Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Không thể phủ nhận thành quả và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám 1945

   

(TG) - Bất chấp mọi luận điệu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, phản động, thì thành quả của Cách mạng Tháng Tám vẫn được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bảo vệ vững chắc; những giá trị bất diệt, những bài học kinh nghiệm quý báu vẫn được phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước.

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra và giành thắng lợi nhanh chóng trong vòng 15 ngày (từ 14/8 đến 28/8/1945), trong đó thắng lợi ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8) có ý nghĩa quyết định. Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi to lớn đầu tiên của nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, thời đại mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội(1) và thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với tầm vóc, ý nghĩa như vậy, mỗi dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tưởng nhớ, tri ân lớp lớp những người đã hiến dâng tuổi trẻ, sức lực, trí tuệ, tính mạng của mình để làm nên nền độc lập của dân tộc và giang sơn gấm vóc này. Đồng thời, là dịp để chúng ta nhắc nhớ, nhìn nhận sâu sắc, vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm lịch sử trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay. Thế nhưng, “đến hẹn lại lên”, vào dịp lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 thiêng liêng của dân tộc ta thì các thế lực phản động, thù địch với tâm địa đen tối, bằng những thủ đoạn thâm độc, nham hiểm vẫn ra sức xuyên tạc, phủ định thành quả và tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám. 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU NHAM HIỂM, CŨ RÍCH

Các thế lực thù địch, phản động và thành phần bất mãn chính trị vẫn “nhai đi nhai lại” những luận điệu cũ rích, rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là “sự ăn may”. Rằng, Việt Minh đã nhanh tay cướp lấy thành quả của Đồng minh chống phát xít, khi quân đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật. Luận điệu khác thì cho rằng, Cách mạng Tháng Tám là do tinh thần dân tộc lãnh đạo, dù không có Đảng Cộng sản, nhiều nước thuộc địa đã giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tốn xương máu của dân tộc là do Đảng Cộng sản gây ra. Hay có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng: thành quả Cách mạng Tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu; nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh(!)...

Những luận điệu nham hiểm, cũ mòn nêu trên không chỉ là của các thế lực tư bản đế quốc lái súng, thù địch mà còn của các phần tử phản động, cơ hội chính trị, suy thoái ở trong nước mặc dù đã thụ hưởng thành quả của Cách mạng Tháng Tám trong mấy chục năm qua nhưng lại phản bội, “đổi trắng thay đen”…

Mục đích của họ là phủ nhận thành quả, tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám, gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi, chia rẽ trong xã hội, nhất là trong giới trẻ để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn trở hòa hợp dân tộc, đẩy một bộ phận nhân dân xa rời Đảng, Nhà nước, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả cách mạng, hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa…

Do vậy, tuy những luận điệu cũ rích ấy không thể đánh lừa những người nghiêm túc, tỉnh táo, am hiểu lịch sử, tôn trọng sự thật khách quan nhưng cũng cần nâng cao cảnh giác, bởi trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và mạng xã hội phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp - dân tộc về tư tưởng - văn hóa vẫn diễn ra rất phức tạp, quyết liệt trên phạm vi quốc tế và các thế lực thù địch, phản động vẫn không từ bỏ chiến lược “Diễn biến hòa bình” để chống phá độc lập dân tộc và CNXH trên thế giới và ở Việt Nam.

THÀNH QUẢ VĨ ĐẠI TỪ ĐẤU TRANH CỦA TOÀN DÂN TỘC DO ĐẢNG LÃNH ĐẠO

Lịch sử đã khẳng định, để làm nên thành công của Cách mạng Tháng Tám “long trời, lở đất”, cả dân tộc Việt Nam với quyết tâm và tinh thần “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc”, đã nhất tề vùng lên, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã thành công, lật đổ ách thống trị phát xít cùng triều đình phong kiến, thiết lập nên chính quyền cách mạng trên cả nước. Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong điều kiện thời cơ “nghìn năm có một”, tuy nhiên, thời cơ đó chỉ được tận dụng và đạt thành quả với sự chuẩn bị chủ động, lâu dài, kỹ lưỡng cả thế và lực lượng cách mạng của Đảng.

Thành quả cách mạng vĩ đại này không chỉ là kết quả của 15 ngày tổng khởi nghĩa, không chỉ là kết quả của sự nghiệp cách mạng trong 15 năm (1930-1945) qua cao trào 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 (trong đó, gần như ngay từ đầu, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chủ động cùng với lực lượng đồng minh chống phát xít), mà còn là kết quả của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong gần một thế kỷ của nhân dân ta. Do đó, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân ta dưới sự tổ chức lãnh đạo bài bản, khoa học, sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chứ không phải là sự “ăn may” hay “cướp công” như các thế lực thù địch, phản động đã cố tình xuyên tạc, bóp méo.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công do nhiều nguyên nhân, đó là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, sáng tạo trong bối cảnh quốc tế có những thuận lợi nhất định (chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh…); là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; là tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân dân ta, kể cả sự huy động kết tinh truyền thống anh hùng, trí tuệ, bất khuất của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước..., trong đó nguyên nhân quan trọng, tiên quyết là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh theo mục tiêu, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền CNXH.

Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ MUÔN ĐỜI

Sử gia người Na Uy S.Tonesson đánh giá: “Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế”(2). Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên làm chủ cuộc đời mới, kỷ nguyên nhân dân được tự do, đất nước được độc lập. Sức lan tỏa của Cách mạng Tháng Tám đã thức tỉnh các dân tộc trên thế giới, các nước Phi, Mỹ La tinh, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc để giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột. Đúng như nhà sử học Mông Cổ, TS Sanomish Dashtsevel đánh giá: “Cách mạng Tháng Tám đã tạo điều kiện cho nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước. Cuộc Cách mạng tháng Tám còn có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ ở các nước châu Á và trên thế giới”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tổng công trình sư và là linh hồn của Cách mạng Tháng Tám đã khái quát và nhấn mạnh rằng: “Lịch sử dân tộc ta có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày Cách mạng Tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô... Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lừng lẫy khắp năm châu, bốn biển”(4). Do đó, Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng, lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(5).

Với tiền đề, nền tảng của Cách mạng Tháng Tám cũng như những bài học kinh nghiệm quý báu từ cuộc cách mạng vĩ đại này, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc đoàn kết một lòng, phát huy sức mạnh tổng hợp, vượt qua mọi khó khăn gian khổ và tiếp tục giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thu giang sơn về một mối, đưa cả nước thống nhất quá độ lên CNXH. Đó là thắng lợi trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, dưới sự lãnh đạo đạo của Đảng, tiếp tục phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước ta đã đạt được những thành quả to lớn có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Theo đó, từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, tiến bộ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; tiềm lực của đất nước, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng nâng cao...

Những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được cho thấy và khẳng định rằng, bất chấp mọi sự xuyên tạc, phủ nhận bằng nhiều thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động cả ở trong và ngoài nước, thì thành quả của Cách mạng Tháng Tám vẫn được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bảo vệ vững chắc và những giá trị bất diệt, những bài học kinh nghiệm quý báu của cuộc cách mạng này vẫn đồng hành, soi sáng và được vận dụng, phát huy mạnh mẽ, sáng tạo trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước.

“Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” là minh chứng sống động, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả và tầm vóc, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại./.

TS. Nguyễn Anh Tuấn
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

ThS. Phạm Tố Uyên
Trường Chính trị tỉnh Nam Định
_________________

(1) Đinh Xuân Lâm (Chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam (Tái bản lần thứ 13), Nxb. Giáo dục Việt Nam, H, 2011, t.2, tr.370.

(2) Cách mạng tháng Tám trong mắt các học giả quốc tế, https://www.anninhthudo.vn/cach-mang-thang-tam-trong-mat-cac-hoc-gia-quoc-te-post442820.antd.

(3) Nguyễn Văn Toàn: Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, https://www.bienphong.com.vn/phat-huy-tinh-than-cach-mang-thang-tam-trong-cong-cuoc-xay-dung-va-phat-trien-dat-nuoc-post453528.html.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, t.14, tr.621.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.25.

Tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới

 

Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì: (1) Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội.

(2) Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

(3) Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. (4) Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là “làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”. Đồng thời, xác định “tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng nắm vấn đề chính trị hiện nay. Chủ động đấu tranh, phòng ngừa có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, nhất là các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, những cán bộ, đảng viên, những người lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ”.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Phương châm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là chủ động phòng ngừa là chính, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những vi phạm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; thận trọng đánh giá, khách quan khi giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Trong xem xét lịch sử chính trị với những vấn đề chính trị hiện nay, thì xem xét vấn đề chính trị hiện nay là chính; giữa bản thân với quan hệ gia đình thì bản thân là chính; giữa quản lý đầu vào với xử lý đầu ra thì quản lý đầu vào là chính; giữa xử lý với sử dụng thì sử dụng là chính. Qua đó, giải đáp được các câu hỏi: Hiện tại người cán bộ, đảng viên như thế nào, có đủ tiêu chí, tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, có đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hay không?.

