủ kinh tế tìm kiếm lợi ích ở Việt Nam, cố gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó gây rối loạn chính trị, làm suy yếu và sụp đổ CNXH ở Việt Nam. Trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do, tín ngưỡng của Đảng, Nhà nước ta; cùng những thiếu sót trong công tác quản lý và trình độ dân trí còn thấp của một bộ phận Nhân dân để tổ chức truyền đạo trái phép, xuyên tạc đường lối của Đảng ở nhiều địa phương, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, theo đạo. Đồng thời, kích động, lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các Đảng phái, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang gây rối, tiến tới bạo loạn lật đổ (như ở Tây Nguyên năm 2001 và 2004...). Lợi dụng các lực lượng phản động trong các vùng dân tộc thiểu số, kích động Nhân dân đòi thành lập khu tự trị như các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ của nước ta thời gian qua. Hiện tại và những năm tiếp theo, các thế lực phản động, thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để gây sức ép với Việt Nam, thực hiện âmm mưu DBHB, bạo loạn lật đổ. Cho nên, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá Việt Nam vẫn là một trong những nội dung, biện pháp được Mỹ và các thế lực thù địch thường sử dụng. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tạo cớ kích động tín đồ đấu tranh chống chính quyền, kêu gọi quốc tế can thiệp. Vận động chính khách các nước và quốc hội Mỹ để đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Khôi phục và thành lập các tổ chức, hội đoàn tôn giáo nhằm lôi kéo tín đồ tham gia hoạt động, phát triển lực lượng. Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, âm mưu của địch là phi chính trị hóa quân đội và công an, vô hiệu hóa các lực lượng vũ trang trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Chúng tập trung chống phá hệ tư tưởng của Đảng trong quân đội; tuyên truyền kích động gây mơ hồ, chia rẽ mối quan hệ bản chất giữa Đảng với quân đội; quân đội với công an và các ngành khác, làm cho quân đội giảm lòng tin với Đảng, xa rời mục tiêu chiến đấu và nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, làm cho quân đội mất bản chất cách mạng. Mặt khác, chúng chỉ đạo việc đầu tư vào những địa bàn dễ phá vỡ thế trận QPAN của ta. Lợi dụng những biến động phức tạp trên thế giới và chính sách mở cửa hội nhập của Việt Nam, các thế lực thù địch ra sức tác động đến các nước, các tổ chức và diễn đàn quốc tế gây sức ép đòi Việt Nam tôn trọng dân chủ, nhân quyền, thực hiện tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí... Đồng thời, gây áp lực buộc chúng ta phải nhân nhượng một số vấn đề chính trị trong nước, nhất là chấp nhận “đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập”, thực hiện âm mưu hòa nhập Việt Nam vào ASEAN và lôi kéo Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Trên lĩnh vực ngoại giao, núp dưới danh nghĩa ngoại giao thân thiện để hướng Việt Nam theo quỹ đạo của phương Tây, tạo cơ hội chuyển hóa và đưa Việt Nam dần hòa nhập cùng cộng đồng các nước dân chủ phương Tây. Tăng cường tiếp xúc của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tư nhân dưới nhiều hình thức như: thăm viếng, hội thảo, viện trợ nhân đạo, du lịch... để xuyên tạc đường lối của Đảng, gieo rắc tâm lý mơ hồ về bản chất của chủ nghĩa đế quốc, tạo cơ hội chuyển hóa Việt Nam. Phòng, chống chiến lược DBHB trên một số lĩnh vực Xác định DBHB là một trong 4 nguy cơ của cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động đề ra các biện pháp phòng và chống chiến lược DBHB. Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hóa Để phòng chống “DBHB” trên lĩnh vực chính trị, cần tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bảo vệ Đảng cả về chính trị - tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh và nâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Xây dựng, củng cố hệ thống chính quyền vững chắc, làm cho nó thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng và các thành tố trong hệ thống chính trị. Xây dựng, củng cố vững chắc trận địa tư tưởng XHCN trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tạo sức đề kháng chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, đẩy lùi, khắc phục tư tưởng lệch lạc, chủ nghĩa giáo điều, cơ hội dưới mọi hình thức. Giáo dục lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường của Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, đi đôi với thực hiện tốt chính sách xã hội, nâng cao đời sống mọi mặt của Nhân dân, củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, cần tập trung tăng cường công tác lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng; bảo vệ, củng cố vai trò lãnh đạo của chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân tộc, truyền thống dựng nước và giữ nước. Kiên định đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả khuynh hướng tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, các luận điệu tuyên truyền vu cáo CNXH, bội nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận đường lối quan điểm của Đảng, phủ nhận lịch sử và các quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền” theo kiểu phương tây, các luận điệu chống phá cách mạng nước ta dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Xây dựng, bảo vệ, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng, có tâm hồn trong sáng, có tầm cao trí tuệ. Giữ vững định hướng XHCN trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ, bảo vệ các thành quả cách mạng trong hoàn cảnh mới. Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa. Nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Mở rộng giao lưu quốc tế trên cơ sở giữ vững, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý và kiểm soát chặt chẽ công tác tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất trrong chỉ đạo nghiên cứu lý luận; nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới. Trên lĩnh vực kinh tế Trong chiến lược DBHB, kẻ thù luôn lợi dụng lĩnh vực kinh tế để gây sức ép về chính trị, buộc ta lệ thuộc và làm chệch hướng nền kinh tế theo hướng tư bản, tiến tới chệch hướng về chính trị. Ngoài ra, kẻ thù còn dùng tiền và vật chất để mua chuộc, lôi kéo, tha hóa đội ngũ cán bộ của ta. Vì vậy, trong chiến lược DBHB, lĩnh vực kinh tế được coi là mũi nhọn chống phá của địch. Để phòng, chống DBHB của địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta phải quán triệt, thực hiện và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng theo định hướng XHCN, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; luôn đề cao cảnh giác, không mơ hồ trước âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ kinh tế, thương mại, thông qua kinh tế để chuyển hóa ta về chính trị. Đồng thời, thực hiện phương châm chủ động hợp tác, đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo trong quan hệ kinh tế, đồng thời, hạn chế các mặt tiêu cực do nền kinh tế thị trường tạo ra trên một số mặt của đời sống xã hội; phấn đấu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, tham ô, lãng phí. Nâng cao ý thức, năng lực cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng năng lực cạnh tranh và hoàn thiện pháp chế về kinh tế; thực hiện xóa đói giảm nghèo, chăm lo ngày một tốt hơn đời sống mọi mặt của Nhân dân... Trên lĩnh vực tôn giáo, dân tộc Đảng và nhà nước có đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo đúng đắn, làm cơ sở củng cố khối đoàn kết toàn dân. Trong đó, tôn trọng quyền lợi và sự bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân theo pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước với một hệ thống pháp, chính sách đồng bộ, hợp lý để khai thác, phát huy mọi bản sắc, tập quán tốt đẹp của Nhân dân. Phát huy vai trò của mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các già làng, trưởng bản, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo trong công tác vận động quần chúng. Đầu tư xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo, nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Đề cao dân chủ, tôn trọng tập quán, tự do, tín ngưỡng của cả người có đạo và người không có đạo, đi đôi với chống các hủ tục lạc hậu, hành vi lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để gây rối trật tự xã hội, tiếp tay cho địch xây dựng, cài cắm lực lượng, tổ chức phản động, chống phá Đảng, chống CNXH. Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trận tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh”. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu và hành động bạo loạn lật đổ của địch; không để địch cài cắm, móc nối, mua chuộc nội bộ; bảo vệ bí mật quân đội, quốc gia. Đồng thời, nâng cao năng lực và hiệu quả tham mưu cho Đảng và nhà nước của các bộ, ngành, cơ quan chức năng về QPAN; luôn chủ động, có những quyết sách đúng đắn để làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của địch. Tích cực xây dựng cơ sở chính trị, làm tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt ở những địa bàn trọng yếu, vùng rừng núi, biên giới, hải đảo; làm tốt công tác giáo dục, vận động Nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng, tham gia tích cực vào sự nghiệp QPAN, phòng chống DBHB, bạo loạn lật đổ. Đại hội XIII của Đảng xác định phương hướng, mục tiêu: "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ“. Đồng thời phải nâng cao trình độ khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống. Tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn chỉnh thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa phương. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố), huyện (quận) ngày càng vững chắc, làm thất bại mọi âm mưu gây mất ổn định trên đất nước ta của địch. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng - an ninh. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành tập trung thống nhất của nhà nước. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt với Lực lượng vũ trang Nhân dân và Công an Nhân dân. Kiên quyết không để kẻ địch thực hiện âm mưu phi chính trị hóa, tiến tới vô hiệu hóa Lực lượng vũ trang Nhân dân, nhất là Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân của ta. Trên lĩnh vực ngoại giao Để làm tốt họạt động đối ngoại trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ, cần tiếp tục quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng đó là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một đất nước Việt Nam XHCN giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệm hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đổi mới tư duy đối ngoại để phù hợp với sự phát triển mau lẹ của tình hình thế giới. Có dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng vận động của các mối quan hệ quốc tế và âm mưu, thủ đoạn chiến lược DBHB, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với Việt Nam; cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn DBHB bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch trên lĩnh vực ngoại giao để có biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa. Xác định đúng đối tượng, đối tác trên các lĩnh vực; khai thác sự đồng thuận trong các quan hệ lợi ích đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới, trong khu vực và với Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động tiến công trên hoạt động đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc, vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức. Vận động Việt kiều tham gia phát hiện, đấu tranh với những âm mưu và hành động chống phá của bọn phản động người Việt lưu vong. Phối hợp đối ngoại với an ninh - quốc phòng trong phòng, chống DBHB, bạo loạn lật đổ. Không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hỗ trợ, chỉ đạo chống phá Việt Nam. Làm tốt công tác đối ngoại Nhân dân, nhất là khu vực các tỉnh biên giới, hải đảo, các thành phố, thị xã và các khu công nghiệp tập trung nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn: Báo tỉnh Thanh Hóa./.
CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể từ khi thành lập cho đến nay, do thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ mà Đảng có đủ sức mạnh để vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tuyên truyền luận điệu cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, chỉ phù hợp trong giai đoạn đất nước chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật hoặc khi có chiến tranh. Hiện nay, Đảng phải mở rộng dân chủ, phát huy sáng tạo cá nhân để phát triển đất nước. Họ cho rằng: tập trung và dân chủ là 2 mặt đối lập, không thể kết hợp trong một nguyên tắc. Nếu tập trung tất yếu sẽ dẫn đến triệt tiêu, thu hẹp dân chủ. Ngược lại, muốn dân chủ phải từ bỏ tập trung. Tập trung và dân chủ là hai mặt “không thể dung hòa”. Với luận điệu xuyên tạc rằng nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ đúng trên lý thuyết, còn thực tế không thực hiện được, chúng lợi dụng việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của một số cán bộ, đảng viên để kêu gọi từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, cố tình lẫn lộn giữa hiện tượng với bản chất của tập trung dân chủ; cho rằng cần bỏ chế độ thiểu số phục tùng đa số, cho phép đảng viên được nói và làm khác với nghị quyết của Đảng mới thực sự có dân chủ; cho rằng tập trung dân chủ kìm hãm tư duy sáng tạo của đảng viên; đưa quan điểm dân chủ tự do, dân chủ cực đoan, ủng hộ chiêu bài dân chủ, nhân quyền, đa nguyên, cổ vũ cho những bất đồng ý kiến nhằm chia rẽ Đảng từ bên trong. Luận điệu trên của các thế lực thù địch hoàn toàn không có căn cứ. Thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất kỳ điều kiện nào cũng cần phải tập trung dân chủ; bất luận đó là khi đất nước có chiến tranh hay trong thời bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giữ vững tập trung dân chủ không chỉ nhằm mở rộng dân chủ, phát huy mạnh mẽ dân chủ mà còn phải giữ gìn tính tập trung thống nhất, tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung; Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. “Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi đến mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó”. Do đó thấy được mọi mặt, mọi vấn đề. Về cá nhân phụ trách, Người cho rằng: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Tập trung và dân chủ có mối quan hệ biện chứng nhau. Tập trung phải trên cơ sở dân chủ và dân chủ phải dưới sự lãnh đạo để đảm bảo tập trung, tránh tình trạng tập trung quan liêu, chuyên quyền độc đoán hay dân chủ tự do, vô kỷ luật. Tập trung dân chủ là nguyên tắc sống còn, là điều kiện đảm bảo sự tồn vong của Đảng và của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đúng nguyên tắc, bản chất của tập trung dân chủ sẽ bảo đảm được vai trò cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ đảng viên kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc hoạt động của Đảng. Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số là quy định bắt buộc, thể hiện ý chí tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: "Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương". Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng cũng quy định chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số. Do đó, nguyên tắc tập trung dân chủ không thể làm triệt tiêu cái mới, cái sáng tạo. Thực tế, nhiều ý kiến thuộc về thiểu số được bảo lưu, thuộc về quyền của đảng viên. Thực tiễn đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất ý chí và hành động, không gì chia rẽ được. Không có sự phe nhóm, bè phái, lợi ích nhóm. Đảng lấy tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt Đảng, là quy luật tồn tại và phát triển. Trước các luận điệu xuyên tạc về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần tỉnh táo nhận diện thông tin sai trái, thù địch; khách quan trong nhìn nhận, đánh giá từ thực tế nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng để không bị hoang mang, dao động, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ TRONG ĐẢNG Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể từ khi thành lập cho đến nay, do thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ mà Đảng có đủ sức mạnh để vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tuy nhiên, các thế lực thù địch tuyên truyền luận điệu cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đã lỗi thời, chỉ phù hợp trong giai đoạn đất nước chưa giành được chính quyền, trong hoạt động bí mật hoặc khi có chiến tranh. Hiện nay, Đảng phải mở rộng dân chủ, phát huy sáng tạo cá nhân để phát triển đất nước. Họ cho rằng: tập trung và dân chủ là 2 mặt đối lập, không thể kết hợp trong một nguyên tắc. Nếu tập trung tất yếu sẽ dẫn đến triệt tiêu, thu hẹp dân chủ. Ngược lại, muốn dân chủ phải từ bỏ tập trung. Tập trung và dân chủ là hai mặt “không thể dung hòa”. Với luận điệu xuyên tạc rằng nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ đúng trên lý thuyết, còn thực tế không thực hiện được, chúng lợi dụng việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của một số cán bộ, đảng viên để kêu gọi từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, cố tình lẫn lộn giữa hiện tượng với bản chất của tập trung dân chủ; cho rằng cần bỏ chế độ thiểu số phục tùng đa số, cho phép đảng viên được nói và làm khác với nghị quyết của Đảng mới thực sự có dân chủ; cho rằng tập trung dân chủ kìm hãm tư duy sáng tạo của đảng viên; đưa quan điểm dân chủ tự do, dân chủ cực đoan, ủng hộ chiêu bài dân chủ, nhân quyền, đa nguyên, cổ vũ cho những bất đồng ý kiến nhằm chia rẽ Đảng từ bên trong. Luận điệu trên của các thế lực thù địch hoàn toàn không có căn cứ. Thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất kỳ điều kiện nào cũng cần phải tập trung dân chủ; bất luận đó là khi đất nước có chiến tranh hay trong thời bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giữ vững tập trung dân chủ không chỉ nhằm mở rộng dân chủ, phát huy mạnh mẽ dân chủ mà còn phải giữ gìn tính tập trung thống nhất, tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung; Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. “Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi đến mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó”. Do đó thấy được mọi mặt, mọi vấn đề. Về cá nhân phụ trách, Người cho rằng: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy”. Tập trung và dân chủ có mối quan hệ biện chứng nhau. Tập trung phải trên cơ sở dân chủ và dân chủ phải dưới sự lãnh đạo để đảm bảo tập trung, tránh tình trạng tập trung quan liêu, chuyên quyền độc đoán hay dân chủ tự do, vô kỷ luật. Tập trung dân chủ là nguyên tắc sống còn, là điều kiện đảm bảo sự tồn vong của Đảng và của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện đúng nguyên tắc, bản chất của tập trung dân chủ sẽ bảo đảm được vai trò cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cán bộ đảng viên kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc hoạt động của Đảng. Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số là quy định bắt buộc, thể hiện ý chí tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: "Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương". Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng cũng quy định chế độ bảo lưu ý kiến thuộc về thiểu số. Do đó, nguyên tắc tập trung dân chủ không thể làm triệt tiêu cái mới, cái sáng tạo. Thực tế, nhiều ý kiến thuộc về thiểu số được bảo lưu, thuộc về quyền của đảng viên. Thực tiễn đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất ý chí và hành động, không gì chia rẽ được. Không có sự phe nhóm, bè phái, lợi ích nhóm. Đảng lấy tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt Đảng, là quy luật tồn tại và phát triển. Trước các luận điệu xuyên tạc về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần tỉnh táo nhận diện thông tin sai trái, thù địch; khách quan trong nhìn nhận, đánh giá từ thực tế nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng để không bị hoang mang, dao động, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
