Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

THÀNH QUẢ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM GÓP PHẦN BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

 

Lúc còn sinh thời; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”. Ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười đã cổ vũ hàng triệu triệu người bị áp bức, bóc lột trên thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc, dẫn tới thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước trên các lục địa Á, Phi, Mỹ La-tinh và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trong thế kỷ XX.

Thật đáng tiếc; Sau khi Liên Xô tan rã vào cuối thế kỷ trước các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, triệt để tận dụng những sai lầm đó để ra sức xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa và giá trị của Cuộc Cách mạng này; họ phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc. Còn cho rằng: “Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội tại cái nôi của Cách mạng Tháng Mười là tất yếu, chứng tỏ sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, ảo tưởng”; và do đó, “các dân tộc cần nói “không” với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đối với Việt Nam, họ khuyến cáo chúng ta “không nên định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi đó là con đường không có tương lai”. Thế nhưng họ đã nhầm, thực tiễn không phải vậy; thành quả trong công cuộc đổ mới của cách mạng Việt Nam trong hơn 35 năm qua đã minh chứng những xuyên tạc, phủ nhận đó hoàn toàn vô căn cứ.

Liên Xô tan rã, chúng ta coi đó là một tổn thất to lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhưng không phải là tất yếu. Nguyên nhân chính, trực tiếp, có tính quyết định dẫn đến sự tan rã đó là do những sai lầm trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng Cộng sản cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Vì vậy, đây chỉ là sự sụp đổ một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể, không đồng nghĩa với “sự cáo chung của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” như xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch.

Thực tiễn hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại”. Với đường lối đó, Đảng ta đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, “Nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”.

Đảng cùng nhân dân ta luôn kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa cách mạng Việt Nam vượt qua khủng hoảng, lập nên những thành tựu “to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Được thể hiện trên các mặt sau:

Trên lĩnh vực chính trị; Nước ta có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước; Đối tác toàn diện với 11 nước, bao gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đã 02 lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng này (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021) và còn đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác, như: Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA, Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới, Ủy viên Ủy ban Luật pháp quốc tế và Ủy viên Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc, v.v. Với vị thế và uy tín của mình, Việt Nam trở thành địa điểm tin cậy của nhiều sự kiện quốc tế. Sự kiện ngày 07/12/2020, Liên hợp quốc nhanh chóng thông qua Nghị quyết về tổ chức “Ngày thế giới sẵn sàng phòng, chống dịch bệnh” do Việt Nam đề xuất, đã khẳng định vị thế chính trị ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế; trong suốt 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nước ta phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao, đạt mức tăng trưởng trung bình khoảng 07% mỗi năm. Từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỉ USD và GDP bình quân đầu người khoảng 250 USD trong những năm đầu đổi mới, ngày nay Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng mở rộng, đạt 342,7 tỉ USD vào năm 2020, đứng trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN; thu nhập bình quân đầu người đạt 3.521 USD vào năm 2020, đứng thứ sáu trong ASEAN. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, đến nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều hàng nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt 543,9 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD; xuất siêu liên tục từ 2016 - 2020, nhờ đó cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, dự trữ ngoại hối tăng từ 12,4 tỉ USD năm 2010 lên 100 tỉ USD vào năm 2020. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), được 79 nước công nhận là nền kinh tế thị trường, có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ; đã ký 16 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Trong gần 2 năm qua, do tác động của đại dịch Covid-19, năm 2020 là năm ghi nhận những suy giảm mạnh về tăng trưởng của tất cả các nước trên thế giới, song Việt Nam vẫn là một trong số ít nền kinh tế có tăng trưởng dương; được các chuyên gia trên thế giới đánh giá tích cực về triển vọng phát triển. Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, năm 2021, kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai đồng bộ các biện pháp vừa phòng chống dịch hiệu quả, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, được quốc tế đánh giá cao.