Trong thời gian qua, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương, Quân ủy Trung ương đến tổ chức cơ sở đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nắm chắc tình hình, rà soát, thẩm tra vấn đề lịch sử chính trị và chính trị hiện nay nên công tác bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đề bạt cán bộ, phục vụ kịp thời, hiệu quả công tác nhân sự. Kết quả nổi bật của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là đã góp phần quan trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội cũng như củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội; cán bộ, chiến sĩ quân đội cùng toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải tiếp tục giải quyết tốt hơn, nhất là khắc phục sự bị động, lúng túng trong rà soát, thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị của các đối tượng; nắm và quản lý tình hình chính trị nội bộ sâu sát, kịp thời hơn. Thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước của một số cơ quan, đơn vị, cá nhân cần nghiêm túc hơn, không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác, kể cả ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật. Cùng với đó, phải phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên, chặt chẽ hơn.

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện các yêu cầu để góp phần: (1) Hạn chế đến mức thấp nhất những tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ tình hình thế giới, khu vực đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và một số tác động tiêu cực đến tình hình chính trị nội bộ. (2) Giải quyết kịp thời những vấn đề mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ. (3) Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; củng cố và nâng cao uy tín; xây dựng niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Để làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

Theo qdnd.vn

Đấu tranh chống các thông tin xấu độc, luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Với đặc điểm nổi bật là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, Internet, mạng xã hội trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người, tác động trực tiếp và có thể làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân cũng như sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, đây cũng chính là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, đối tượng xấu, tạo kênh thông tin để tiến hành các thủ đoạn nhằm thực hiện việc tuyên truyền, thông tin xấu độc, luận điệu xuyên tạc, sai trái trên không gian mạng.

Với định kiến chính trị và góc nhìn phiến diện, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng đó là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác - Lênin là lý thuyết suông về chủ nghĩa xã hội không tưởng, không có thực”,...

Mặt khác, chúng thường là lợi dụng các sự kiện trọng đại của Đất nước và các tỉnh, thành phố  để tuyên truyền, chống phá; sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, thông tin xấu độc, luận điệu xuyên tạc; lợi dụng một số vấn đề bất cập, hạn chế trong công tác của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể hay một số cá nhân để khoét sâu gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ... Chúng đã lập ra hàng trăm trang web, blog, mạng xã hội để thu thập, bịa đặt, trộn lẫn các thông tin đúng - sai, thật - giả; đưa ra các thông tin sai lệch với dụng ý xấu, định hướng dư luận bằng các luận điệu sai trái; đưa thông tin giật gân, lấp lửng để gây hoài nghi, hoang mang dư luận. Tình trạng tìm đọc, bình luận, chia sẻ những bài viết có nội dung sai sự thật, nhạy cảm về chính trị… của người dùng Internet trên địa bàn có xu hướng gia tăng trong đó có cả cán bộ, đảng viên. 

Do đó, mọi âm mưu, luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đều là biểu hiện của động cơ chính trị đen tối, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần đề cao cảnh giác; tích cực vạch trần và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, luận điệu nói trên để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Nhân dân. Hãy tỉnh táo và bình tĩnh suy xét, phát hiện, phối hợp xử lý kịp thời các thông tin đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội có nội dung xấu độc, không đúng sự thật và chủ động giải thích các vấn đề dư luận quan tâm để mọi người cũng rõ, cùng hiểu bản chất của sự vụ, sự việc.

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị, cần được triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên, sẽ góp phần hữu hiệu ngăn chặn, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ tốt đẹp mà Đảng và Nhân dân ta đang xây dựng../.

Lại một sự nhìn nhận thiên kiến sai lệch

 Vừa qua, bất chấp những nỗ lực của Việt Nam được đông đảo quốc gia và các tổ chức quốc tế công nhận, Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ lại một lần nữa đưa ra nhận định sai lệch về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Đây là sự quy chụp thiếu khách quan, chỉ dựa trên thông tin sai lệch, không kiểm chứng thực tế, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đi ngược lại xu thế quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, cần đấu tranh bác bỏ (!)

Những nhận định thiên kiến, sai lệch.

Việc Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo về tình hình nhân quyền hằng năm không còn là điều xa lạ đối với nhiều nước và dư luận quốc tế. Cũng như mọi năm, Báo cáo năm 2021 (công bố tháng 4/2022) đánh giá việc thực thi quyền con người của 198 nước trên thế giới. Riêng phần về Việt Nam, Báo cáo ghi nhận một cách “khiêm tốn” những mặt tích cực của Việt Nam trong năm 2021 về nỗ lực của Chính phủ trong công nhận số người không quốc tịch và quốc tịch (theo thống kê của Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc - UNHCR năm 2020, 32.890 người đã được công nhận so với 11.000 người năm 2016); về thành lập các tổ chức cho người khuyết tật; xây dựng Chương trình giảm nghèo quốc gia, Luật Dạy nghề và các chính sách giáo dục, v.v. Tuy nhiên, vẫn với giọng điệu cũ, Báo cáo năm 2021 tiếp tục đưa ra hàng loạt thông tin chỉ trích, phê phán Việt Nam, như: chính quyền can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân; hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet; kiểm duyệt, bắt giữ và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền; người dân không thể thay đổi chính phủ thông qua các cuộc bầu cử tự do, v.v.