Bản chất cách mạng màu và những nguy cơ tiềm ẩn đối với Việt Nam hiện nay ( Phần1) Cách mạng màu với nhiều tên gọi khác nhau như: cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ… diễn ra ở một số nước Đông Âu và Trung Đông, Bắc Phi trong thời gian qua và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla đã cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại, xây dựng chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam chúng ta có phải đối diện với nguy cơ xảy ra “cách mạng màu” hay không? Đâu là giải pháp để ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn thực hiện “cách mạng màu” ở Việt Nam? Bản chất của âm mưu, thủ đoạn “cách mạng màu” Cách mạng màu (tiếng Anh là colour revolution) là thuật ngữ chỉ các cuộc bạo lực chính trị có tổ chức, chính biến phi vũ trang ở quốc gia có chủ quyền nhằm lật đổ nhà nước đương nhiệm, gây ra khủng hoảng chính trị, đồng thời lập ra bộ máy cầm quyền mới của lực lượng đối lập được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn. Đó là chiến lược toàn cầu của Mỹ sử dụng những phương thức, thủ đoạn điển hình là sự phản đối quy mô lớn bằng biện pháp phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi chế độ đang tồn tại để thiết lập một chính phủ thân Mỹ và phương Tây kể từ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh đến nay. Các đối tượng của cách mạng màu là đảng phái, lực lượng chính trị đối lập trong nước hình thành từ các trào lưu “dân chủ hóa xã hội” hoặc nảy sinh, phát triển từ sự mâu thuẫn, phân hóa, phân lập của nội bộ đảng, chính phủ cầm quyền. Lãnh tụ phe đối lập thường là những người bất mãn, cơ hội chính trị, bất đồng với đảng, chính phủ cầm quyền được các thế lực nước ngoài hậu thuẫn, thậm chí nuôi dưỡng để thực hiện chính biến khi có thời cơ thuận lợi. Các thế lực bên ngoài là kẻ khởi xướng, định hướng, kích động, thúc đẩy, vạch kế hoạch, huấn luyện, tài trợ vật chất, ủng hộ tinh thần và phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong nước tổ chức và tiến hành hoạt động cách mạng màu. Thế lực bên ngoài đóng vai trò “đạo diễn”, lực lượng trong nước giữ vai trò” thực thi”. Đây là một hiện tượng chính trị diễn ra thông qua nghị trường, đấu tranh chính trị (mít tinh, biểu tình, tuần hành), dựa trên cơ sở những tiền đề trong một quốc gia, dân tộc có quan điểm, chủ trương trái với lợi ích của Mỹ và phương Tây; được hậu thuẫn bởi lực lượng bên ngoài nước can thiệp một cách thô bạo, trắng trợn vào công việc nội bộ của nước đó nhằm lật đổ chính quyền hay sự cầm quyền của các đảng phái chính trị để thay thế bằng đảng phái đối lập phù hợp với lợi ích Mỹ và phương Tây. “Cách mạng màu” với nhiều tên gọi khác là cách mạng nhung, đường phố, cam, hoa hồng, hoa tulip, hạt dẻ,… xuất hiện lần đầu tiên với cách mạng Vàng ở Philíppin từ năm 1983, cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc năm 1989, cách mạng Đường phố ở Nam Tư năm 2000, cách mạng Nhung ở Grudia năm 2003, cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004 và 2014, cách mạng hoa Tulip ở Cưrơgưxtan năm 2005, cách mạng cây Tuyết tùng ở Libăng năm 2005, cách mạng Xanh ở Iran năm 2009, cách mạng hoa Nhài ở Tuynidi từ năm 2010, cách mạng hoa Sen ở Ai Cập từ năm 2011, cách mạng màu ở khu vực Trung Đông - Bắc Phi (còn gọi là Mùa xuân Arập, gồm: Libi, Xyri, Angiêri, Yêmen, Marốc, Gioócđani, Arậpxêút, Ôman, Irắc), cách mạng Ô dù ở Hồng Kông năm 2014,… và những diễn biến chính trị tại Thái Lan, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Vênêxuêla cho thấy bản chất nguy hiểm từ sự can dự của các thế lực phương Tây vào tình hình nội bộ các nước có chủ quyền, gây ra bất ổn chính trị kéo dài, ly khai dân tộc nhằm tìm mọi cách thay thế chính quyền hiện tại. Bản chất cách mạng màu là phản cách mạng, là phương thức, thủ đoạn theo chủ nghĩa sôvanh nước lớn sử dụng để loại bỏ chính quyền các nước không đi theo quỹ đạo của mình bằng nhóm cầm quyền khác, mà chưa làm thay đổi bản chất bên trong của các nước. Lợi dụng những mâu thuẫn, khó khăn của chính quyền đương nhiệm để tạo ra nguy cơ chính trị, thông qua việc bầu cử tự do và “cách mạng đường phố” để lật đổ chính quyền hợp pháp, dựng lên chính quyền thân Mỹ và phương Tây. Ở các nước xã hội chủ nghĩa và nước có xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thì chúng tìm mọi cách lật đổ và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập đảng chính trị cầm quyền mới đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Trong truyền thông phương Tây, cách mạng màu được miêu tả rất hấp dẫn, giàu hứa hẹn như là những cuộc cách mạng dân chủ và nhân quyền phổ biến, trong đó, người dân có quyền đòi hỏi trách nhiệm dân chủ và yêu sách đối việc quản trị của chính quyền sở tại. Thực tế, cách mạng mang tính mị dân, người dân không có quyền lợi gì, thậm chí sau cách mạng là khủng hoảng chính trị, bất ổn xã hội kéo dài, mâu thuẫn giai tầng và dân tộc sâu sắc, kinh tế chậm phát triển, đói nghèo và thương vong gia tăng, đẩy các nước lâm vào hỗn loạn. “Cách mạng màu” là một bộ phận hợp thành của chiến lược “diễn biến hòa bình” với mục tiêu phá hoại nền độc lập của các quốc gia, dân tộc nhằm củng cố vị trí siêu cường quốc số một thế giới của mình, chi phối, dẫn dắt và truyền bá văn hóa, lối sống, dân chủ và nhân quyền của Mỹ và phương Tây trên thế giới; khống chế hoặc tạo ảnh hưởng mạnh mẽ để thiết lập chính quyền chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Mỹ. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, mục tiêu là lật độ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lập ra đảng phái chính trị đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa do Mỹ và phương Tây định đoạt. Hiện nay, đối tượng của cách mạng màu hết sức đa dạng, có thể diễn ra ở nước có chế độ chính trị khác nhau, trong đó có Việt Nam.