Quốc phòng và an ninh; không ngừng được tăng cường; chủ quyền quốc gia, môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước. Đến nay nước ta có quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi,… từ năm 2014, nước ta bắt đầu cử lực lượng tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Điều đó thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong việc xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Các lĩnh vực khác của đất nước; tiếp tục phát triển và có nhiều thành tựu quan trọng. Năm 2020, nước ta đã có 09 bác sĩ và 28 giường bệnh trên một vạn dân; 91% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 03 lần trong 35 năm qua. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020). Theo Báo cáo cập nhật tháng 4/2021 của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo đạt được những kết quả tích cực. Nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học (năm 2000) và trung học cơ sở (năm 2010); 95% người lớn biết đọc, biết viết; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Nhiều đoàn học sinh Việt Nam đã đoạt huy chương vàng, bạc trong các kỳ thi quốc tế. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới, có khoảng 70% dân số sử dụng internet; thể thao nước nhà cũng đã vượt khỏi phạm vi châu lục để vươn ra sân đấu tầm thế giới, như World Cup, Olympic. Nhờ kinh tế có bước phát triển, chúng ta có điều kiện để làm tốt hơn công tác an sinh xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); người nghèo và trẻ em dưới 06 tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2019 đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Việt Nam được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ.

Nhiều dự án công nghệ cao được triển khai thực hiện thành công trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong y tế, giáo dục, đào tạo, thương mại điện tử, công nghệ thông tin, chuyển đổi số, v.v. Nhờ đó, năm 2020, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập.

Từ những thành tựu to lớn của 35 năm đổi mới, có thể tự hào rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đây là kết quả phấn đấu bền bỉ, liên tục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Thực tiễn đó tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta là đúng đắn; đồng thời, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, mà bấy lâu nay các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc, phủ nhận./.

Phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng

 

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ triển khai thực hiện các giải pháp chủ động tăng cường phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó, đề xuất các biện pháp chủ động phòng ngừa, đấu tranh, góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ Cách mạng công nghiệp 4.0, thì nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi “lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn.

Chúng lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, chúng lợi dụng tiện ích từ Cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân của các đồng chí lãnh đạo cao cấp, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ.

Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ khoa học của Cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nghiêm trọng hơn, chúng khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương đã lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ triển khai thực hiện các giải pháp chủ động tăng cường phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Cụ thể, Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản quy định về an toàn thông tin mạng, phòng, chống thông tin xấu, đốc trên không gian mạng. Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 4918/QĐ-BCT ngày 27/12/2018 về việc ban hành quy chế đảm bảo an toàn thông tin mạng Bộ Công Thương, trong đó nêu rõ nguyên tắc chung là Thủ trưởng đơn vị là người chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng. Bảo đảm an toàn thông tin mạng là yêu cầu bắt buộc trong quá trình thiết kế, xây dựng, vận hành, nâng cấp, sử dụng và huỷ bỏ các hệ thống công nghệ thông tin của cơ quan nhà nước. Hằng năm, Bộ Công Thương đều có các chỉ thị, công văn đôn đốc chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn thông tin nhằm nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại; tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam theo tinh thần Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/5/2018 và Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ.

Cùng với đó, Bộ thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động ngành Công Thương khi sử dụng mạng xã hội. Tăng cường cung cấp thông tin chính thống, các gương điển hình tiên tiến, mô hình, cách làm hay, hiệu quả… của ngành, cơ quan, đơn vị lên Cổng thông tin điện tử của Bộ, website của các đơn vị thành viên và mạng xã hội theo phương châm “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn. Bên cạnh đó, tại các quyết định, chỉ thị, văn bản đôn đốc thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin đã lồng ghép các nội dung về việc yêu cầu các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Bộ không chia sẻ, cung cấp những thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

Đơn vị cũng tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc nắm, định hướng tình hình tư tưởng, thái độ, quan điểm của cán bộ, đảng viên, quần chúng khi chia sẻ, bình luận, đăng tải thông tin trên mạng xã hội, nhất là trong những đợt cao điểm liên quan đến tình hình an ninh chính trị; siết chặt công tác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước, nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng và Nhà nước, cơ quan, đơn vị; xử lý kịp thời, kiên quyết các trường hợp vi phạm.

Ngoài ra, Bộ Công Thương còn xây dựng, dự phòng các phương án đảm bảo an toàn thông tin cho từng hệ thống. Bộ Công Thương đã rà soát và xếp hạng cấp độ các hệ thống thông tin theo Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ, xây dựng các kế hoạch, phương án cụ thể cho các sự cố ứng cứu an toàn thông tin.

