Chiều tối nay tôi có đọc bài viết và xem Livestream trên facebook của Lê Thị Huyền, cũng như lần lại bài viết của chị ngày 17/1/2026 thể hiện quan điểm cá nhân về tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh. Bởi chị tự coi mình là người yêu nước, trân trọng máu xương của cha ông mình đã đổ xuống cho Tổ quốc để chị có ngày hôm nay và trong chương trình livestream chiều nay chị khẳng định đến giờ chị vẫn thích tác phẩm NBCT của Bảo Ninh. “Thích” là quyền của cá nhân chị nhưng khi chị đã tự nhận mình là người yêu nước thì quan điểm và lập trường chính trị không thể có cách nhìn trung lập.
Tôi xin trao đổi với chị Lê Thị Huyền về tác phẩm NBCT của Bảo Ninh.
1. NỖI BUỒN CHIỀN TRANH của Bảo Ninh - Gáo nước lạnh dội lên đầu Người lính.
“Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh toát lên nỗi đau qua những ký ức ám ảnh của Kiên - một người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông nhập ngũ năm 1969 từng trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường miền Nam trước năm 1975; Chiến đấu tại mặt trận B3, Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10.
“Nỗi buồn chiến tranh” ra đời năm 1987, xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990, là một trong ba tiểu thuyết được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải trong năm 1991, tuy nhiên sau đó giải thưởng đã bị thu hồi do sự phản đối của công chúng. Cuốn tiểu thuyết này gặp nhiều chỉ trích do tác giả hư cấu nhiều tình tiết xúc phạm, bịa đặt về người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam và những nhận xét mang tính bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Năm 1993, “Nỗi buồn chiến tranh” đã được dịch ra tiếng Anh với tên "The Sorrow of War" sau đó được chuyển ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới.
"Nỗi buồn chiến tranh" kể về cuộc đời của Kiên, một người lính trở về từ chiến tranh mang theo những ký ức đau thương ám ảnh, mất mát về thể xác, nỗi đau tinh thần sau chiến tranh. Tiểu thuyết mở đầu bằng một không gian mờ mịt, lạnh giá. Kiên nhìn ra màn mưa xối xả, xám xịt nhớ đến anh em đồng đội qua những kí ức hãi hùng bom nổ, đạn rơi xoáy vào tâm trí. Kí ức đau buồn cứ dặt vặt trong tâm tưởng thôi thúc Kiên cầm bút chép lại một đoạn đời đặc biệt. Tâm lý thường trực của Kiên không can trường như bao người lính khác mà luôn trong trạng thái mơ màng, đăm chiêu, âu sầu với những cảm xúc tiêu cực hồn xiêu phách lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, cô quạnh. Trong đầu Kiên không phải là những trận chiến khốc liệt, đầy hy sinh quả cảm của người lính mà luôn hiện lên những tang thương, tàn khốc. Rời xa cuộc chiến tranh không như bao đồng đội khác trở về cuộc sống đời thường đoàn tụ bên người thân, xóm làng mà Kiên chọn lối sống khác người. Kiên tiếc nuối cuộc đời tuổi trẻ trong chiến tranh, để giờ đây anh sống như một kiếp tạm. Con tim của Kiên trở nên thờ ơ, vô cảm trước cuộc sống của đồng loại và những giá trị hy sinh mất mát của đồng đội, đồng chí của mình. Kiên thể hiện qua từng trang tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” bằng những kí ức đứt gãy, bi ai, xiêu vẹo, nhạt nhòa.
“Nỗi buồn chiến tranh” là vấn đề muôn thuở. Đó không chỉ là vết thương về thể xác mà còn là nỗi đau tinh thần của hàng triệu gia đình Việt Nam khi con em mình nằm lại chiến trường; khi hàng triệu người lính vẫn còn quằn quại nỗi đau vết thương trên thể xác, khi hàng triệu người lính dâng hiến tuổi thanh xuân mình cho Tổ quốc sau hơn nửa thế kỷ vẫn là “Liệt sĩ chưa biết tên” hoặc chưa tìm thấy mộ. Sự nhân văn ở chỗ cả dân tộc Việt Nam đã biết cách vượt qua “Nỗi đau của chiến tranh” để sát cánh bên nhau tạo nên bức trường thành vững chắc, sức mạnh của cả một dân tộc để kết thúc chiến tranh thắng lợi, đánh đuổi Đế quốc Mỹ xâm lược ra khỏi bờ cõi, thống nhất đất nước, đem lại hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Cái đáng trân trọng ở chỗ không như Kiên, khi kết thúc chiến tranh, những người lính vẫn phát huy được tố chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, hàng triệu cựu chiến binh tàn mà không phế, họ luôn tự hào đã đóng góp một phần thân thể của mình để đem lại độc lập tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.