Những nhận định trên đã thể hiện rõ sự định kiến, thiên lệch khi vẽ lên một bức tranh xám xịt, tràn ngập những gam màu tiêu cực. Nó không chỉ phủ nhận, xuyên tạc những nỗ lực bảo đảm và thúc đẩy quyền con người đã và đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm thực hiện với những bước tiến được cộng đồng quốc tế ghi nhận, mà còn dễ đưa những người nước ngoài chưa đến Việt Nam và chưa chứng kiến thực tế đất nước Việt Nam có những nhận thức lệch lạc về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam bác bỏ mọi xuyên tạc

Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người dân. Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này thời gian qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Trước hết, Báo cáo đưa thông tin “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước độc tài do một đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,... Bầu cử Quốc hội vào ngày 23/5/2021 là không tự do, không công bằng; có rất ít sự cạnh tranh giữa các ứng cử viên do Đảng Cộng sản kiểm duyệt”. Đây là thông tin mang tính chủ quan, trái ngược hoàn toàn với thực tiễn những gì đã diễn ra ở Việt Nam và rõ ràng, sự đánh giá sai lệch, thiếu thiện chí về thể chế chính trị của một quốc gia khác là khó có thể chấp nhập được. Bởi, việc lựa chọn mô hình, thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa là quyền tự quyết của mỗi dân tộc. Điều này được quy định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 cũng như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Không thể đứng trên quan điểm của một nước tư bản chủ nghĩa để phán xét một mô hình chính trị không giống với mình. Đó là sự phiến diện và định kiến. Không thể coi chủ nghĩa tư bản là duy nhất, là tuyệt đối và đa đảng là tốt hơn một đảng. Do vậy, không thể chấp nhận việc Mỹ phán xét cuộc bầu cử Quốc hội của Việt Nam là “không tự do”, “không công bằng” khi cuộc bầu cử được thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam.

Với Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là nguyện vọng thiết tha của toàn thể dân tộc Việt Nam, là sự lựa chọn của lịch sử. Đến nay, những thành tựu của Việt Nam trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... đã cho thấy đây là con đường đúng đắn, hướng đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nền kinh tế Việt Nam với sự phát triển vượt bậc từ một nước nghèo trở thành một quốc gia nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình với GDP đạt khoảng 343 tỉ USD và GDP bình quân đầu người/ năm đạt 3.521 USD. Trong bối cảnh mà toàn thế giới đang chịu những tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19 thì Việt Nam cùng với công tác phòng, chống dịch hiệu quả được quốc tế ghi nhận1, Chính phủ còn thực hiện tốt các chính sách an sinh, hỗ trợ đột xuất với hơn 55 triệu lượt người, đều là người nghèo, đối tượng yếu thế. Việt Nam hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu và đang tìm cách vươn lên trong một thế giới với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đang phát triển mạnh mẽ. Hiện nay, quan hệ ngoại giao nhà nước Việt Nam “phủ sóng” tới 189 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới; trong đó, có 13 đối tác toàn diện, 17 đối tác chiến lược và có quan hệ quốc phòng với tất cả 05 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tất cả những điều trên tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiếp tục phát triển kinh tế, chính trị và xã hội, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, được Liên hợp quốc ghi nhận: người Việt Nam ngày càng hạnh phúc hơn, dựa trên đánh giá tổng hợp GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do và phúc lợi xã hội. Trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2021, do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố, Việt Nam đã tăng 04 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên thứ 79. Kết quả đó là do Việt Nam kiên trì thực hiện mục tiêu đã lựa chọn với quan điểm cho con người, vì con người, đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển.

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 27 triệu tín đồ, gần 60.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự2. Các tổ chức tôn giáo được công nhận đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và gắn bó, đồng hành với dân tộc. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo hướng dẫn tín đồ tu tập và thực hiện tốt chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tôn giáo của tín đồ. Nhiều hoạt động tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, trang trọng, như: Phật giáo 3 lần đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên hợp quốc; Công giáo tổ chức thành công Năm Thánh 2010, Hội nghị toàn thể Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X; Tin lành tổ chức Đại lễ Kỷ niệm 100 năm Tin lành truyền đến Việt Nam, 500 năm cải chánh Tin lành,… thu hút không chỉ chức sắc, nhà tu hành trong và ngoài nước mà còn các học giả, chính khách các nước tham gia. Đó là minh chứng bác bỏ những nhận định xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của Việt Nam trong tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Tuy nhiên, các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Cũng như các nước khác, Việt Nam không chấp nhận việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước hay kích động bạo lực, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, v.v. Điều này hoàn toàn phù hợp với Khoản 3 Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. 