122 năm ngày sinh vua Duy Tân: Yêu nước và bất khuất trước kẻ thù!

 Duy Tân (sinh ngày 19-9-1900, mất ngày 26-12-1945), tên khai sinh Nguyễn Phúc Vĩnh San, là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn, sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông lại tỏ thái độ bất hợp tác với chính quyền thuộc địa Pháp. Năm 1916, lúc ở Âu châu có cuộc Đại chiến, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân... lên kế hoạch khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt, đến ngày 3-11-1916 ông bị đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương. Ngày 24-4-1987, thi hài ông được đưa từ đảo Réunion về Việt Nam, an táng tại Lăng Dục Đức, Huế cạnh lăng mộ vua cha Thành Thái.

Tuổi nhỏ, nghĩa khí lớn

Duy Tân: Vị vua yêu nước, bất khuất và cô đơn ảnh 1
Vua Duy Tân là con thứ 8 của vua Thành Thái và bà Hoàng phi Nguyễn Thị Định. Vua Thành Thái có nhiều con trai, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng người Pháp sợ một vị vua trưởng thành khó sai khiến nên chọn một người nhỏ tuổi.

Khi Khâm sứ Fernand Ernest Lévecque cầm danh sách các hoàng tử con vua Thành Thái vào hoàng cung chọn vua, lúc điểm danh thiếu Vĩnh San. Triều đình cho người đi tìm thấy Vĩnh San đang chơi đùa, mặt mày lem luốc. Không kịp đưa về nhà tắm rửa, Vĩnh San ra trình diện quan Pháp. Người Pháp trông thấy đồng ý ngay vì thấy Vĩnh San có vẻ nhút nhát và đần độn. Triều đình thấy vua quá nhỏ nên xin tăng thêm một tuổi thành 8, đặt niên hiệu cho Vĩnh San là Duy Tân.

Ngày 5-9-1907, Vĩnh San lên ngôi lấy niên hiệu là Duy Tân. Và chỉ một ngày sau lễ đăng cơ, Duy Tân đã đổi khác. Một nhà báo Pháp đã thuật lại: Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên 8.

Người Pháp cho lập một phụ chính gồm 6 đại thần là Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục để cai trị Việt Nam dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp. Tiến sĩ sinh học Ebérhard được đưa đến để dạy học cho vua Duy Tân, theo nhiều người đó chỉ là hành động để kiểm soát thái độ nhà vua.

Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở chiến dịch tìm vàng ráo riết để bổ sung kinh phí cai trị cạn rỗng. Mahé lấy tượng vàng đúc từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức và đào xới cả trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó, nhưng Mahé vẫn làm ngơ.

Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Tòa Khâm sứ Pháp làm áp lực với nhà vua, Duy Tân đe dọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế. Cuối cùng Toàn quyền Albert Pierre Sarraut từ Hà Nội vào giải quyết, vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành.

Năm vua Duy Tân 13 tuổi, ông xem lại hiệp ước Patenôtre ký năm 1884 giữa nhà Nguyễn với Pháp, cảm thấy việc thi hành hiệp ước này không đúng với những điều kiện 2 bên đã ký kết. Một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài, là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước Patenôtre. Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó.

Năm 15 tuổi, vua Duy Tân triệu tập cả 6 đại thần trong Phụ chính, bắt các vị này ký vào biên bản để đích thân vua cầm qua trình với tòa Khâm Sứ, nhưng các đại thần sợ người Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên không ký và xin yết kiến Thái hậu, nhờ bà can gián nhà vua. Từ đó nhà vua không chỉ có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình.

Việt Nam Quang Phục Hội được Phan Bội Châu thành lập từ năm 1912. Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên quyết định móc nối. 2 lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động tài xế của vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, thành viên của hội, tham gia vai trò này để cận kề nhà vua.

Tháng 4-1916, khi vua Duy Tân ra bãi tắm Cửa Tùng nghỉ mát, Phạm Hữu Khánh đưa cho vua bức thư của 2 lãnh tụ trên. Duy Tân đọc thư và muốn gặp. Hôm sau, 3 người cùng đến câu cá ở Hậu Hồ, vua Duy Tân đồng ý tham gia cuộc khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3-5.

Tuy nhiên, thiên cơ bị lộ, cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Chiều ngày 2-5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là De Taste mật điện báo với Khâm sứ Trung Kỳ. Nghe tin, Khâm sứ Charles ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại không cho mọi người ra ngoài.

Đêm 2-5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang thường dân đi cùng 2 người hộ vệ là Tôn Thái Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang Phục Hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến 3 giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi nhưng sáng 6-5-1916, họ bị bắt.

Khâm sứ Charles và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý; phát biểu khẳng khái: Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp.

Pháp bắt Triều đình Huế phải xử, Thượng thư Bộ học Hồ Đắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Trần Cao Vân khi đó bị giam trong ngục, nhờ được người đưa tin cho Hồ Đắc Trung xin được lãnh hết tội và xin tha tội cho vua. Hồ Đắc Trung làm án đổ hết tội cho Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu. 4 người bị xử chém ở An Hòa. Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916.

Một lòng vì nước vì dân

Điều tôi mong muốn là tất cả con dân Việt Nam ý thức được rằng họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thúc đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng. Tôi cho rằng tôi chỉ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào tôi làm cho những người dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ, đất nước Việt Nam là một. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia.

Cựu hoàng DUY TÂN bộc bạch về hiện tình đất nước bấy giờ

Ngày 3-11-1916, gia đình vua Thành Thái và Duy Tân lên tàu Guadiana ở Cap Saint-Jacques. Đến ngày 20-11 họ tới bến Pointe de Galets đảo La Réunion. Tại đây, ông từ chối căn biệt thự sang trọng người Pháp dành cho. Gia đình cựu hoàng sống trong căn nhà thuê ở thành phố Saint-Denis, ăn mặc và sinh hoạt giản dị như bao người dân bình thường khác ở đảo.

Duy Tân bất bình với cha Thành Thái vì không hợp tính tình, ông cắt đứt liên lạc với gia đình; ghi tên học vô tuyến điện và mở tiệm Radio-Laboratoire bán hàng, sửa chữa máy. Đồng thời, ông thi tú tài ở Trường Trung học Leconte de Lisle và học thêm ngoại ngữ, luật học. Duy Tân ít quan hệ với người Pháp, chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông tham gia hội yêu nhạc, học cưỡi ngựa và thắng nhiều cuộc đua.

Cựu hoàng Duy Tân còn viết nhiều bài và thơ đăng trong những tờ báo Le Peuple (Dân chúng), Le Progrès (Tiến bộ) dưới biệt hiệu Georges Dry. Bài Variations sur une lyre briée (Những biến tấu của một cây đàn lia gãy vỡ) được giải nhất văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương La Réunion năm 1924. Duy Tân còn là hội viên của Hội Tam Điểm, Franc-Macon và Hội địa phương bảo vệ Nhân quyền và quyền Công dân.

Trong bài Vĩnh San - Duy Tân đăng trong Revue France-Asie năm 1970, tác giả E.P Thébault, bạn thân của Duy Tân, ghi rằng: “Chỉ một lần - một lần mà thôi - trong bức thư ngày 5-6-1936 gởi Marius Moutet, Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Duy Tân gợi lại cuộc biến động 1916 và nói về vai trò của ông trong vụ ấy để xin phép qua trú ngụ bên Pháp”.

Trong nhiều bức thư khác gởi cho Chính phủ Pháp từ 1936 cho đến 1940, để xin phục vụ trong quân đội Pháp, ông không đả động đến vụ mưu loạn tại Việt Nam. Tất cả đơn đều bị bác vì Bộ Thuộc địa phê trong tờ lý lịch cá nhân của Duy Tân (được giải mật sau này) rằng: “Cựu hoàng có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An Nam”.

Ngày 18-6-1940, Charles de Gaulle kêu gọi chống Đức quốc xã. Trước việc lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh, trở về tái chiếm đất Pháp, đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của Cựu hoàng. Ông xem De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình.

Tuy "nước Pháp tự do" và “nước Pháp thực dân” ông chống đối đều là một nước Pháp, Duy Tân hưởng ứng và bằng đài vô tuyến điện, ông đã thu thập tin tức bên ngoài để chuyển cho lực lượng kháng chiến tự do Pháp. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) câu lưu 6 tuần. Sau đó, ông phục vụ 3 tháng với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến trong phe kháng chiến của Tướng Legentilhomme và Đại tá Alain de Boissieu.