Đồng thời, kết hợp đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo an toàn thông tin mạng. Hằng năm, Bộ Công Thương đã cử các cán bộ tham gia các khóa tập huấn, diễn tập về an toàn thông tin mạng do Bộ thông tin và Truyền thông tổ chức. Bộ cũng chủ động tổ chức các khóa đào tạo nâng cao nhận thức về an toàn thông tin cho các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Bộ. Bên cạnh đó, những cán bộ vận hành, chuyên trách về công nghệ thông tin cũng được tham gia những khóa đào tạo chuyên sâu nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.

Trong thời gian tới, Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự giác cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, người lao động ngành Công Thương trong việc phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Như chúng ta đã biết, sự phát triển của công nghệ mới đang phá bỏ những ranh giới của không gian mạng. Cùng với việc mở rộng không gian mạng và tính liên kết ngày càng cao thì các vấn đề của xã hội, của con người lại càng nhiều và càng phức tạp. Không gian mạng đang chiếm lĩnh không gian và thời gian thực của con người ngày càng nhiều hơn, ảnh hưởng ngày càng lớn với tốc độ ngày càng nhanh. Chính vì vậy, nó ảnh hưởng sâu rộng và phức tạp đến lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Cho dù trong mấy năm gần đây, chúng ta đã phần nào giành lại thế chủ động trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng thông qua việc đấu tranh phản bác lại những quan điểm, luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, song tính bất đối xứng của cuộc chiến tư tưởng vẫn là một hiện tượng thường thấy, là một thách thức không nhỏ. Điều này không thể không ảnh hưởng xấu và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Để hoạt động tư tưởng, lý luận trên không gian mạng đạt hiệu quả hơn nữa, chúng ta cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, gắn lý luận với thực tiễn trên không gian mạng; Trên mặt trận tư tưởng vũ khí quan trọng nhất là vũ khí lý luận, song lý luận phải thật sự khoa học chứ không phải lý thuyết suông, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn và mang hơi thở của cuộc sống, phải bao quát được những vấn đề nền tảng, có tính quy luật và đưa ra hướng giải quyết những vấn đề then chốt. Bất kể sự phát triển của không gian mạng và các phương tiện truyền thông như thế nào, thì suy nghĩ và quan điểm vẫn là thành tố quan trọng nhất của nội dung tư tưởng. Nếu không có nội dung, không có chiều sâu thì lý luận dù hay đến đâu cũng chỉ là hô khẩu hiệu, trống rỗng, không có bất kỳ ảnh hưởng tích cực nào. Chúng ta phải sử dụng lý luận làm nền tảng vững chắc cho định hướng chính trị và dẫn dắt dư luận. Trận địa tư tưởng trên không gian mạng, việc chúng ta có đứng vững và chiến thắng hay không liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Trước tình hình trong nước và quốc tế có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những biến động khó lường như hiện nay, không gian mạng trở thành công cụ nền tảng mới để giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân; đồng thời, đó cũng là một không gian mới để đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, là một phương thức mới để định hướng dư luận xã hội về mặt tư tưởng. Đây thực sự là một mặt trận quan trọng và không thể buông lỏng. Do đó, cần giữ vững và không ngừng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục chính trị, tư tưởng trên mặt trận trực tuyến này.

Để có thể định hướng tư tưởng trên không gian mạng, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng sự thực khách quan, đối mặt với các vấn đề đang nảy sinh từ thực tiễn của xã hội; dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng và đưa ra các ý tưởng, phương án giải quyết các vấn đề của đất nước một cách đúng đắn, hiệu quả; từ đó mới có thể nâng cao tính thuyết phục, tính định hướng của hệ tư tưởng chính thống.

Thứ hai, Bài học lấy dân làm gốc kết hợp với xây dựng đội ngũ làm công tác lý luận trên môi trường không gian mạng; Chúng ta cần phải luôn tôn trọng địa vị cao nhất của nhân dân, tin tưởng và dựa vào quần chúng nhân dân trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi của công tác tư tưởng trực tuyến là cách đối xử với quần chúng trên không gian mạng. Chúng ta nói lên tiếng nói của người dân, bênh vực nhân dân, đứng về phía quyền lợi của nhân dân thì nhân dân sẽ tin yêu chúng ta, bảo vệ chúng ta. Không gian mạng có tính mở, vì vậy, nếu chúng ta không chiếm lĩnh mạng thì những người khác cũng sẽ chiếm lĩnh; hơn nữa, điều hết sức nguy hiểm là môi trường này bị bỏ trống, trong khi nó có những ưu thế rất lớn như đã nói ở trên. Trong tình huống như vậy, tính hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận chắc chắn sẽ ảnh hưởng đáng kể. Do đó, chúng ta cần phải chủ động chiếm lĩnh không gian mạng, tăng cường sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng chính thống bằng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng đối với cư dân mạng. Cư dân mạng có cả người dân lẫn cán bộ, đảng viên.

Đối với nhân dân, công tác giáo dục tư tưởng, chính trị cho nhân dân cần gắn với giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lịch sử, văn hóa, tình cảm, đạo đức. Đối với cán bộ, đảng viên, cần tăng cường giáo dục lý tưởng, niềm tin và quan trọng hơn là nâng cao nhận thức về các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên không những không được có những biểu hiện trái với quan điểm của Đảng, mà còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tuyên truyền, bảo vệ quan điểm của Đảng trên không gian mạng.

Thứ ba, đổi mới phương pháp truyền thông tư tưởng trên không gian mạng cần hay hơn và hấp dẫn hơn; Trên không gian mạng, mọi người không muốn xem, nghe các bài viết một chiều. Trên không gian mạng, quyền lực của các tổ chức không tác động được đến cơ chế tiếp cận thông tin. Đồng thời, quan niệm truyền thông truyền thống lấy tin tức làm trung tâm đã dần thay đổi, chức năng giáo dục, chức năng tư tưởng của truyền thông ngày càng giảm đi, đồng thời các chức năng giao tiếp, chức năng giải trí ngày càng tăng nhanh.

Ngày nay, nội dung thể hiện luận điểm của những cá nhân tham gia không gian mạng có xu hướng ngày càng ngắn lại, từ những cuộc tranh luận hàng trăm trang trên các diễn đàn như trước kia, giờ đây được rút gọn, cá nhân hoá thành các bài dài trên trang cá nhân (blog), rồi rút ngắn hơn nữa ở các tút trên Facebook, rồi các thông điệp cực ngắn trên Twitter. Bản thân các video dài trên Youtube đã ngắn đi nhiều ở các nền tảng video khác, đặc biệt là ở TikTok với độ dài chỉ khoảng 15 giây. Với không gian mạng như vậy thì các bài nghiên cứu lý luận, các bài viết mang tính tư tưởng như hiện nay dường như dài và khô khan với cư dân mạng. Chính vì vậy, truyền thông tư tưởng trên không gian mạng muốn đạt hiệu quả thì thông tin cần phải thực sự hấp dẫn, thu hút và lấy được sự yêu thích không chỉ đối với cán bộ, đảng viên mà cả với người dân, đặc biệt là giới trẻ hiện nay.

Để có được những chiến dịch truyền thông tư tưởng trên không gian mạng được người dân đón nhận và tham gia hay không phải là một tiêu chí cơ bản để đánh giá mức độ thành công của công tác xây dựng Đảng về tư tưởng. Truyền thông tư tưởng cần chủ động thích ứng với hoàn cảnh mới, tình hình mới, nhiệm vụ mới trên không gian mạng, không ngừng đổi mới quan niệm, hình thức, phương pháp, phương tiện, thậm chí thay đổi phương thức diễn ngôn truyền thống, sử dụng cách diễn ngôn hiện đại, hấp dẫn, sinh động một cách lành mạnh và thẩm mỹ để lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân cùng tham gia vào các hoạt động tư tưởng, lý luận trên môi trường không gian mạng./.

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2022

MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN NÊU CAO Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM TRONG XÂY DỰNG KHÔNG GIAN MẠNG LÀNH MẠNH

              Vai trò to lớn của không gian mạng đem lại đối với sự phát triển của xã hội loài người là không thể thiếu được trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão (4.0). Vì vậy, không gian mạng cũng đã trở thành môi trường tác chiến mà các quốc gia trên thế giới đang triệt để tận dụng lợi thế này. Do đó, trong môi trường ấy đã diễn ra các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng đã xuất hiện và đang tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… thậm chí đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc của các nước. 

Từ thực tiễn, trên thế giới cũng đã từng diễn ra nhiều cuộc binh biến chính trị như: năm 2014, làn sóng cách mạng xã hội và các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông và Hồng Kông có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng; năm 2016 ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ đã dập tắt cuộc đảo chính của quân đội nhờ mạng xã hội; năm 2016, Donal Trump thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống nước Mỹ cũng có sự đóng góp to lớn của mạng xã hội… 

Hiện nay các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta một cách quyết liệt. Chúng đã trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ quyền, an ninh, an toàn của đất nước và đời sống của Nhân dân ta. Trên không gian mạng mà trực tiếp là truyền thông mạng là công cụ đắc lực của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động để thúc đẩy “tự diễn biến”“tự chuyển hóa” trong lòng xã hội Việt Nam. Các thế lực này chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực từ: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, tôn giáo - dân tộc, quốc phòng - an ninh, đối ngoại… với đủ các chiêu trò và thủ đoạn khác nhau. Từ những thực tiễn đó, chúng ta phải làm gì trước mặt trái của truyền thông trên không gian mạng? 

Trên thế giới: Để đối phó với các mặt trái của truyền thông, mạng xã hội, đa phần các quốc gia đều coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn, kết hợp với tuyên truyền và xây dựng các biện pháp, chế tài pháp lý trong quản lý, kiểm soát hoạt động truyền thông. Để ngăn chặn sự chống phá của phương Tây và lực lượng thù địch, đặc biệt là sự tác động vào ý thức của thế hệ trẻ. Điển hình như: Trung Quốc đã đưa ra “7 giới hạn đỏ” yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện. Khi xảy ra các sự cố trong nước, Trung Quốc cho lập “tường lửa vạn lý Trường Thành”, thậm chí chặn toàn bộ các mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo các cơ quan truyền thông tập trung tuyên truyền, đấu tranh mang tính hệ thống.

Mỹ cũng lập riêng một tiểu ban để phân tích và kiểm tra các thông tin trên báo chí khi xảy ra các biến cố an ninh trong nước, bên cạnh đó, Cục Điều tra Liên bang còn thành lập một lực lượng chuyên kiểm soát thông tin trên internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động. 

Chính phủ Nga đã ngăn cấm các công ty nước ngoài phát triển mạng xã hội trong nước. Nga rất coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển lực lượng tác chiến mạng và coi đó là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. 

Đối với Việt Nam ta, cùng với hàng loạt giải pháp kỹ thuật, quản lý Nhà nước, Việt Nam còn sử dụng chính truyền thông trên không gian mạng để làm công tác đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tổ chức phản động. Sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng cho thấy sự quyết tâm và chủ động về chủ trương nhằm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong tình hình mới. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng sẽ đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên không gian mạng. 

Mỗi cán bộ, đảng viên, khi tham gia vào không gian mạng, có thể nhận diện các thế thực thù địch, phản động thông qua các thủ đoạn của chúng cũng như cần cảnh giác với các trang web, blog, trang thông tin truyền thông như: VOA tiếng Việt, “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Chân dung quyền lực”… Đồng thời cũng cần nhận biết các tổ chức như: Việt Tân, Hội anh em dân chủ và Hoàng Sa, đảng “Dân chủ nhân dân”, “Phong trào Lao động Việt”, “Viễn tưởng Việt Nam”, “Đảng Vì dân”… là các tổ chức phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Nêu cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng không gian mạng lành mạnh mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ học viện khi tham gia vào không gian mạng cần chú ý mấy vấn đề sau đây:

Nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng. Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như đã nêu ở trên.

Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc đường link, cảnh giác với các trang web lạ, email chưa rõ danh tính và đường dẫn nghi ngờ, tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.

Sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mạng kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hoá mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả. Phổ biến, tuyên truyền đến đồng chí đồng đội, gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, “góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh từ cơ quan đến gia đình.

Không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu đãđang tác động đến mỗi chúng ta. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, đơn vị đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi chúng ta./.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

             Trong tình hình hiện nay, Âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho quân đội ta “suy yếu”, mất phương hướng và mục tiêu chính trị, nhưng tác động của nó vô cùng nguy hiểm. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang tác động không nhỏ và ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong quân đội ta hiện nay, cần chú ý nghiên cứu một số vấn đề sau đây:

Nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Lúc sinh thời V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Do đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta đều bắt nguồn từ một “niềm tin” vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của quân đội và nhân dân ta.

Từ những nhận thức đúng đắn về vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của quân đội ta. Vì vậy,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị.

Để nâng cao bản lĩnh chính trị, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải thường xuyên quán triệt vào trong quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng lớn hơn. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Cần phải phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Hiệp đồng chặt chẽ với với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan các tình huống bạo loạn xảy ra. Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội ta.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy chúng ta phải thực hiện đồng bộ những giải pháp có tính chiến lược lâu dài nhằm góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị đáng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

CẦN NÂNG CAO SỨC ĐỀ KHÁNG VỚI NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao sức đề kháng cho mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng trong toàn học viện nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ Cách mạng công nghiệp 4.0, thì nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi “lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn tinh vi sảo quyệt.

Chúng lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, chúng lợi dụng tiến bộ khoa học của Cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Nguy hiểm hơn nữa, chúng khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Toàn học viện thường xuyên quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhận thức đúng đắn tình hình, nâng cao khả năng sức đề kháng đối với những thủ đoạn mới của các thế lực phản động, thù địch. Đặc biệt trong thời gian này nhất là gần đến ngày khai mạng Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Toàn học viện sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện công tác bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, phát huy tinh thần tự giác cho cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức, trong toàn học viện trong việc phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng đạt được hiệu quả cao nhất.

KỶ LUẬT LÀ ĐỘNG LỰC GIỮ SỨC MẠNH CỦA BỘ ĐỘI

 V.I. Lênin từng cho rằng: Trong chiến tranh “kẻ nào có kỷ luật cao hơn, có trình độ tổ chức và kỷ luật cao hơn... thì kẻ đó chiến thắng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua” và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”.

Ngày 11-9-1950 [Chủ tịch Hồ Chí Minh](https://www.qdnd.vn/tag/chu-tich-ho-chi-minh-534.html) dự Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới và chỉ thị: “Chưa đánh thắng thì chưa được coi là đã chuẩn bị xong... Trong quân sự phải kiên quyết và bạo dạn. Bạo dạn, dũng cảm không phải là liều. Liều là dại. Dũng cảm là khôn. Kiên quyết và bạo dạn không phải là một người mà phải toàn bộ tất cả mọi người. Muốn toàn bộ kiên quyết và bạo dạn thì phải có kỷ luật... Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”.

Giữ nghiêm kỷ luật là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với mọi tổ chức quân đội, dù đó là quân đội của một quốc gia, một thể chế chính trị - xã hội, trong quá khứ, hiện tại hay tương lai.

Quân đội nhân dân Việt Nam không nằm ngoài đòi hỏi, quy luật phổ quát trên. Do đó, rèn luyện kỷ luật cho mọi quân nhân là điều kiện đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động, mọi tình huống, lúc thường cũng như trong chiến đấu, công tác và sản xuất.

VUN ĐẮP TÌNH HỮU NGHỊ VÀ HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - CAMPUCHIA

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vương Ðình Huệ, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin dẫn đầu Ðoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Campuchia thăm chính thức Việt Nam, từ ngày 12 đến 14/9. Chuyến thăm được thực hiện trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, đánh dấu kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (1967-2022).

Là hai nước láng giềng, cùng nằm trên bán đảo Ðông Dương và thuộc vùng hạ lưu sông Mê Công, Việt Nam và Campuchia có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó lâu đời và luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước vun đắp, phát triển.

Trải qua những năm tháng hai nước kề vai, sát cánh đấu tranh giành độc lập, cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện trở thành tài sản chung của hai dân tộc.

Thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam và Campuchia không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ song phương theo phương châm láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Theo năm tháng, quan hệ Việt Nam-Campuchia ngày càng phát triển, cả bề rộng lẫn chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển tại mỗi nước, cũng như trong khu vực và trên thế giới.

Ðoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Campuchia do Chủ tịch Quốc hội Samdech Heng Samrin dẫn đầu thăm chính thức Việt Nam trong bối cảnh quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định. Quan hệ chính trị được tăng cường, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì hoạt động thăm, tiếp xúc và trao đổi dưới nhiều hình thức.

Hợp tác giữa các cơ quan, địa phương hai nước được triển khai ngày càng hiệu quả, đi vào chiều sâu. Hoạt động giao lưu nhân dân, nhất là tại các địa phương biên giới chung diễn ra sôi nổi, thiết thực, góp phần nâng cao hiểu biết của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, về truyền thống đoàn kết, hữu nghị, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước, hai dân tộc.

Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam-Campuchia duy trì đà tăng trưởng tích cực. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2021 đạt 9,54 tỷ USD, tăng 79,1% so mức năm 2020; trong 7 tháng từ đầu năm 2022 đạt 7,08 tỷ USD, tăng 17,8% so mức cùng kỳ năm 2021.

Việt Nam hiện có 188 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Campuchia, với tổng vốn 2,8 tỷ USD và duy trì vị trí đứng đầu ASEAN và trong tốp 5 nước có đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia. Viện trợ của Việt Nam cho Campuchia tiếp tục được triển khai có hiệu quả.

Hợp tác quốc phòng, an ninh, biên giới và trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học-công nghệ, du lịch... đều được thúc đẩy. Trong 3 tháng đầu năm 2022, lượng du khách Việt Nam tới Campuchia đứng đầu nhóm 3 nước có khách du lịch tới Campuchia đông nhất.

Hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp hai nước phát triển tốt đẹp, trên cả bình diện song phương và đa phương. Hai bên duy trì trao đổi đoàn cấp cao, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu giữa các cơ quan của Quốc hội và giữa các Nhóm Nghị sĩ hữu nghị. Hai bên tăng cường phối hợp thúc đẩy và giám sát việc thực hiện các hiệp định, thỏa thuận hợp tác giữa hai nước, góp phần thúc đẩy hợp tác toàn diện Việt Nam-Campuchia sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn.

Ghi dấu mốc 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Campuchia, hai nước chọn năm 2022 là Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia và phối hợp tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi.

Lãnh đạo cấp cao hai nước đã trao đổi thư chúc mừng nhân sự kiện trọng đại trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Campuchia. Trong thư, các nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh, trải qua thử thách, nhân dân hai nước luôn đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau, trở thành tài sản chung quý báu cần tiếp tục được gìn giữ và vun đắp. Việt Nam tin tưởng, quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước tiếp tục phát triển, vì lợi ích của hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

Các nhà lãnh đạo Campuchia khẳng định, tình hữu nghị gắn bó giữa hai nước có lịch sử lâu đời và không ngừng được củng cố trên tinh thần láng giềng tốt đẹp, đoàn kết, tin cậy và hợp tác cùng có lợi. Quan hệ Campuchia-Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện.


Là hoạt động quan trọng trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Samdech Heng Samrin và Ðoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Vương quốc Campuchia khẳng định hai nước luôn coi trọng và vun đắp quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia, đưa hợp tác hai nước tiếp tục đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới./.



BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - TỪ KHI ĐẢNG RA ĐỜI CHO ĐẾN NAY

 Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ xuyên suốt, thường xuyên, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

Ngay trong Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản năm 1930, Đảng đã xác định hoạt động dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho hoạch định cương lĩnh, đường lối đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ năm 1932, những chiến sĩ cộng sản như đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt... đã đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm sai lầm của tù chính trị Quốc dân Đảng; nhiều đảng viên Quốc dân Đảng dần chuyển sang lập trường vô sản, đứng vào hàng ngũ cộng sản.

Tháng 12/1963, Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa III “về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Nghị quyết đã đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hoàn thành giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Đến những năm cuối thế kỷ XX, các thế lực phản động, thù địch trong nước kết hợp thế lực ngoại quốc thường xuyên tấn công chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành tựu của các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã ban hành các văn kiện bảo vệ nền tảng tư tưởng: Nghị quyết Trung ương 6, 7 khóa VI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội VII năm 1991), Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” ; Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay” (tháng 2/1995); Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII.

Đặc biệt, việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng được thể hiện đậm nét trong Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 22/10/2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng.

Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Với những bài học kinh nghiệm về sự kiên định trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, sự đồng thuận của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị, nhất định Đảng ta, nhân dân ta sẽ vượt qua mọi thách thức và thu được thắng lợi to lớn.


