Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Phòng, chống sự phai nhạt lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

    

Một cách chung nhất, có thể nói, lý tưởng là mục đích cao nhất, tốt đẹp nhất mà con người muốn hướng đến, muốn vươn tới và do vậy mà con người sẽ ra sức phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thậm chí hy sinh quên mình để quyết tâm đạt cho bằng được. Là cán bộ, đảng viên thì không thể không có lý tưởng cách mạng, vì đây là tiêu chí hàng đầu để khẳng định phẩm giá, tư cách chân chính của người cộng sản.

Ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên đi đúng hướng

Trong cuộc sống của mỗi con người có thể có các loại lý tưởng khác nhau. Có lý tưởng sống được con người nuôi dưỡng suốt cả cuộc đời; cũng có lý tưởng thuộc về một mặt nhất định nào đó, chẳng hạn như lý tưởng chính trị, lý tưởng học vấn, lý tưởng nghề nghiệp, lý tưởng đạo đức, v.v.. Dù là loại nào thì lý tưởng cũng đều đóng vai trò định hướng, có tác dụng điều chỉnh hoạt động và đặc biệt là có sức mạnh kích thích con người hành động. Con người sống trong xã hội mà nếu không có lý tưởng thì thật là vô vị, là “sống hoài, sống phí”.

Sống trong một chế độ xã hội nhất định nào đó thì lý tưởng cách mạng của con người thuộc vào loại lý tưởng chính trị. Bởi vậy, lý tưởng cách mạng không phải là cái gì đó quá viển vông, xa vời hoặc quá trừu tượng mà con người không bao giờ có thể đạt tới. Lý tưởng chính trị của người cách mạng trong thời kỳ mà giai cấp tư sản vừa lúc mới manh nha, còn non trẻ là lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến già cỗi, bảo thủ, cản trở sự phát triển để thiết lập chế độ chính trị tư sản, xác lập quyền thống trị của giai cấp tư sản đang lên. Lý tưởng cách mạng của những người công nhân giác ngộ sống trong xã hội tư bản đầy rẫy bất công là lật đổ, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, mong ước xây dựng một xã hội tự do, công bằng, nhân văn, bình đẳng.

Lý tưởng cách mạng chung của những người yêu nước chân chính ở các nước đã từng là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân không có gì khác hơn là đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước và dân tộc mình.


Dưới ách thống trị gần 100 năm của chủ nghĩa thực dân, những người yêu nước và các đảng viên cộng sản Việt Nam đã không sợ gông cùm, không chịu khuất phục trước sự tra tấn, đàn áp vô cùng dã man và bắn giết không cần xét xử của những kẻ xâm lược. Họ nung nấu lý tưởng giải phóng Tổ quốc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành lại tự do thật sự cho dân tộc, độc lập hoàn toàn cho đất nước, tiến tới xây dựng một xã hội mà con người được sống trong tự do, công bằng, bình đẳng, không còn tình trạng người áp bức, bóc lột người. Đó cũng chính là lý tưởng cách mạng xuyên suốt của Đảng và của các đảng viên chân chính tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong tất cả các giai đoạn cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính lý tưởng cách mạng “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã thúc đẩy mọi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi hiểm nguy, dấn thân, xông pha vào những nơi khó khăn nhất, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhờ vậy mà cuộc Cách mạng Tháng Tám đã thành công, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thắng lợi trọn vẹn, giang sơn bị chia cắt nhiều năm đã được thu về một mối.

Tiếp nối truyền thống cách mạng của cha ông thuở trước, giờ đây, đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nhận thức rõ lý tưởng như Bác Hồ từng khẳng định, đó là: “Mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc”; “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân”; “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Những người theo lý tưởng cách mạng của Đảng cũng ra sức thực hiện Cương lĩnh năm 2011: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới (1).

Nhờ sự đoàn kết nhất trí, sự đồng lòng ra sức phấn đấu, lao động kiên cường của cả dân tộc, trong đó có các cán bộ, đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(2). Để hiện thực hóa được lý tưởng xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, công bằng, nhân văn, dân giàu, nước mạnh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân vô điều kiện; phải vì lợi ích của nhân dân mà ra sức phấn đấu; đồng thời phải biết kết hợp hài hòa lợi ích của bản thân với lợi ích của đất nước và của nhân dân.