“Mưa Đỏ” của Nhà Văn Quân đội Chu Lai như một thiên anh hùng ca về một cuộc chiến tranh chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc Việt Nam, đã khơi dậy lòng yêu nước, tình đoàn kết dân tộc, hàn gắn nỗi đau sau chiến tranh thì “Nỗi đau chiến tranh” của Bảo Ninh như một gáo nước lạnh dội lên đầu các tướng lĩnh và các Cựu chiến binh về cách nhìn tiêu cực, khắc họa lại một cuộc chiến tranh tàn khốc, đau buồn; một trường ca bi ai, một gam màu tối trong nền văn học nghệ thuật dân tộc Việt Nam.
Tư tưởng của Kiên, cách nhìn của Kiên, cách sống của Kiên là tiêu cực, là nhu nhược không thể hiện đúng bản chất của người lính Cụ Hồ, Vì vậy, khi “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải, không chỉ bây giờ gặp phải sự chỉ trích dữ dội của dư luận đặc biệt là các tướng lĩnh, Cựu chiến binh những nhân chứng sống trong cuộc chiến tranh chống Mỹ vẫn còn đó. Tạp chí Cộng sản có bài phê phán:
“Bằng sự bôi nhọ sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, Bảo Ninh không chỉ xúc phạm đến những người đang sống… Tác giả Nỗi buồn chiến tranh còn muốn giết chết hẳn những người đã vĩnh viễn nằm xuống để cho “dân tộc quyết sinh”… Đó là sự khai tử của một ngòi bút quá nhẫn tâm đã coi họ là vật hy sinh mù quáng cho những cuồng vọng của con người”. Nên nhớ, trước sự phản đối dữ dội của dư luận, Ban Lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt Nam khi đó đã phải tự phê bình bằng văn bản, đọc trước toàn Đại hội lần thứ V. Riêng Nhà văn Vũ Tú Nam, lãnh đạo cao nhất của Hội, khi trả lời phỏng vấn đã nhận trách nhiệm: “Trách nhiệm thuộc về toàn thể Ban Chấp hành, nhưng tôi là người chịu trách nhiệm trước nhất. Sự phê phán của công luận sau đó là chính đáng”.
2. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH ĐÁNH VÀO NỖI ĐAU CỦA NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Các cuộc chiến tranh đã trôi qua, nỗi buồn về di chứng chiến tranh vẫn còn đó, nỗi đau lại giằng xé con tim những người còn lại. Trên thế giới này không có đất nước nào phải gánh chịu hàng trăm cuộc chiến tranh tàn khốc do kẻ thù xâm lược gây ra suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước như dân tộc Việt Nam?
Trên thế giới này có dân tộc nào chịu nhiều đau thương mất mát trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa tàn bạo do kẻ thù xâm lược gây ra như dân tộc Việt Nam? Một dân tộc đã đứng lên, lấy xương máu của mình để bảo vệ phẩm giá: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì chúng ta phải quyết tâm đánh thắng, quét sạch chúng đi”. Và dân tộc đó đã viết nên những trang sử vẻ vang đánh bại tất cả kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới bằng máu và hoa của mình. Máu của sự hy sinh quả cảm và hoa khát vọng của một dân tộc để dân được tự do. Và để có được độc lập, tự do đó hàng triệu người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn. Họ nằm xuống suốt chiều dài đất nước trong nghĩa trang liệt sĩ, trong những nấm mồ không tên tuổi. Hàng triệu bà mẹ mất con, hàng triệu phụ nữ mất chồng; hàng triệu người vẫn đau đớn quằn quại do di chứng chiến tranh để lại. Đó là nỗi buồn chiến tranh mà cả dân tộc phải chấp nhận để có được sự yên bình cho thế hệ mai sau.
Nhưng nỗi đau bây giờ không phải từ di chứng, hậu quả chiến tranh để lại cho những người lính còn sống may mắn trở về sau cuộc chiến và những người còn sót lại sau chiến tranh mà chính là ký ức một thời hoa đỏ của họ đã bị nhuộm đen bằng sự vô ơn của những kẻ phản bội đồng loại; bằng sự đánh tráo đổi trắng thay đen trong những trang lịch sử hào hùng của dân tộc; bằng sự hoen ố trong những trang sách giáo khoa định hướng giáo dục cho học sinh; bằng sự phục dựng, tôn vinh, đặt tên đường cho những kẻ tội đồ của dân tộc. Không có nỗi đau nào bằng nỗi đau của một dân tộc khi lương tri, phẩm giá của cuộc kháng chiến chính nghĩa bị đánh đồng với cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa và những kẻ tay sai bán nước được vinh danh, ngang hàng với anh hùng dân tộc.