“AI KHÔNG LÀM ĐỨNG SANG MỘT BÊN”

 Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khi chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 sáng 13-9 rất rõ ràng: "Ai không làm thì đứng sang một bên cho người khác làm". Sở dĩ người đứng đầu Chính phủ quyết liệt khi phát biểu như vậy trước các cơ quan chức năng như Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các địa phương... bởi tình trạng không bảo đảm đủ thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ việc khám, chữa bệnh; sẵn sàng cho trường hợp dịch Covid-19 diễn biến phức tạp; tính mạng, sức khỏe của người bệnh đang tính bằng phút, bằng giờ...

Đây không phải lần đầu một thông điệp quyết liệt như vậy được truyền đi. Các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước nhiều lần thể hiện quyết tâm tuyên chiến với thái độ làm việc bàng quan, "sớm chẳng cần (vừa), trưa chẳng vội" trong thực thi công vụ hiện nay. Trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng khó khăn, phức tạp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm”.

Vì sao phải có những thông điệp đầy chất “thép” ấy? Là bởi hiện tình trạng nhiều cán bộ trong hệ thống công quyền của chúng ta đang có thái độ làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, có việc mà không làm. Trong khi, nhiều vấn đề của đất nước ở tình trạng “nước sôi lửa bỏng” đang rất cần cán bộ, chờ cán bộ. Đó là tình trạng thiếu nghiêm trọng thuốc chữa bệnh, vaccine phòng bệnh; đó là tình trạng nhiều nơi không giải ngân được vốn đầu tư công, trong khi lãi vay vẫn phải trả; đó là tình trạng nhiều công trình ì ạch, liên tục chậm tiến độ, đội vốn; là thực tế nhiều công việc chậm triển khai, tắc nghẽn về thủ tục; là trên phát mà dưới không động...

Thời gian qua, nhiều cán bộ bị xử lý sai phạm trong thực thi công vụ đã có những cách hiểu không đúng bản chất. Chúng ta thừa nhận, cơ chế, chính sách có những lỗ hổng nhất định, nhưng nếu đổ lỗi cán bộ sai phạm là do cơ chế, chính sách thì đó là sự ngụy biện. Các sai phạm mà nhiều cán bộ bị xử lý, bản chất là do họ tham nhũng, tiêu cực, tìm mọi cách để trục lợi từ kẽ hở cơ chế, chính sách. Đó là những sai phạm do phẩm chất đạo đức, do suy thoái, là lỗi chủ quan của chính mỗi cán bộ.

Cán bộ làm việc trong hệ thống cơ quan công quyền được hưởng thành quả lao động của mình đó là tiền lương, một số chế độ ưu đãi và có quyền lực khi giữ các vị trí công tác trong hệ thống công quyền. Tiền lương ấy là tiền thuế của nhân dân đóng góp. Quyền lực ấy thực tế thuộc về nhân dân, do nhân dân ủy thác cho họ. Bởi thế, người cán bộ phải làm việc cho xứng đáng với sự đãi ngộ mà họ được hưởng, đừng ngộ nhận về quyền lực của mình. Cán bộ là công bộc của dân, làm việc vì tập thể, vì nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Bất luận trong hoàn cảnh nào người cán bộ cũng phải hết lòng, hết sức làm việc.

Đảng, Nhà nước ta hiện nay có đủ hành lang để bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ngược lại, người cán bộ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, trong sáng, không vụ lợi thì không có gì phải sợ, phải ngại. Đừng để chủ nghĩa cá nhân len lỏi vào mỗi công việc của mình, bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”.

KỶ NIỆM 45 NĂM VIỆT NAM GIA NHẬP LIÊN HỢP QUỐC (20/9/1977 – 20/9/2022): KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ, UY TÍN CỦA ĐẤT NƯỚC TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ

 Ngày 20/9/1977, lễ thượng cờ Việt Nam được chính thức tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, ghi dấu ấn Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của tổ chức lớn nhất hành tinh này. Hành trình 45 năm qua, in đậm những dấu ấn đóng góp nổi bật của Việt Nam cho hoạt động của Liên Hợp Quốc và cũng là để Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Việc Việt Nam tham gia tích cực trong lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc từ năm 2014 đã tạo dấu ấn với cộng đồng quốc tế. Nổi bật nhất là khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào ngày 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Từ ngày 13/9/2022, Việt Nam trở thành một trong những Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 77 đại diện cho khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và đảm nhiệm vị trí này trong vòng 1 năm.

Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres đã khẳng định Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên Hợp Quốc, Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới./.