Vấn đề quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do internet. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận của công dân. Tự do ngôn luận được xem là quyền hiến định ngay trong bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25). Bên cạnh đó, Việt Nam còn có Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Khung pháp lý của Việt Nam về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương thích với luật pháp quốc tế về quyền con người. Chính vì được tạo điều kiện thuận lợi nên ở Việt Nam hiện nay có gần 800 cơ quan báo chí đang hoạt động; có hơn 70,3% dân số sử dụng internet, mạng xã hội, chiếm tỉ lệ cao trong khu vực và thế giới.

Cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam có những quy định để hạn chế và ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, xâm hại tới lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Không và không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý và luật pháp. Đơn cử, trong khi Nhà nước Việt Nam nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, có những kẻ lợi dụng tình hình dịch bệnh để tuyên truyền thông tin sai trái, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước gây hoang mang dư luận xã hội. Bên cạnh đó, rất nhiều đối tượng còn cố tình tung tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh nhằm trục lợi bất chính. Đó là những thông tin tiêu cực khiến người dân lo sợ, đổ xô đi mua khẩu trang, lương thực tích trữ, dẫn đến tình trạng “găm” hàng, “thổi” giá, v.v. Những hành vi như thế không thể dùng “tự do ngôn luận” để biện hộ, mà phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Còn đối với những người được gắn mác “các nhà hoạt động chính trị”, “nhà bảo vệ nhân quyền” mà Báo cáo nêu tên, như: Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách, Lê Văn Dũng (Dũng Vova), Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Cấn Thị Thêu,... thực chất là những đối tượng vi phạm pháp luật, bị bắt giữ, xét xử và tuyên án theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, không thể coi đó là những dẫn chứng để xuyên tạc Việt Nam vi phạm nhân quyền. Đây là sự can thiệp vào công việc của một quốc gia có chủ quyền và không thể chấp nhận được.

Việt Nam sẵn sàng đối thoại những quan điểm khác biệt

Thế giới là một tổng thể của sự đa dạng của các quốc gia. Không có mô hình nào là tuyệt đối và cũng không có một quốc gia nào khẳng định đã hoàn hảo trong vấn đề nhân quyền. Việt Nam cũng vẫn còn những vấn đề cần cải thiện và thực tế Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang đổi mới trên tất cả các mặt, khắc phục những hạn chế, sai sót nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền con người cho người dân. Đó là quá trình tất yếu mỗi quốc gia, không riêng gì Việt Nam sẽ phải trải qua để tự hoàn thiện và phát triển. Và, Việt Nam đã công bố Báo cáo giữa nhiệm kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị mà Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR chu kỳ 3), trong đó phản ánh toàn diện, đầy đủ về tình hình nhân quyền Việt Nam.

Song thật nực cười, khi Hoa Kỳ vẫn tự cho mình cái quyền nhận xét về tình hình nhân quyền của các nước nhưng lại không chỉ ra những vấn đề nhân quyền đang tồn tại ở ngay chính nước Mỹ? Thực tế, tình hình nhân quyền Mỹ vẫn còn nhiều vấn đề, như: phân biệt chủng tộc, khoảng cách giàu nghèo, bạo lực, các vụ xả súng giết chết nhiều người, sự lạm dụng vũ lực của cảnh sát và ngay cả bầu cử của Mỹ cũng còn gây nhiều tranh cãi, v.v. Vậy, những điều này liệu có khiến các giá trị “dân chủ”, “nhân quyền” mà Mỹ có thể tự hào?

Việt Nam luôn nêu cao quan điểm sẵn sàng trao đổi với Mỹ về những vấn đề còn khác biệt trên tinh thần xây dựng, thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết. Thực tế, thông qua các cuộc tiếp xúc, cơ chế đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam luôn chủ động cung cấp thông tin, giải đáp những vấn đề Mỹ quan tâm. Trong các cuộc gặp với Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris năm 2021 hay tiếp Đại sứ Mỹ Marc Knapper mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính luôn đề nghị nước Mỹ thúc đẩy quan hệ trên cơ sở “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị và sự khác biệt của nhau”.

Rất tiếc, Báo cáo nhân quyền năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn không hề thay đổi khi tiếp tục đưa thông tin sai lệch, quy kết một chiều, đi ngược lại mối quan hệ đối tác toàn diện đang phát triển tốt đẹp giữa hai nước. Vì thế, những nhận xét thiên kiến, sai lệch về tình hình nhân quyền của Việt Nam trong bản Báo cáo nhân quyền năm 2021 của Bộ Ngoại giao Mỹ cần phải phê phán, bác bỏ.