Cảnh báo sự sa sút lý tưởng cách mạng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Tiếc rằng trong thời gian vừa qua, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất đáng quan ngại. Biểu hiện đầu tiên trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra là một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí có một số ít cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nhưng bản thân, ở các mức độ khác nhau, không còn tin vào những quan điểm cơ bản, những chân lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin; tuyên truyền những điều không phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng, bất chấp những thành tựu to lớn, rất đáng tự hào mà đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước hiện nay và được thế giới đánh giá cao. Cần lưu ý rằng, sự phủ nhận ngấm ngầm, không bộc lộ ra mặt của họ một khi có cơ hội sẽ bùng phát cũng đáng ngại và nguy hại không kém. Tấm gương tày đình về sự thờ ơ, phai nhạt, phản bội lý tưởng cách mạng đã từng xảy ra trong Đảng Cộng sản Liên Xô có hàng chục triệu đảng viên, trong lực lượng vũ trang của Liên Xô một thời rất hùng mạnh và ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây là bài học đắt giá mà chúng ta không thể lơ là, chủ quan, mất cảnh giác hay coi thường.

Báo động về sự suy thoái đạo đức, lối sống, nhất là về sự suy thoái lý tưởng cách mạng của một bộ phận cán bộ, kể cả một số cán bộ cấp cao, trong thời gian vừa qua hết sức đáng ngại. Chủ nghĩa cá nhân, động cơ kiếm tiền, bao che để trục lợi, lợi dụng khe hở của công tác quản lý và luật pháp để thu vén, làm giàu cho bản thân và gia đình đều là những nguyên nhân trực tiếp khiến người có chức, có quyền, có địa vị cao trong xã hội trở thành tội phạm. Nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định, dẫn họ đến sự thoái hóa đó chính là sự tu dưỡng của bản thân quá kém, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, điều mà họ đã từng tuyên thệ trung thành suốt đời trước cờ Đảng khi họ được kết nạp vào Đảng.

Rõ ràng là sự lao dốc của những cán bộ đã từng trải ấy trên các cương vị công tác họ được đảm nhận, suy đến cùng là do lối sống buông thả, do sự tham lam quyền lực vô độ, muốn có thật nhiều tiền, muốn làm giàu thật nhanh mà không nghĩ đến hậu quả. Chính họ đã không đủ can đảm để chống lại những "bả" vinh hoa, phú quý không chính đáng. Sự lao dốc không phanh ấy, một lúc nào đấy thuận lợi, rất có thể sẽ dẫn đến chỗ góp phần bán rẻ cả đồng chí, đồng đội, phản bội lại Tổ quốc và quay lưng lại với nhân dân.

Bài học rút ra từ những vụ tiêu cực từ nhỏ đến lớn, nhất là nhiều vụ án kinh tế nghiêm trọng trong thời gian vừa qua, còn là do chúng ta thiếu một đạo luật đủ sức ngăn chặn sự lợi dụng và sự tham nhũng quyền lực ở nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế-xã hội khi chúng ta chấp nhận nền kinh tế thị trường, nơi mà đồng tiền có sức mạnh thống trị và quan hệ "tiền trao cháo múc" chi phối; nơi mà mọi thứ đều có thể đem ra trao đổi, mặc cả, mua bán. Karl Marx đã từng cảnh báo rằng, “tiền là sự xuyên tạc một cách phổ biến những cá tính mà tiền biến thành những cái đối lập với chúng... Sau đó, tiền biểu hiện với tính cách là lực lượng có tác dụng xuyên tạc... Tiền biến trung thành phản, yêu thành ghét, ghét thành yêu, đức hạnh thành thói xấu, thói xấu thành đức hạnh, tớ thành chủ, chủ thành tớ, ngu thành khôn, khôn thành ngu”(3).

Trọn đời trung thành với Đảng, tận hiếu với dân, hết lòng phụng sự Tổ quốc

Điều quan trọng hàng đầu cần phải làm để phòng ngừa, chống lại sự phai nhạt lý tưởng cách mạng là quán triệt sâu sắc cho mỗi cán bộ, đảng viên về lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân. Chỉ có sự tự ý thức và sự tự giác thấm nhuần lý tưởng ấy trong mọi tình huống thì mỗi cán bộ, đảng viên mới có thể làm tròn trọng trách của mình trước Đảng, trước nhân dân. Đó là giải pháp quan trọng hàng đầu bên cạnh việc các tổ chức đảng phải thường xuyên, liên tục giáo dục tư tưởng, đạo đức và phong cách cho mỗi cán bộ, đảng viên theo tấm gương Hồ Chí Minh.

Sự kết hợp giữa việc thường xuyên giáo dục chính trị, đạo đức với thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, nhất là nghiêm chỉnh thực hiện điều lệ Đảng và nhiệm vụ đảng viên, là cơ sở quan trọng giúp đề phòng và từng bước khắc phục được sự suy thoái về chính trị và đạo đức, từ đó đề phòng một cách hiệu quả sự suy thoái lý tưởng cách mạng, để Đảng và mỗi đảng viên được nhân dân luôn yêu mến, kính trọng và tin tưởng.