Bị giải ngũ vì lý do sức khỏe, Duy Tân nhờ Thống đốc La Réunion là A. Capagory (1942-1947) can thiệp cho ông đăng ký vào bộ binh Pháp dưới quyền của Tướng Catroux với cấp bậc binh nhì. Một thời gian sau ông được thăng lên chuẩn úy rồi sang châu Âu.

Ngày 14-12-1945, Charles de Gaulle tiếp Cựu hoàng Duy Tân. Trong tập Hồi ký chiến tranh, Tướng de Gaulle ghi: “Tôi sẽ tiếp Cựu hoàng (Vĩnh San) và sẽ cùng ông xét xem chúng tôi sẽ làm được những gì? Đó là một nhân vật đầy cương nghị. Mặc dù bị lưu đày ròng rã 30 năm trời, hình ảnh của ông không hề phai mờ trong tâm hồn của dân tộc Việt Nam".

Trong tác phẩm Histoire du Việt Nam sử gia Philippe de Villers nhận xét: “Bảo Đại đã thoái vị và bị phê bình nghiêm khắc. Nhưng lần này, người được chú ý chính là nhân vật tiền nhiệm, Duy Tân. Bị lưu đày năm lên 16 tuổi, ông đã đầu quân vào Không lực Pháp và tham gia các cuộc chiến đấu ở Pháp và Đức. Ông đã trình bày chính kiến với Chính phủ Pháp và với một trung úy của Quân đoàn I sắp qua Đông Dương là ông Bousquet, cựu chánh văn phòng của Tổng trưởng Abel Bonnard”.

Không chấp nhận số phận bù nhìn

Ngày 24-12-1945, Duy Tân lấy phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới. Lúc 13 giờ 50, phi cơ rời Fort Lami để bay đến Bangui, trạm kế tiếp.
Ngày 26-12-1945, khoảng 18 giờ 30 GMT, máy bay rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M'Baiki, Cộng hòa Trung Phi. Tất cả phi hành đoàn đều thiệt mạng, gồm có một thiếu tá hoa tiêu, 2 trung úy phụ tá, 2 quân nhân trong đó có cựu hoàng Vĩnh San và 4 thường dân. Theo nhiều người đây có thể là một vụ mưu sát. Việc vua Duy Tân trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa.
Thébault, người bạn thân của vua Duy Tân viết: “Ngày 17-12-1945  - 10 ngày trước khi tử nạn - Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe dọa. Khi cả 2 đi ngang-lần chót-vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay tôi nói: "Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ hy sinh. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan nếu tôi bỏ ý định ấy”.
Ngày 28-3-1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M'Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6-4-1987. Ngày 5-12-1992, thành phố Saint-Denis đảo La Réunion khánh thành một đại lộ mang tên ông: Đại lộ Vĩnh San.

Vua Duy Tân sau khi bị đưa đến đảo La Réunion, đã mưu sinh bằng cách mở một tiệm sửa chữa máy móc cho cư dân trên đảo. Tiệm có tên là La Radio Laboratoire Vinh San. Ông Georges nhớ lại: “Cha tôi không có một ưu đãi vật chất nào trong những tháng ngày trên đảo. Nơi ở của ông không có lò sưởi, vòi nước tắm, thậm chí cả bồn rửa mặt… Nhưng ông vẫn vui vẻ sống”.

Tháng 4-1987, hài cốt của vua Duy Tân được đưa về nước, và được an táng tại khu An Lăng (TP Huế). “Lúc đưa hài cốt cha tôi về Huế, Nhà nước rất nhiệt tình giúp đỡ và nhiều vị quan chức đã đến thắp nhang trước bàn thờ cha tôi” - ông Georges  xúc động nói.


Phần tiếp theo là lễ ra mắt triển lãm ảnh “Cựu hoàng Duy Tân, đời sống và hành trình” với những tấm ảnh quý của đời thật cựu hoàng Duy Tân khi bị đày sang đảo Réunion (Pháp) sau khi bị chính quyền bảo hộ Pháp phế truất ngôi vua tại Huế; quá trình sinh sống, đấu tranh của cựu hoàng cho đến lúc cuối đời, khi bị tai nạn máy bay năm 1945 ở Cộng hòa Trung Phi; và lúc đưa di hài của vua về Pháp, Việt Nam.

“Tôi rất xúc động khi được gặp lại bà con thân thuộc sau thời gian dài ở Pháp, và rất cảm ơn được sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương cho phép tổ chức lễ sinh nhật của cha tôi, và ra mắt triển lãm ảnh, nhằm cho mọi người hiểu hơn về cha tôi” - Thái tử Bảo Vàng chia sẻ.