QPTD

NHẬN THỨC RÕ TRƯỚC ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ “TỰ DO TÍN NGƯỠNG” VÀ “NHÂN QUYỀN” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

   


Có thể thấy, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, kể cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập. Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, trong bản Hiến pháp đầu tiên cũng đã khẳng định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái, trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” hay: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Quyền tự do tín ngưỡng của công dân không chỉ thể hiện trong văn bản pháp lý có giá trị cao nhất ngoài ra Đảng ta còn dành sự ưu ái, tin tưởng đặc biệt đối với đồng bào, nhân sỹ, trí thức là người các tôn giáo trong khắp cả nước. Chính vì vậy, trong chiến lược diễn biến hòa bình của mình, các thế lực luôn tìn mọi cách, lợi dụng vào quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để chống phá lại Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta.

Để thực hiện được âm mưu của mình, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, lấy chữ “tự do” trong tín ngưỡng tôn giáo và phớt lờ đi cụm từ “ trong khuôn khổ của pháp luật” để tuyên truyền, thành lập nhiều đạo giáo trái với luân thường đạo lý của dân tộc mà gần đây là Tin lành Đề Ga, Hà Mòn, Pháp Luân Công và đặc biệt là tà đạo Hội Thánh đức Chúa Trời. Đồng thời, chúng coi tôn giáo như là công cụ “đối trọng” với Đảng, sử dụng tôn giáo như một ngồi nổ chống phá Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, phổ biến trong nhân dân và tuyệt đối hóa quan điểm “nhân quyền cao hơn pháp quyền”, kêu gọi nhân dân biểu tình đòi dân chủ, chống lại người thi hành công vụ từ đó chụp ảnh, ghi hình truyền bá rộng rãi trên các trang mạng xã hội để bóp méo sự thật, cho rằng nhân quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là giả tạo.

Trong thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động lưu vong, số cơ hội chính trị, phần tử xấu vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng tôn giáo với nhiều hình thức, thủ đoạn mới để lôi kéo, tập hợp lực lượng, tiếp tục hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng tiếp tục chỉ đạo từ bên ngoài, móc nối với những phần tử chống đối ở trong nước xây dựng cơ sở, tìm cách tái phục hồi các hoạt động chống đối. Do vậy, nhìn chung tình hình mọi mặt về cơ bản là tiếp tục ổn định, song vẫn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định, khó lường trước, cần hết sức quan tâm, không thể xem thường.

Trước những âm mưu, thủ đọan vô cùng thâm độc đó, các cơ quan tổ chức nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trong toàn thể nhân dân để người dân nắm rõ và có biện pháp phòng tránh, tránh bị lợi dụng, lôi kéo. Đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các thông tin trên các trang mạng xã hội, kịp thời ngăn chặn thông tin xấu, độc lan truyền. Từng cá nhân phải nhận thức rõ và luôn quán triệt nghiêm túc quan điểm “ tự do tín ngưỡng phải trong khuôn khổ của pháp luật”, nhận diện rõ âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, đề cao cảnh giác từ đó chấp hành tốt các quy định của Đảng, Nhà nước ta.

 

 

GIÀU BAY, NGHÈO CÀNG PHẢI BAY

 


Bè lũ Việt Tân mới giật một cái tít nghe ngứa hết cả “ấy”. Chúng cho rằng Sơn La là tỉnh nghèo và từ đó cho rằng nghèo thì không nên bay. Một sự ấu trĩ vừa khó hiểu vừa buồn cười.

Hãy nhớ, Một là: Sơn La trước kia có thể nghèo nhưng hiện nay đã khác cùng những chỉ số phát triển kinh tế thời gian vừa qua, đặc biệt là cách làm nông nghiệp với những thành tựu vựa hoa quả, nông sản hàng đầu miền Bắc. Chỉ số chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và ứng dụng công nghệ cao. Toàn tỉnh hiện có 235 chuỗi cung ứng thực phẩm nông sản, thuỷ sản an toàn; có 702 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; có 20.000 ha cây trồng áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt; có 24 sản phẩm được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ, trong đó có 2 sản phẩm được bảo hộ tại Châu Âu và Thái Lan. Là 1 trong 2 tỉnh trên cả nước có sản phẩm nông sản tham gia Hội chợ hoa, quả quốc tế tại Trung Quốc và Italia. Cùng với đó, du lịch của Sơn La đang ngày càng khởi sắc với các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm nhất là trải nghiệm những vựa nông sản đang tăng tốc, cất cánh hướng về tương lai.

Tất cả những điều đó mới chỉ là một góc rất nhỏ trong những thành tựu mà tỉnh đạt được suốt chặng đường cố gắng, xác định và đi đúng hướng thời gian vừa qua. Vậy, có gì mà Sơn La lại không thể và không được cất cánh chứ. Ngược lại, cần phải cất cánh mạnh mẽ hơn để đập vỡ những cái alo phá hoại của bè lũ bán nước, chống phá như Việt Tân. Có ai đó đã từng nói rằng hãy nhìn những gì k.ẻ th.ù phá ta để ta biết rằng ta đang làm rất tốt và đạt những thành tựu tuyệt vời trong nỗi âu lo, sự vô vọng đến đỏ au trong ánh mắt quẫn bách của chúng.

Sơn La đang thăng tiến, cất cánh và cần những đường băng, những đột phá táo bạo để bay về tương lai với những bước tiến triển vọng thần kỳ.





ĐÂU MỚI LÀ NỮ HOÀNG?

 


Trong khi nhiều bạn trẻ Việt quay sang tiếc thương cho bà Nữ hoàng Anh vừa quy tiên cách đây cả vạn cây số, thì ở Việt Nam có hàng trăm ngàn nữ hoàng mà chưa hề thấy các bạn tỏ lòng kính trọng, thương xót. Đó là những bà mẹ Việt Nam anh hùng, những người đã hy sinh máu thịt của mình cho nền hòa bình, độc lập của dân tộc.

Như tấm gương của mẹ Nguyễn Thị Thứ, người mẹ có nhiều con cháu hy sinh nhất trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con gái là liệt sỹ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sỹ.

Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ. Trong chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh.

Sự mất mát, hy sinh của gia đình mẹ Thứ không có bút mực nào diễn tả hết. Năm 1998 khi một đoàn khách nước ngoài về thăm mẹ Thứ, một nhà báo, cựu chiến binh người Hàn Quốc đã hỏi mẹ: “Thưa bà, với quan niệm người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản. Khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận”?

Mẹ Thứ điềm tĩnh trả lời: “Ở nước tôi, Cụ Hồ đã dạy là “Không có gì quý hơn độc lập tự do” nên cứ là người Việt Nam, trong đó có các con, các cháu tôi đều sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành lấy độc lập, tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”.

Đấy, nữ hoàng của dân tộc Việt Nam là như thế. Và các mẹ xứng đáng là Nữ hoàng của nhân dân các nước bị bọn “dân tộc thượng đẳng” áp bức, bóc lột suốt hàng trăm năm.



ĐẠO ĐỨC TRUNG THÀNH

 


Những tấm gương Trung Thành tuyệt đối!

1. Trần Bình Trọng

Năm 1258, khi giặc Mông Nguyên đem 50 vạn đại quân sang xâm lược nước ta lần 2, khi đó Trần Bình Trọng 26 tuổi. Được lệnh của vua Trần, Ông cầm chân giặc ở bãi Đà Mặc bên Sông Hồng, thuộc tỉnh Hưng Yên ngày nay để cho triều đình và đại quân ta rút lui an toàn. Do quân giặc quá đông và quá tàn ác, quân ta ít, lại mỏng, sau nhiều ngày đánh trả quyết liệt,  cuối cùng Ông bị giặc bắt.Chúng đã dùng mọi cực hình tra tấn, đánh đập tàn bạo ...hòng mua chuộc, moi tin Triều đình và đại quân nhà Trần đóng ở đâu, để chúng tiêu diệt.

Ông nói: "Đại quân ta Đóng trong lòng dân".

Thoát Hoan thấy tướng mạo của Tướng quân Trần Bình Trọng khôi ngô tuấn tú như tướng nhà Trời, văn võ song toàn, lại cương trực, rất mực trung thành với triều đình và nước Nam, hắn liền dụ: "Ông có muốn làm Vương Đất Bắc không?" Trần Bình Trọng khẳng khái tuyên bố:

"TA THÀ LÀM MA NƯỚC NAM CHỨ KHÔNG THÈM LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC".

Thấy không thể khuất phục được Ngài, bọn giặc đem Ngài ra chém. Ngài là tấm gương cao vời về lòng Trung Thành tuyệt đối với đất nước với quê hương, với quân và dân Đại Việt.

2. Trần Thị Lý

Sinh năm 1933 tại Quảng Nam.

Hoạt động cách mạng từ khi 12 tuổi. Năm chị 25 tuổi, chị bị giặc Mỹ và bè lũ bán nước chế độ VNCH bắt lần thứ 3, chúng dùng đủ loại cực hình tra tấn Chị, ép chị phải nhận tội "thân Cộng" và vu cáo những người kháng chiến cũ.

 Chị không nhận!

Chúng cởi trần chị và buộc căng người chị lên tấm ván. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào mồm vào mũi chị, rồi thay nhau đi giày đinh giẫm lên ngực, lên bụng chị, máu và nước ộc ra ... chị chết ngất nhiều lần.

Chúng nung kìm sắt đỏ, cặp vào các bắp thịt của chị rứt ra từng miếng, cứ thế... chúng tra tấn hàng tháng trời như vậy. Từ một thiếu nữ xinh đẹp nặng 54kg, chị chỉ còn 24kg. Chị vẫn không khai dù nửa lời. Vẫn Trung thành tuyệt đối với Bác Hồ, với Đảng, với Nhân dân... Khi Tổng Bí thư Lê Duẩn vào thăm chị, Ông khóc.... Nhà thơ Tố Hữu cũng khóc lên như một đứa trẻ, khi vào thăm chị:

"Em là ai? cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi, hay em không có tuổi ...

Thịt da em hay là sắt là đồng

Tỉnh lại em ơi qua rồi cơn ác mộng..."

Chị  là nữ anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Thà một mình chịu đau chịu đớn, thà chết ... chứ không phản bội lý tưởng của mình.

Nhiều lắm những tấm gương Trung thành không kể hết... Lòng Trung Thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân chính là một Đạo Đức, một Phẩm Chất Cao Quý. Đó là những tấm gương Đạo Đức tuyệt đối, mà chúng ta đời đời noi theo - học tập - ca ngợi.

Liệt sĩ Hoàng Kim Giao - người cộng sản mẫu mực

 

"...EM ĐI XUỐNG DƯỚI ĐỒI ĐỂ CON CÒN GẶP BỐ.."!

Sinh ngày 25/12/1941 tại quận Đồ Sơn (Hải Phòng). Anh là một cán bộ khoa học trẻ có 2 bằng đại học, thông thạo 4 ngoại ngữ, công tác tại Cục Nghiên cứu Kỹ thuật, thuộc Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng).

Tháng 9/1968, thay vì đi học tại Liên Xô thì thiếu uý Hoàng Kim Giao đã xung phong nhận nhiệm vụ Trưởng đoàn công tác vào tuyến lửa Khu 4 để huấn luyện và trực tiếp ph.á dỡ b.om. Những ngày tháng trên tọa độ lửa, Hoàng Kim Giao đã phá thành công 32 quả b.om n.ổ chậm và tháo đầu n.ổ 40 quả b.om từ trường.

Về cái ch.ết đầy oanh liệt này, suốt hơn 50 năm qua, có một người đến ngày giỗ, Tết người vẫn âm thầm thắp hương, cúng giỗ cho anh, đó là cựu chiến binh Phạm Văn Cư.

Ngày đó, Hoàng Kim Giao đã giành lấy việc phá quả b.o.m n.ổ chậm từ chiến sỹ Phạm Văn Cư, vì anh biết, vợ đồng đội mình mới sinh con. “Để con trai được nhìn thấy bố...” , ấy là điều mà anh nói với đồng đội, rồi mình cùng chiến sỹ lái xe Lương Văn Tín thực thi nhiệm vụ.

Đồng chí Phạm Văn Cư kể: "Chuẩn bị vào việc, anh Giao nói với tôi: "Anh biết em vừa có con trai, em hãy đi xuống dưới đồi để con trai còn được gặp mặt bố”. Tôi xin ở lại làm nhiệm vụ, anh Giao càng không đồng ý. Anh đem theo 3 quả bộc p.há loại nhỏ cùng dây cháy chậm. Một lúc sau anh Tín, người lái xe đem thêm quả bộc ph.á lên cho anh Giao. Và… bất ngờ một tiếng nổ lớn vang lên. Trời đất tối sầm lại, một lượng đất đá khổng lồ giội xuống chân đồi. Tất cả anh em chúng tôi chỉ biết chạy lên đồi ôm nhau khóc…"

Quả b.om phát n.ổ, thân x.ác anh và đồng đội tan vào đất mẹ. Một phần nhỏ thi th.ể của hai anh tìm được, đem chia làm đôi và an táng cùng nhau. Mộ phần của hai anh hùng, liệt sỹ nằm cạnh Quốc lộ 15A lịch sử, bên hố b.om là chiến tích năm xưa khi quả b.om MK36 phát n.ổ, cách Khu di tích Truông Bồn tầm 1 km.

Chính giữa mộ phần là dòng chữ tạc vào đá:

“Thân x.ác anh đã tan vào đất mẹ

Tâm hồn anh còn mãi với quê hương”.

Gần 30 năm sau ngày Hoàng Kim Giao h.y sinh, công trình khoa học "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông (1967 - 1972)" đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996). Liệt sĩ Hoàng Kim Giao là người trẻ nhất được vinh dự là đồng tác giả của công trình được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng khoa học cao nhất của Việt Nam.

Hoàng Kim Giao, cựu sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã sống, chiến đấu như một người cộng sản mẫu mực và h.y s.inh anh dũng như một người anh hùng.