Chúng ta không ai được quên điều căn dặn ngày 7-6-1968 của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, “ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”; rằng “một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(4).

Phòng và chống chủ nghĩa cá nhân thật tốt sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng, chống sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là trong việc phòng, chống sự suy thoái lý tưởng cách mạng ở mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến đổi nhanh chóng, khó lường như hiện nay và trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải coi việc thấm nhuần và thực hành đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, một lòng tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân chính là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa sự suy thoái, nhạt phai lý tưởng cách mạng, qua đó giữ vững vị thế, vai trò là lực lượng tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt và lãnh đạo nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  

GS, TS NGUYỄN TRỌNG CHUẨNPhó chủ tịch Hội Triết học     

(1) Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2022, tr24

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2021, tập 1, tr25

(3) C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2000, tập 42, tr215

 (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, H.2011, tập 15, tr672

Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm

    

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan?


Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).

Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN, BẤT CHẤP THỰC TẾ

Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC... tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.

Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)... đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, "trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy"... Hoặc "hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp...".

Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”...

HIỆU QUẢ RÕ RÀNG CỦA CUỘC ĐẤU TRANH PCTN, TC

Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!

Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.

BẢO ĐẢM CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PCTN, TC CHẶT CHẼ, THÔNG SUỐT

Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới.

Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.

PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta./.

Đại tá, PGS. TS. Hoàng Văn Phai
Phó viện trưởng Viện KHXH và nhân văn quân sự
Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

“Tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm - Căn bệnh nghiêm trọng, mối nguy khôn lường

 

“Tô hồng” báo cáo, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi, giấu giếm khuyết điểm để tạo nên sự vững mạnh giả tạo là một căn bệnh đặc biệt nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ.

 

Bởi căn bệnh đó sẽ tấn công từ trong ra, làm suy giảm nghiêm trọng sức sống của Đảng. Căn bệnh này là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990. Hiện nay, căn bệnh này đang lây lan trong phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên, gây hại đến nhiều mặt của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, kịp thời ngăn ngừa, chữa trị, không để căn bệnh thêm trầm trọng là điều vừa cấp bách, vừa lâu dài trong nhiệm vụ lãnh đạo đất nước của Đảng ta.

Bài 1: Biểu hiện thế nào, nguyên nhân do đâu?

 “Tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm là căn bệnh nguy hiểm đã được V.I.Lênin, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và kiên quyết “điều trị” trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng và xây dựng đất nước. Nay căn bệnh này có chiều hướng lây lan trong xã hội ta, để có phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, cần phải xác định rõ mầm mống, nguyên nhân gây ra bệnh.

"Đó là giặc nội xâm, bệnh từ bên trong mà ra"

Cổ nhân từng dạy cách ứng xử với người đời: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”. Đó là đối với người tốt, việc tốt thì cần lan tỏa, khích lệ, nhưng ngược lại đối với những người sính thành tích để mưu cầu mục đích riêng thì cần phải lên án, bài trừ. Căn bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm đang rất cần lên án, loại bỏ.

Nhận diện căn bệnh này không quá khó nhưng phải qua kiểm tra, giám sát của tổ chức, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân mới phát hiện được chính xác. Vậy hình thức biểu hiện của căn bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm này là gì? Đó là báo cáo không trung thực, “báo cáo láo” với những con số rất đáng nghi ngờ. Cơ quan, đơn vị, địa phương công việc diễn ra bình bình, không có gì nổi trội nhưng thành tích trong báo cáo lại có nhiều điểm “nổi bật”, có khi được thổi phồng lên một cách không ngờ, khuyết điểm thì che giấu. Nhiều cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động vi phạm kỷ luật không báo cáo để đủ điều kiện được biểu dương, khen thưởng, để được thăng tiến, “chui sâu, leo cao”.

Có thể thấy, càng gần đến dịp sơ kết, tổng kết, khi cấp trên xuống kiểm tra, có những hội nghị “trống giong cờ mở”, chuẩn bị chu đáo, thậm chí tốn nhiều thời gian và tài chính. Tất nhiên, cấp trên sẽ được thấy những con số đẹp, chỉ tiêu đẹp nằm trong bản báo cáo đẹp. Ưu điểm thì phóng đại lên thật to, phần hạn chế, khuyết điểm thì giấu đi không nói đến hoặc chung chung, đại khái, hoặc đổ lỗi cho khách quan, đổ lỗi cho cơ chế.


Vẫn còn địa phương, khi nghe thông tin biết Nhà nước sẽ hỗ trợ ngân sách, tiền vốn cho những địa phương khó khăn thì lại báo cáo “vống” tỷ lệ đói nghèo cao hơn thực tế. Lại có địa phương nhiều năm liên tục báo cáo “chưa phát hiện tham nhũng, tiêu cực”, nhưng cấp trên kiểm tra, báo chí vào cuộc thì phát hiện nhiều sai phạm. Lúc ấy mới lộ ra là những “thành tích giấy”! Phải chăng các bản báo cáo đã không trung thực, không dám nói thẳng vào sự tồn tại của các mặt trái, phải chờ đến mức không thể che giấu được nữa?   

Có những câu chuyện “cười ra nước mắt” về báo cáo thành tích. Địa phương trồng được 100 cây lấy gỗ, 50 cây ăn quả, báo cáo cuối năm, chính quyền, các ngành, đoàn thể đều có số liệu trồng từng đó cây. Khi cấp trên tổng hợp, biểu dương địa phương đã vượt chỉ tiêu trồng hàng nghìn cây lấy gỗ, hơn 500 cây ăn quả. Có tổ chức công đoàn, khi báo cáo hoạt động của tổ chức mình với cấp trên, lấy báo cáo thành tích của cơ quan, cắt đầu, cắt đuôi, cuối cùng tổ chức công đoàn đó được cấp trên biểu dương, tặng bằng khen.

Khi chúng tôi viết loạt bài này, có địa phương (không tiện nêu tên) phản ánh đến Báo Quân đội nhân dân, dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) vừa qua, địa phương làm rất nhiều việc chăm lo thương binh, chăm sóc, tặng quà người có công với cách mạng, được nhân dân ghi nhận nhưng không được cấp trên biểu dương khen thưởng. Nhưng có địa phương bên cạnh, chỉ tổ chức cho đoàn viên, thanh niên đi vệ sinh đường làng, ngõ xóm lại được khen thưởng, lý do bởi địa phương đó có "chuyên gia" viết báo cáo thành tích.

 “Tô hồng” thành tích, giấu giếm khuyết điểm nếu không phát hiện ra sẽ làm cho cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, địa phương, các tổ chức đoàn thể lầm tưởng cái gì cấp dưới của mình thực hiện cũng hay, cũng tốt. Rộng ra là làm cho Đảng, Nhà nước đánh giá sai sự thật, đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo thiếu khách quan, không sát thực tế.

Đây là căn bệnh nguy hiểm đã được V.I.Lênin chỉ ra: “Trong giáo dục đạo đức cộng sản, phải kiên quyết đấu tranh chống bệnh phô trương hình thức, thói kiêu ngạo, công thần... Bệnh đó là giặc nội xâm, bệnh từ bên trong mà ra, rất khó chữa, nếu không phát hiện sớm. Nó làm cho chúng ta suy nhược cơ thể, mất hết sức kháng cự. Nó tạo điều kiện, thậm chí “câu kết” với giặc bên ngoài phá nát “cơ thể” ta”.

Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm và kiên quyết chống căn bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm. Năm 1947, trong tác phẩm nổi tiếng “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc phê phán bệnh thành tích và tệ báo cáo “không thật thà” trong Đảng. Người gọi đó là “bệnh hữu danh vô thực” cần phải nghiêm khắc sửa chữa. Người chỉ ra các biểu hiện như: “Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai nhưng xét kỹ lại rỗng tuếch”, “khuyết điểm thì giấu đi không nói đến”, “làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà”, “việc gì cũng không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ nhằm về hình thức bề ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai”.

Đối với căn bệnh "tô hồng" thành tích, giấu giếm khuyết điểm được Đảng ta xác định là một trong những biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra, một trong những biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống là: Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được "đề cao, ca ngợi”; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương "về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới” đã xác định các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, một trong các biểu hiện đó là: “Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm”.

 “Tấm bình phong” che mắt

Tại sao bệnh “tô hồng” báo cáo, giấu giếm khuyết điểm, phô trương thành tích lại có chiều hướng phát triển? Nhiều ý kiến chuyên gia phân tích cho rằng, trước hết đó là do tâm lý háo danh, chuộng hình thức, thích phô trương và nhất là tư tưởng kèn cựa danh hiệu, đố kỵ thứ hạng, “con gà tức nhau tiếng gáy” còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên, tổ chức, cơ quan.

Mặt khác, đối với một bộ phận cán bộ, chuyện “tô hồng” đánh bóng tên tuổi, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu” không chỉ nhằm thỏa mãn mục đích thích được đề cao, ca ngợi mà sâu xa hơn, họ còn cố ý “bịt chặt” những lỗ hổng, khuyết điểm, sai trái của mình. Lúc ấy, thành tích sẽ trở thành “tấm bình phong” dễ bề che mắt thiên hạ! Báo cáo không trung thực sẽ là biện pháp hữu hiệu để những người lãnh đạo củng cố vị trí và thăng tiến, bởi những yếu kém, tồn tại được che giấu ở những bản thành tích không thật thà. 

Một lý do căn bản khác khiến cho bệnh thành tích lây lan, gây tác động tiêu cực đến chiều hướng phát triển lành mạnh của xã hội hiện nay, đó là do những khe hở, lỗ hổng trong cơ chế, chính sách. Một báo cáo “tô hồng” thành tích nhiều khi cũng bởi chính những áp lực từ những chỉ tiêu do cấp trên “giáng xuống”. Đôi khi chính cấp trên đã “bật đèn xanh” cho cấp dưới báo cáo sai sự thật, bắt buộc cấp dưới bằng mọi biện pháp phải hoàn thành để cấp trên còn báo cáo thành tích với cấp cao hơn. Thế nên nhiều cơ quan, đơn vị cả năm phấn đấu tốt nhưng chỉ vì một hành động sơ suất, vi phạm của một cá nhân lại đánh đổ cho cả đơn vị yếu kém. Quy định ngặt nghèo này nhiều khi cũng là nguyên nhân dẫn đến việc đơn vị giấu giếm khuyết điểm, báo cáo không trung thực, hoặc qua loa, làm ngơ. Bên cạnh đó, ở nhiều nơi còn tình trạng, cấp trên quan liêu, không sâu sát cơ sở, không kiểm tra, giám sát, đôn đốc thật sự, hoặc chỉ thích “thành tích”. Cấp dưới nắm được thóp này nên báo cáo không trung thực, “tô hồng” báo cáo. Việc thực hiện quy chế dân chủ không nghiêm, vai trò của quần chúng không được phát huy. Do đó, cấp trên không nghe được tiếng nói trung thực từ cơ sở.

Báo cáo “tô hồng”, thổi phồng thành tích, hơn ai hết, người trong cuộc, trong cơ quan, đơn vị đều biết, đều hiểu nhưng vì sao vẫn còn lặp đi lặp lại, thậm chí trở thành phong trào chạy đua thành tích. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ. Đó chính là vì “tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”. Lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau. Khi có khuyết điểm thì giấu giếm, thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật.

Thực tế thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cao mắc sai phạm nhưng tổ chức đảng không phát hiện ra mà chủ yếu do báo chí và nhân dân phát hiện. Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư khi phát biểu kết luận tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa qua không khỏi trăn trở: “Có nhiều cán bộ bị kỷ luật, thậm chí ra tòa, nhưng trước đó đều được xếp loại hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Chúng tôi được biết, tổ chức đảng ở nơi xảy ra vi phạm nhiều khi lại được xếp loại là tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

Trước đó, trong bài viết "Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng" của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý tới yêu cầu phải trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường trong lựa chọn cán bộ: “Đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong”. Bằng những tấm bằng khen của các cấp nhưng lại làm mờ dần đi tính trung thực, đưa lối suy nghĩ, việc làm dối trá lên hàng đầu mà quên đi cái hiện thực không mấy tốt đẹp bên ngoài bản báo cáo. 

Đáng nói, căn bệnh “tô hồng” báo cáo, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi, giấu giếm khuyết điểm đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng trong công tác xây dựng Đảng cũng như gây cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước ta. Đó cũng là nội dung chúng tôi bàn ở bài viết sau. 

Đến giữa thập niên 1970, Liên Xô đã có những bước phát triển mạnh mẽ khiến cả thế giới nể phục, những thế lực đối trọng rất lo lắng. Nhưng rồi tệ “báo cáo không trung thực" đã góp phần dần dần hủy hoại Liên Xô hùng cường và vĩ đại... Báo Tin tức (Liên Xô) ra ngày 27-12-1986 đăng tin cục trưởng cục thống kê một tỉnh bị bắt vì “báo cáo láo”. Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 22-8-1973 đã phải ban hành một nghị định ngăn chặn tệ “báo cáo láo” (trích tài liệu chuyên khảo khoa học của Ban Tuyên giáo Trung ương). 

QĐND

Không thể phủ nhận nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam


Từ trước tới nay, trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần cầu thị, sẵn sàng hợp tác, lắng nghe khuyến nghị của các chính phủ, cơ quan, tổ chức quốc tế để có những giải pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn loại tội phạm này. Tuy nhiên, chúng ta cũng không chấp nhận những đánh giá phiến diện, thiếu khách quan, phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong suốt thời gian qua.


Tuyên truyền cho người dân về phòng, chống mua bán người tại chợ phiên xã Pha Long, huyện Mường Khương (Lào Cai).

Từ năm 2000, Văn phòng giám sát và chống buôn người (The Office to Monitor and Combat Trafficking in Persons - J/TIP) trực thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bắt đầu công bố Báo cáo thường niên về tình hình buôn người (Trafficking in Persons Report - TIP Report) trên phạm vi toàn cầu. Đồng thời, cơ quan này cũng phân loại các quốc gia dựa theo sự tuân thủ của chính phủ những nước này với hệ thống quy định trong Đạo luật Bảo vệ nạn nhân buôn người (Trafficking Victims Protection Act - TVPA) được Hoa Kỳ thông qua năm 2000.

Kể từ khi được ban hành, nội dung trong các bản Báo cáo về tình hình buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lập tức trở thành chủ đề gây nhiều tranh cãi.

Thí dụ trong bài viết “Nâng cao hiệu quả của luật pháp quốc tế về chống buôn người: Tầm nhìn cho tương lai trong các báo cáo tình hình buôn người của Hoa Kỳ”, đăng trên tạp chí Đánh giá nhân quyền - Nhà xuất bản Springer ngày 1/12/2010, tác giả Anne T.Gallagher nhận định: “Báo cáo nên dựa trên quy định của pháp luật của quốc tế về chống mua bán người thay vì chỉ dựa theo tiêu chí do chính trị gia Hoa Kỳ áp đặt”.

Tương tự, trong bài viết “Thế giới bóng tối của lao động tình dục xuyên biên giới” đăng trên tờ The Guardian ngày 19/11/2008, nhà báo Laura Agustín đưa ra bình luận: “Báo cáo về tình hình buôn người của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ dựa trên phỏng đoán của CIA, cảnh sát và đại sứ quán Hoa Kỳ tại các nước mà không dựa trên sự khác biệt về văn hóa và các tầng lớp xã hội”.

Năm 2016 doanh nghiệp xã hội Seefar - một tổ chức có nhiều hoạt động kinh doanh vì mục tiêu xã hội tại các nước Đông Nam Á cho rằng các báo cáo TIP đưa ra quá nhiều khuyến nghị không phù hợp với bối cảnh và năng lực của một số quốc gia. Bên cạnh đó, tổ chức này cũng lưu ý rằng phần lớn khuyến nghị trong các báo cáo TIP không mang tính kế thừa bền vững, thiếu tầm nhìn dài hạn...

Dù nhận được nhiều góp ý từ các tổ chức quốc tế, giới học giả cho đến báo chí, các báo cáo TIP vẫn không cho thấy sự điều chỉnh cải thiện cách nhìn để bảo đảm sự khách quan, công bằng. Nội dung của Báo cáo TIP 2022 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố mới đây tiếp tục đưa ra nhiều nhận định phiến diện, sai sự thật về tình hình phòng, chống mua bán người ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể, Báo cáo TIP 2022 hạ bậc Việt Nam xuống Nhóm 3 - các nước không đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu để loại bỏ nạn mua bán người và không có các nỗ lực để đáp ứng các tiêu chuẩn này.

Điều đáng nói là dù chỉ trích Việt Nam “thiếu nỗ lực đáng kể”, Báo cáo TIP 2022 vẫn buộc phải thừa nhận: Chính phủ Việt Nam đã có những bước tiến để giải quyết nạn buôn người; ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành sáng kiến, chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật quốc tế; các cơ quan thực thi pháp luật đã tăng cường hợp tác với các cơ quan có cùng chức năng, nhiệm vụ của các quốc gia trên thế giới… Báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam hỗ trợ nhiều nạn nhân hơn so với năm 2020. Bộ Công an cũng tập trung chỉ đạo nhằm kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm mua, bán người xảy ra ở Việt Nam.

Trên thực tế, từ trước đến nay, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó có công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người được xác định là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài và được thực hiện một cách chủ động. Nhiều văn bản chính sách, pháp luật về phòng ngừa mua bán người, lao động cưỡng bức, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán, bảo vệ trẻ em được ban hành suốt thời gian qua.

Tiêu biểu có thể kể đến như: ngày 10/5/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg lấy ngày 30/7 hằng năm là “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc.

Tháng 2/2021 Chính phủ đã ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, việc quan tâm, hỗ trợ, chăm sóc các nạn nhân của hành vi mua, bán người được Chính phủ đặc biệt quan tâm, thể hiện thông qua Nghị định số 20/2021/NĐ-CP về việc quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

Cơ chế phối hợp liên ngành trong hoạt động về phòng, chống mua bán người tiếp tục được tăng cường trong năm 2022. Ngày 18/7, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao đã ký quy chế phối hợp tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân buôn người.

Trước tình trạng mua bán người diễn ra ngày một phổ biến trên không gian mạng, mạng xã hội, ngày 29/7 vừa qua, Bộ Công an phối hợp Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Lễ phát động hưởng ứng “Ngày thế giới phòng, chống mua bán người” và “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người-30/7” với chủ đề “Sử dụng và lạm dụng không gian mạng”, nhằm lan tỏa thông điệp của chương trình và khẳng định cam kết của Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết tâm ngăn chặn nạn mua bán người.

Đồng thời, Việt Nam luôn sẵn sàng tiếp thu, cộng tác với chính phủ, cơ quan, tổ chức quốc tế nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn tội phạm buôn người, hỗ trợ các nạn nhân của mua bán người. Ngày 24/9/1982 Việt Nam chính thức gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Nhiều năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong việc nội luật hóa Công ước ICCPR và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người nói chung, phòng, chống mua bán người nói riêng thể hiện qua Luật Phòng, chống mua bán người, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2019 và gần đây là Luật Người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Do nằm trong khu vực có tình hình buôn người phức tạp, năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cùng các nhà lãnh đạo ASEAN ký Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng gia nhập nhiều nghị định, hiệp ước, điều ước, thỏa thuận song phương, đa phương nhằm ngăn chặn tội phạm mua bán người.

Sau khi thông qua Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự (Thỏa thuận GCM) vào ngày 19/12/2018, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều kế hoạch, hoạt động tích cực nhằm triển khai thỏa thuận này. Ngày 24/5/2022, Việt Nam đã tham dự Diễn đàn Rà soát di cư quốc tế (IRMF) lần thứ nhất, qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc củng cố môi trường di cư minh bạch, ngăn chặn nguy cơ mua bán người núp bóng hoạt động di cư quốc tế.

Bên cạnh đó các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về phòng, chống mua bán người, chuẩn bị cho Hội nghị liên Bộ trưởng các nước Tiểu vùng Mê Kông mở rộng về phòng, chống mua bán người (COMMIT) và họp Ban chỉ đạo COMMIT khu vực theo đề xuất của Chính phủ vương quốc Thái Lan...

Từ những việc làm cụ thể, có hiệu quả trên thực tế, Việt Nam được đánh giá là thành viên trách nhiệm trong phòng, chống mua bán người. Do đó Báo cáo TIP 2022 về tình hình buôn người tại Việt Nam không phản ánh đúng tình hình thực tế.

Thậm chí, xét trên mặt bằng 188 quốc gia hiện diện trong báo cáo, những kết quả mà Nhà nước Việt Nam đạt được là rất tích cực bất chấp tác động xấu từ đại dịch Covid-19 lên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn 2021-2022. Mặc dù vậy, J/TIP vẫn cố tình hạ thấp những thành tựu này song song với việc thổi phồng một số cáo buộc vô căn cứ.

Ngày 21/7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới, người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra Báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới với các thông tin không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam.

Trước những đánh giá phiến diện, vô lý được nêu trong Báo cáo TIP 2022 chính quyền nhiều nước đã bày tỏ thái độ bất bình. Ngoài ra, có thể kể đến phản ứng của các nghiệp đoàn tại Malaysia được phản ánh trên tờ The Star Malaysia ngày 24/7/2022 khi họ đặt nghi vấn về độ tin cậy của các bên đứng sau Báo cáo TIP 2022 vì thiếu cơ sở, phương pháp đánh giá và cách thức thu thập bằng chứng trước khi đưa ra kết luận.

Gay gắt hơn, Chính quyền Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) phát biểu trên trang Tin tức ngày 20/7/2022 tuyên bố Báo cáo TIP 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Hồng Kông vào Danh sách theo dõi Cấp 2 là không công bằng và không phản ánh đúng sự thật; đồng thời lên án những người lập ra báo cáo cố tình can thiệp vào hệ thống pháp luật hiện tại của vùng lãnh thổ này.

Những năm qua, dù không đồng tình với nội dung được nêu trong các báo cáo TIP hằng năm, Chính phủ Việt Nam vẫn giao lưu, hợp tác, tiếp thu kinh nghiệm với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người, đồng thời nghiêm túc xem xét, giải quyết các khuyến nghị được nêu ra trong từng báo cáo.

Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn phía Hoa Kỳ trong thời gian tới hợp tác chặt chẽ hơn nữa để có đánh giá đầy đủ về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam, sẵn sàng trao đổi với phía Hoa Kỳ cũng như các bên liên quan về những vấn đề hợp tác cụ thể để cùng nhau triển khai hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người.

Song Báo cáo TIP 2022 đã thiếu sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, dẫn đến kết quả đưa ra không phản ánh đúng tình hình thực tế, gây bức xúc dư luận. Điều này chắc chắn sẽ làm giảm uy tín, giá trị của các bản báo cáo TIP đối với Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới./.

Quang Minh (nhandan.vn)

Cảnh giác với suy diễn, xuyên tạc

   

- Trên chuyến xe về quê, ông Thanh bất đắc dĩ phải nghe cuộc tranh luận của hai vị khách ở hàng ghế phía trước. Người trung tuổi nói với cậu thanh niên:

- Đấy chú xem, anh nói cấm có sai, huyện đã có quyết định kỷ luật rồi. Tại có đối thủ muốn giành cái ghế chủ tịch xã của ông ấy.

- Ông ấy sai phạm rõ ràng thì việc bị kỷ luật là đương nhiên mà anh.

Giọng người trung niên hơi cáu:

- Lỗi của ông ta đáng gì, thậm chí người khác còn tội to hơn. Đây là thanh trừng, đấu đá nhau chú hiểu không? Ông ta bị chơi xấu, tạo cớ cho lãnh đạo huyện đá bay ghế chủ tịch xã để đưa người thân vào. Chú tí tuổi thì làm sao hiểu chuyện đấu đá, hạ bệ để tạo thế cho phe cánh.  


- Em xin lỗi, nhưng chính anh mới là người không hiểu chuyện. Anh có biết quy trình kỷ luật một cán bộ, đảng viên phải chặt chẽ thế nào không? Em làm ở cơ quan nhà nước nên em hiểu rất rõ. Việc kỷ luật cán bộ, đảng viên phải trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm tra với đầy đủ bằng chứng vi phạm, bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội chứ không thể thích kỷ luật ai cũng được. Ở đây chẳng có phe phái đấu đá hay thanh trừng gì cả!

- Chú đúng là "trẻ người non dạ", chẳng hiểu gì! Anh nghe mấy đứa bạn ở quê đều bảo thế. Mà nói cho chú biết, anh đọc trên mạng, người ta cho rằng việc kỷ luật bây giờ chủ yếu là do phe cánh đấu đá để hạ bệ nhau thôi. Chú còn trẻ trâu lắm!

Thấy tình hình có vẻ căng, ông Thanh liền "giải nguy" cho cậu thanh niên:

- Tôi thấy anh bạn trẻ này nói đúng đấy chú ạ. Chính chú mới là người nói liều, không có căn cứ. Bản thân chú đang bị những người không hiểu chuyện hoặc họ rất hiểu nhưng cố tình suy diễn, xuyên tạc với mục đích xấu. Lâu nay, ở trên các trang mạng phản động, từ việc cán bộ có vi phạm bị xử lý kỷ luật, kẻ xấu đã suy diễn, tuyên truyền nhảm là phe phái đấu đá, thanh trừng lẫn nhau nhằm bôi xấu chế độ ta, gây mâu thuẫn, mất đoàn kết trong tổ chức đảng, chính quyền và nguy hiểm nhất là làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Những ai nhẹ dạ cả tin, suy nghĩ thiếu chín chắn thì dễ bị "xỏ mũi", hiểu sai sự việc theo ý đồ của chúng, tức là mắc chiêu xuyên tạc, kích động này.  

Nghe những lời phân tích của ông Thanh, người trung niên chắc đã hiểu ra nên im lặng.

TRẦN ANH

Lợi dụng vấn đề ngôn ngữ để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

      

Gần đây tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số, một số đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng vấn đề ngôn ngữ các dân tộc thiểu số để tung tin giả, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kích động sắc tộc, chia rẽ vùng, miền, gây mất ổn định trật tự-an toàn xã hội... Vì vậy chúng ta cần hết sức cảnh giác, nhận diện rõ vấn đề này một cách kịp thời và đưa ra phương pháp đấu tranh, phòng chống hiệu quả.

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người dân tộc; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người dân tộc với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào dân tộc để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng dân tộc ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng dân tộc thiểu số, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách trên đã phát huy trên thực tế. Nếu như trước đây, chỉ có một số dân tộc như Chăm, Khmer,... có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng của mình thì đến nay việc La-tinh hóa cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc chỉ có tiếng nói, không có chữ viết như H’Mông, Ê Đê, Jrai... và hệ thống hóa ký tự của người Tày, Dao, Thái... đã được triển khai. Qua đó, các tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Chỉ tính riêng Đài Tiếng nói Việt Nam đã có 6 chương trình tiếng Việt chuyên sâu về đề tài dân tộc thiểu số; 13 chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số phủ sóng tại các vùng tập trung đông đồng bào dân tộc ít người tại Tây Bắc, Đông Bắc, miền trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ; hơn 400 chương trình phát thanh (giai đoạn từ 2011-2021) để tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số về Chương trình 135, cải thiện sinh kế, nâng cao nhận thức của đồng bào về vấn đề quyền con người...

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng dân tộc thiểu số; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, Ê Đê, H’Mông, M’Nông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Jrai, Bahnar, H’Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người dân tộc thiểu số vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị-xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.

Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số./.

Mai Chi (nhandan.vn)