Nhân dân Việt Nam không cho phép ai viết lại lịch sử dân tộc; phủ nhận máu xương của thế hệ cha anh mình đã ngã xuống. Bất cứ kẻ nào có hành động đi ngược lại lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân sẽ bị trả giá, ngàn đời nguyền rủa.
3. “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH KHÔNG THỂ THAY THẾ NỖI ĐAU CUẢ CẢ MỘT DÂN TỘC
Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược bảo vệ Tổ quốc đã trôi qua nửa thế kỷ nhưng vẫn hằn sâu trong ký ức của mỗi người dân Việt Nam. Có lẽ trên thế giới này không có nước nào như Việt Nam, chiến tranh là đề tài tốn biết bao nhiêu giấy mực của bao thế hệ, trong những trang nhật ký của người lính nằm lại chiến trường và những cuốn sách của những người lính trở về sau cuộc chiến.
Mỗi người một góc nhìn. Người day dứt về nỗi buồn chiến tranh, người mang nặng nỗi đau từ cuộc chiến đem lại. Những ký ức ấy cứ dằn vặt, dày vò qua từng trang sách về chiến trường khói lửa chống quân xâm lược vô cùng khốc liệt, đau thương, mất mát. Những trang nhật ký dang dở trên đường hành quân hay từng dòng nhật ký viết vội sau một trận đánh, những cuốn nhật ký của những người lính nằm lại chiến trường đã phủ màu thời gian nhưng vẫn còn nguyên máu, nước mắt, nụ cười toát lên nghị lực phi thường, bản lĩnh sống, sự hy sinh, ước mơ lý tưởng, ý chí chiến đấu và niềm tin tất thắng về sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của dân tộc.
Có lẽ trên thế giới này không có dân tộc nào chịu đau thương mất mát như dân tộc Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược dù đã trôi qua mấy chục năm nhưng NỖI ĐAU CHIẾN TRANH vẫn còn đó. Hình ảnh đạn bom, khói lửa, hy sinh, mất mát trong chiến tranh vẫn day dứt trong tim những người ở lại. Nước mắt của sự mừng vui, đoàn tụ ngày độc lập có là bao so với giọt nước mắt của hàng triệu người mẹ khóc con chết trận, người vợ mất chồng và nước mắt của hàng chục ngàn cha mẹ trước sự quằn quại của những đứa con do di chứng chiến tranh. Vượt qua NỖI BUỒN chính là NỖI ĐAU của dân tộc, nỗi đau chiến tranh từ những giọt nước mắt giữa thời bình. Chiến tranh đã qua đi nhưng tàn dư mà nó để lại còn ĐAU hơn nỗi BUỒN do cuộc chiến bởi sự đau thương đó không chỉ ngấm xương vào tuỷ mà ngấm vào tâm trí của con người. Nhưng chính cốt cách, phẩm giá của một dân tộc đã giúp cho con người biết gác lại NỖI BUỒN riêng để chia sẻ NỖI ĐAU chung, gắng sức để tồn tại, để vươn lên chờ đón ngày chiến thắng.
Và bây giờ, những người lính đã vượt qua lằn ranh sinh tử, may mắn còn sống trở về. Họ viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc về đồng đội mình, về những kỷ niệm chiến trường, về một thời hoa đỏ đầy tính nhân văn, “Cái tôi” của họ biết hạ xuống để gắn chặt số phận mình với số phận nhân dân, số phận Tổ quốc, số phận đồng loại. Không bi ai, uỷ mị cái “Chất lính” vẫn toát lên qua từng dòng, từng trang sách khí phách hào hùng của dân tộc Việt Nam và cả trách nhiệm với những người đã hi sinh cho tổ quốc mình.
Một tác phẩm văn học cách mạng phải phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Văn chương không thể tách rời chính trị. Một tác phẩm đã bị dư luận xã hội phản đối; cựu chiến binh Việt Nam lên án; nhà nước cấm xuất bản, thu hồi vinh danh không cho phép đại diện các tác phẩm văn học tiêu biểu xuất sắc sau ngày thống nhất đất nước thì không thể “thích” đối với những người tự cho mình là yêu nước, yêu Tổ quốc và càng không thể biện minh “cách nhìn trung lập” về một rác phẩm bị xã hội nguyền rủa, lên án./.
QV-ST!



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét