Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến dự và phát biểu tại Lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13-9-1958.

Sự kế tục giữa các thế hệ nối tiếp nhau vốn là quy luật tồn tại, phát triển của mọi xã hội. Ở bất cứ một quốc gia, dân tộc nào, tuổi trẻ đều là lực lượng lãnh đạo kế cận, là tương lai của đất nước. Do vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phát triển bền vững, có một tương lai tươi sáng phía trước thì đất nước và mỗi cơ quan, tổ chức phải quan tâm đến “trồng người”, tức là phải luôn biết chăm lo, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ kế tiếp. Đó là một quy luật phát triển tất yếu. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, nhờ quán triệt sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ-thế hệ tương lai, mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn xây dựng được lực lượng kế cận hùng hậu, trung thành, có đủ phẩm chất và năng lực đưa đất nước vượt qua những thời điểm khó khăn, đưa cách mạng đến những thắng lợi vinh quang, ghi dấu ấn đậm nét vào tiến trình phát triển của dân tộc.

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các thế hệ người Việt Nam. Do đó, Đảng, Nhà nước cùng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị cần luôn quán triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt quan tâm, đầu tư, chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai. Đào tạo họ thành những công dân, những cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đủ sức kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp cách mạng vinh quang của các thế hệ cha anh đi trước.

Thực hiện lời Bác dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giáo dục-đào tạo, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị, quân đội; quan tâm chăm lo làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng chiến lược cán bộ và thực tiễn, yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp đào tạo trong các học viện, nhà trường với tự đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị, đào tạo ở trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm chặt chẽ, đúng quan điểm, phương châm, nguyên tắc, quy trình, quy định, sự kế thừa liên tục, vững chắc trong quá trình chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ.

“Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu”

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12-9-1947. Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn.

Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang của ta xuất hiện hai luồng tư tưởng: Một bộ phận nhỏ dao động, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của cuộc kháng chiến; một bộ phận khác lại tự mãn, chủ quan, khinh địch, cho rằng thực lực của quân Pháp chỉ có vậy, khó có khả năng tiếp tục đánh chiếm các vùng hậu phương chiến lược của ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh nhằm khắc phục cả hai luồng tư tưởng trên, động viên đồng bào và chiến sĩ ta đừng vì những thất bại, khó khăn trước mắt của công cuộc kháng chiến mà nản lòng, thoái chí, cam phận trở lại kiếp sống nô lệ; đồng thời, cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không được tự đắc, chủ quan, nóng vội, mà phải tiếp tục tích cực chuẩn bị, sẵn sàng cho những thử thách gian nan hơn nữa ở phía trước. Lời nhắc nhở trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng định hướng tư tưởng, củng cố quyết tâm, hướng dẫn hành động cho quân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, phát huy những thành quả đã đạt được, tiếp tục xây dựng quân đội, củng cố hậu phương, từng bước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Khu 3 năm xưa đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm đã trôi qua, những phẩm chất tiêu biểu "thắng không kiêu, bại không nản” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

“Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”

Đó là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11-9-1950.

Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc quan tâm chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị; xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, là tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng vững chắc tạo sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

“… Khi nhiều người đồng tâm hiệp lực mà xô đẩy, thì dù tảng đá to mấy, nặng mấy cũng phải lăn”

“Bản chất của hòn đá là cứ ì ra, không nhúc nhích. Nhưng khi nhiều người đồng tâm hiệp lực mà xô đẩy, thì dù tảng đá to mấy, nặng mấy cũng phải lăn”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện trong buổi lễ bế mạc Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, ngày 10-9-1955.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi, cách mạng nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại hiệp định và gây chiến. Ngày 10-9-1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời nhằm thực hiện đoàn kết đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành sự nghiệp cách mạng.

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã khẳng định sức mạnh to lớn của khối đoàn kết trong mặt trận- nơi tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới; đồng thời, thông qua đại hội, Bác tiếp tục khẳng định sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, dù việc gì khó đến đâu, nhưng có sự đồng tâm hiệp lực, có sự đoàn kết trên dưới một lòng, đều có thể thực hiện được.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa sâu sắc trong giai đoạn hiện nay, là quan điểm về sức mạnh của sự đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng. Sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, cũng có nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nắm bắt kịp thời, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng. Đó chính là việc tập hợp mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy vai trò trung tâm của mặt trận, tạo ra động lực mạnh mẽ để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Với sự đồng tâm, đồng lòng của mọi lực lượng, cách mạng nước ta sẽ tận dụng tốt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, giành nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy tinh thần đoàn kết, đồng lòng, tạo động lực to lớn cổ vũ toàn quân nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, đoàn kết, phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng đáng với truyền thống quyết chiến, quyết thắng và phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ.

Một số quan điểm chống phá, thủ đoạn tung tin của các thế lực thù địch

 

Với nhiều phương thức tung tin chống phá, trực tiếp hoặc qua các phương tiện truyền thông, như đài nước ngoài bằng tiếng Việt (VOA, RFA (Mỹ), BBC (Anh), RFI (Pháp), các trang mạng của tổ chức khủng bố (Việt Tân, “Nhật ký yêu nước”), hay rất nhiều các tài khoản nhóm và cá nhân trên mạng xã hội Facebook, Google, YouTube (Nguyễn Văn Đài, Lisa Phạm, Lê Văn Sơn, Lê Dũng Vova, blog “Bà Đẩm Xòe”), sách, bài viết, bài nói của một số cá nhân..., các thế lực thù địch đã bộc lộ các quan điểm và thủ đoạn như sau:
- Xuyên tạc thể chế nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền ở Việt Nam. Theo chúng, đó là thể chế “phi dân chủ”, đi ngược lại quy luật phổ biến trong quan hệ “kinh tế quyết định chính trị” là đa thành phần kinh tế thì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Chúng cho rằng “không thể có dân chủ trong chế độ một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền ở Việt Nam”, vì thế cần “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Chúng kêu gọi nếu Đảng không tự mình rời bỏ vị trí “độc quyền” lãnh đạo, thì nhân dân hãy dùng quyền phúc quyết để xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, tức xóa bỏ sự hiến định vị thế cầm quyền của Đảng.
- Xuyên tạc mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị (HTCT) - Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Chúng lập luận: cơ chế này “lường gạt” vai trò làm chủ của nhân dân, làm sao nhân dân làm chủ được khi Đảng ra chủ trương, đường lối, rồi người của Đảng được bố trí vào các cơ quan nhà nước, giữ các vị trí trọng yếu, quyết định hết các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Các quyền đó theo Hiến pháp là thống nhất, thì không thể kiểm soát quyền lực được, nên hãy “tam quyền phân lập”. Chúng còn ráo riết đưa người ứng cử tự do vào Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Khi các vòng hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc chủ trì loại chúng ra khỏi danh sách ứng cử (vì không đủ tiêu chuẩn và không được tín nhiệm), thì chúng yêu cầu “phải xóa bỏ cơ chế hiệp thương”. Chúng kêu gào xây dựng “xã hội dân sự”, để các tổ chức quần chúng hoạt động độc lập, như là lực lượng đối trọng, đối lập với đảng cầm quyền, để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, để xây dựng cơ sở xã hội cho các đảng đối lập ở Việt Nam.
Xuyên tạc các quyết sách chính trị của Đảng trong lịch sử cũng như trong phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Về hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, các nhân vật “lật sử” cho rằng Đảng phát động chiến tranh nhân dân là sai lầm, gây ra bao tổn thất; nếu không đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ thì đã không có hàng triệu người dân hy sinh, đất nước tan hoang vì chiến tranh... Lập luận này đánh vào nỗi đau sau chiến tranh của mọi người dân Việt Nam, nếu bị kích động, sẽ gây ra sự “oán trách” Đảng Cộng sản trong một bộ phận người dân nhận thức hạn chế. Hiện tại, hầu như tất cả các nội dung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các chủ trương, chính sách cụ thể trên từng lĩnh vực trong từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng đều bị tấn công xuyên tạc, với giọng điệu dè bỉu, chê bai, “cảnh báo” nhân dân “đừng tin”. Như: kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, Đảng Cộng sản gán ghép “định hướng XHCN” để “mị dân”; phát triển kinh tế tư nhân, nhưng nhà nước bỏ mặc doanh nhân tự xoay xở, chỉ tập trung nguồn lực (từ thuế của dân) cho doanh nghiệp nhà nước; nói tự do tôn giáo, nhưng hạn chế, cản trở tôn giáo hoạt động, truyền bá, phát triển; nói đảm bảo quyền con người, nhưng vi phạm nhân quyền, bỏ tù các “tù nhân lương tâm” khi họ đứng lên đấu tranh...
- Nâng hiện tượng lên thành bản chất, quy kết hành vi sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên thành chủ trương của các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện quyết sách chính trị của Đảng. Khi Đảng chưa lôi hết được “một bộ phận không nhỏ” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, tiêu cực, thì chúng lu loa đó là “vùng cấm”, là “nội bộ o bế, bảo vệ nhau”; khi sai phạm của “bộ phận không nhỏ” bị đưa ra ánh sáng, thì chúng lập luận là “phe phái đánh nhau”. Khi dịch bệnh do Covid-19 hoành hành phải thực hiện giãn cách xã hội, cách ly y tế, phong tỏa thì chúng nguýt ngoáy là “vi phạm Hiến pháp về quyền tự do đi lại, cư trú”. Khi một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội không đạt theo nghị quyết, một số dự án chậm tiến độ bị thu hồi, hoặc sai phạm bị đình chỉ, điều tra... thì chúng loa lên Đảng “không đủ khả năng”, “hết vai trò” trong lãnh đạo, và đề nghị: Đảng Cộng sản hãy lùi lại phía sau, để lực lượng chính trị khác có khả năng hơn lãnh đạo đất nước.
- Bóp méo, làm giả sự việc, hình ảnh của các lực lượng chức năng trong thực hiện nhiệm vụ rồi vu cáo đàn áp nhân dân. Đây là thủ đoạn rất phổ biến, gây hoang mang trong nhân dân, làm “mồi lửa” để một bộ phận người dân vì nhẹ dạ, cả tin mà bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động chống phá chính quyền. Điển hình như bạo loạn ở Tây Nguyên những năm 2000 - 2004 do Tin Lành Đề-ga kích động, xúi giục đồng bào dân tộc thiểu số đòi “đất Tây Nguyên phải trả lại cho người Tây Nguyên”, “thiết lập nhà nước Đềga” của người dân tộc Tây Nguyên. Hay vụ việc Đồng tâm, với chiêu trò vu cáo “quân đội chiếm đất của dân”, “chính quyền đưa vũ khí về đàn áp dân”. Trong những ngày chống dịch Covid-19 khốc liệt này, không ngày nào trên mạng xã hội không xuất hiện các hình ảnh, video bị làm giả, bóp méo, như: “Shiper quỳ lạy xin lực lượng trực chốt”; “Bộ đội đang làm màu?”, “Thành phố Hồ Chí Minh đang thiết quân luật”, "Chống dịch hay chống dân; kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?", “người nghèo không được hỗ trợ”, “không thấy Đảng, Nhà nước giúp dân”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”. Thậm chí chúng còn kêu gọi biểu tình phản đối phòng dịch, đốt sạch khu cách ly để “tự cứu nếu không muốn chết vì Covid”...

“Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội…”

“Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội…, vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc”, ngày 9-9-1952. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ý kiến định hướng và chỉ đạo, đồng thời động viên, khơi dậy tinh thần quyết tâm của cán bộ tại hội nghị.

Câu nói của Bác là sự khẳng định vai trò to lớn của lương thực, vũ khí đối với sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta, là nguồn sức mạnh giúp bộ đội yên tâm cầm súng chiến đấu, tin tưởng vào thắng lợi. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ, trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, của bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, do vậy, người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và Cuộc vận động  “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị…; trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ.

“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”

“Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”, ngày 8-9-1962. Đại hội diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Đến dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này.

Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí mà mỗi người đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.

Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ ảnh hưởng không nhỏ đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả khi nói và khi viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt, cần kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu.

“Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”

Đó là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I, Trường Nguyễn Ái Quốc”, ngày 7-9-1957.

Đây là thời điểm cách mạng nước ta đang ở thời kỳ mới sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; miền Bắc đang trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa. Tình hình đó đòi hỏi phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên có trình độ và năng lực, đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nhắc nhở đội ngũ đảng viên phải luôn cố gắng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, tự nâng cao trình độ. Đây cũng là yêu cầu của Bác, trước khi muốn cải tạo xã hội, tự thân người đảng viên phải tự cải tạo mình, tự học, tự rèn để không ngừng tiến bộ. Lời Bác dạy có tác dụng to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người đảng viên, trước hết đối với việc xác định động cơ, thái độ phấn đấu đúng đắn, thường xuyên, liên tục, để không ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực. Câu nói của Bác cũng là phương châm hành động, mục tiêu phấn đấu cho mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải xung kích, đi đầu, nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên phải không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên trong quân đội phải thực sự là tấm gương cho bộ đội học tập, noi theo, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện mình. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức được ý nghĩa của việc “tự cải tạo”, “tự nâng cao” như là một nhu cầu tự thân; không tự ti, giấu dốt, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên, lên trước.

Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta

“Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967,  nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.

Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

 


Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc”, Báo Nhân dân đăng số 229, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9 năm 1954.

Sau những chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta. Với tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước âm mưu của địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến, Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương bố trí một bộ phận cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu và chuyển hàng vạn đồng bào và con em các gia đình cách mạng đi cùng với bộ đội và cán bộ tập kết ra Bắc để đào tạo đội ngũ cán bộ vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để kịp thời động viên bộ đội, cán bộ và các gia đình từ miền Nam ruột thịt tập kết ra Bắc trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên và căn dặn. Học tập và làm theo lời Bác dạy, những cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các gia đình miền Nam tập kết ra Bắc đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, sớm ổn định cuộc sống và có nhiều đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành cán bộ, lãnh đạo các cấp; các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo nổi tiếng, nhiều doanh nhân tài ba, nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động… góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ”. Không chỉ trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết, hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn xung kích ở những nơi xảy ra thiên tai, bão lũ…, giúp đỡ, cứu chữa nhân dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn…; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Bác, Nhà nước và nhân dân.   

                                                                                                                       VHT.  

 

MỘT SỐ NỘI DUNG GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 


Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định: Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các biện pháp bảo vệ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động của Đảng, Nhà nước và quân đội. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, phá hoại nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội ta tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, điều đó đặt ra nhiều vấn đề mới cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới. Vì vậy, cần nghiên cứu, thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai đồng bộ, toàn diện các giải pháp, biện pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hơn nữa trình độ nhận thức, hiểu biết về vị trí, vai trò, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác bảo vệ chính trị nội bộ cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, chấp hành nghiêm và thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhất là các quy định về bảo mật, không để lộ, lọt, mất thông tin; không viết bài, đưa tin, phát ngôn sai quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong xã hội và trong quân đội; thực hiện nghiêm Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về quy định những điều đảng viên không được làm. Thực hiện tốt các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ nhằm không bỏ sót những người có năng lực, trình độ trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Bốn là, thường xuyên thực hiện tốt công tác nắm tình hình, rà soát chính trị nội bộ. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp sử dụng, quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp đối với những trường hợp có vấn đề chính trị. Thực hiện tốt hơn nữa việc kê khai bổ sung lý lịch đảng viên, kiểm tra thẻ đảng, hộ chiếu, các giấy tờ liên quan đến cán bộ, đảng viên, chiến sĩ; kê khai các hoạt động đi ra nước ngoài, quan hệ với nước ngoài của cán bộ, đảng viên để kịp thời phát hiện vi phạm và uốn nắn.

Năm là, tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh ở các cấp. Chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, đảng viên được bổ nhiệm, đề bạt, cử đi học, ra nước ngoài. Đồng thời, xem xét kỹ lưỡng về mặt chính trị, nhất là việc nhận xét, đánh giá bảo đảm của cơ quan bảo vệ an ninh theo phân cấp.

Bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung hết sức quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị. Với sự quyết tâm cao, công tác bảo vệ chính trị nội bộ sẽ tiếp tục đạt được những kết quả tốt góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

                                                                                                     VHT.

 

Bài học về giữ vững bản lĩnh cán bộ

Trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, ngày 5-9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ ta phải giữ vững bản lĩnh trước mọi tình huống.

Người chỉ rõ: “Những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi”.

Lời dạy của Bác diễn ra vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới kết thúc (7-5-1954), Hiệp định Geneve được ký kết (21-7-1954). Để công tác tiếp quản Thủ đô được nhanh chóng, an toàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và có những lời căn dặn quý báu đối với lực lượng bộ đội và công an thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô phải giữ vững lập trường, bản chất cách mạng, luôn kiên định, trách nhiệm với công việc được giao, không dao động trước sự phồn hoa của đời sống thị thành.

Lời căn dặn của Bác ngắn gọn, nhưng súc tích, là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an cần phải giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, tránh sa vào những cạm bẫy của cuộc sống đời thường. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực; có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không để rơi vào cạm bẫy, sa hoa; luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; luôn nêu cao tinh thần SSCĐ, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng nhân dân phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, nông thôn mới; có lối sống văn minh, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm.

BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ, YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Bảo vệ chính trị nội bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng, sự sống còn của chế độ và lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng ta xác định: Bảo vệ chính trị nội bộ chính là bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, bảo đảm cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Bảo vệ chính trị nội bộ luôn là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cần kíp, cấp bách hiện nay, bởi vì: Bảo vệ chính trị nội bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là mỗi khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đều đề ra chủ trương, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ cho phù hợp với tình hình, yêu cầu nhiệm vụ nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, Nhà nước và thành quả cách mạng; phê phán những quan điểm sai trái, thù địch, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội. Thực hiện nghiêm chế độ, thủ tục, quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên trong nội bộ, giữ gìn kỷ luật phát ngôn, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật nội bộ của Đảng. Đảng ta coi đây là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức triển khai, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Nghiên cứu, phát hiện và xử lý kịp thời những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, những đối tượng bị các tổ chức phản động móc nối, lôi kéo, mua chuộc cài cắm vào nội bộ ta. Không để sơ hở, lộ lọt, mất thông tin, bí mật quốc gia để các thế lực thù địch lợi dụng viết bài, tung tin xấu, độc, chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ. Mấu chốt của bảo vệ chính trị nội bộ là nắm chắc tình hình chính trị nội bộ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và tổ chức đảng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề vướng mắc, thực hiện tốt chủ trương lấy phòng ngừa, chủ động giữ vững bên trong là chính./.

                                                                              VHT.

HIỆU QUẢ CỦA CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 


Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC). Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế cho thấy hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực.

Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!

Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 6 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế-xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,... theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm. Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam./.

                                                                                                        VHT.

 

ĐỂ KHÔNG BỊ LÔI KÉO VÀO CÁC TỔ CHỨC BẤT HỢP PHÁP

 


Thời gian gần đây xuất hiện một số hội, nhóm hoạt động dưới danh nghĩa “xã hội dân sự”, kêu gọi bảo vệ người lao động, bảo vệ môi trường nhưng thực chất là lôi kéo người dân tham gia vào các hoạt động chống phá chế độ. Dù thủ đoạn này đã bị lực lượng chức năng vạch trần và cảnh báo tới cộng đồng nhưng vẫn còn một số cá nhân nhẹ dạ, thiếu hiểu biết nên vô tình trở thành công cụ, tay sai cho các đối tượng phản động, cực đoan.

Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội là một chủ trương quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong đó, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh giảm nghèo, nâng cao mức sống, thu nhập của nhân dân, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Trong giai đoạn 2020-2021, tác động của đại dịch COVID-19 đã khiến tốc độ cải thiện thu nhập và chất lượng sống của người Việt Nam có phần bị chững lại. Nhưng với sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hồi phục nhanh. Những chính sách hỗ trợ người lao động từng bước phát huy hiệu quả rõ rệt. Từ ngày 1/7/2022, Nghị định số 38/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/6/2022 quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động sẽ chính thức có hiệu lực. Qua đó, người lao động có thể được hưởng thêm nhiều lợi ích như bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp,... Ngay tại các vùng kinh tế còn nhiều khó khăn như miền núi phía bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo là người dân tộc thiểu số đã giảm đáng kể. Tuy nhiên một số hội, nhóm thiếu thiện chí, cực đoan, phản động vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động. Dưới bình phong tổ chức “xã hội dân sự”, xuất hiện những hội, nhóm tự xưng là đại diện “vì công lý”; “bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”; “đào tạo, thúc đẩy và liên kết các phong trào dựa vào người dân để mang lại thay đổi xã hội”.

Tuy nhiên đây đều là những tổ chức hoạt động bất hợp pháp tại Việt Nam vì vi phạm Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Đáng chú ý, phần lớn sáng lập viên, thành viên tích cực của những hội, nhóm này đều đang sống lưu vong ở nước ngoài, là gương mặt quen thuộc của phong trào chống cộng. Thậm chí có một số cá nhân đồng thời là lãnh đạo của vài ba hội, nhóm, từ đây dấy lên nghi vấn họ đang tạo ra các tổ chức chân rết để phô trương thanh thế.

Vốn là các hội, nhóm không chính danh, được lập ra với toan tính không trong sáng nên những tổ chức này thường xuyên chỉ trích lẫn nhau. Chẳng hạn, khi nói về tình hình hoạt động của một số “tổ chức xã hội dân sự” hiện nay, “nhóm bạn công nhân” đã ra sức chê bai: “Nghiệp đoàn độc lập Việt Nam không ghi cương lĩnh của nghiệp đoàn, không nêu nội quy, không nêu rõ sách lược hoạt động, không đề cập tới các cá nhân trong ban điều hành”; “tổ chức lao động Việt chỉ đăng những thông tin về tai nạn giao thông rùng rợn hay tin mang tính chất giật gân rẻ tiền”, “Công đoàn độc lập Việt Nam không để lại dấu ấn gì đặc biệt cho giới lao động”,… Có tổ chức tự phong cho mình sứ mệnh “thay đổi xã hội và môi trường sống tại Việt Nam” nhưng hoạt động đáng chú ý nhất trong mùa dịch lại là kết hợp với đài truyền hình chống cộng ở hải ngoại để “gây quỹ bảo vệ các chiến sĩ ở tuyến đầu” tại Mỹ. Trong khi đó hoạt động gây quỹ của đài này từ lâu đã bị cộng đồng người Việt ở nước ngoài nghi ngờ về động cơ cùng tính minh bạch. Chương trình “gây quỹ bảo vệ các chiến sĩ tuyến đầu” cũng không ngoại lệ khi nhiều người chứng kiến sự việc đã bày tỏ thái độ bất bình, phẫn nộ.

Mang danh là “tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động và môi trường sống” nhưng hoạt động của các hội, nhóm này hầu như chỉ xoay quanh việc đăng tải, chia sẻ những thông tin sai sự thật, tiêu cực về tình hình đất nước và con người Việt Nam. Thông qua mạng xã hội, ứng dụng tin nhắn, tài khoản nặc danh, họ lôi kéo, xúi giục một bộ phận người lao động tham gia khiếu kiện, ra yêu sách vô lý, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ. Với chiêu trò này, khi cơ quan chức năng khởi tố vụ án, tiến hành công tác điều tra, những kẻ cầm đầu dễ dàng chối bỏ trách nhiệm với nhóm đối tượng bị họ xui khiến.

Đáng chú ý thời gian qua, các tổ chức này ráo riết tìm kiếm một vài nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, người dân tộc thiểu số, nhất là tại khu vực miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Qua đó, chúng tiến hành tiêm nhiễm cho những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết các thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, nhất là chính sách về đất đai và tôn giáo, khiến người dân mất lòng tin với chính quyền, từ đó kích động họ thực hiện các hành vi gây rối, biểu tình.

Mặc dù cố gắng phô trương thanh thế, các tổ chức tự xưng “xã hội dân sự”, “nghiệp đoàn độc lập” vẫn không thể lừa gạt được đại bộ phận người lao động trong xã hội. Chính vì vậy sau một thời gian hoạt động, nhiều hội, nhóm dần biến mất, “không kèn không trống”; số khác tuyên bố tự giải tán. Điều này gián tiếp thừa nhận các hội, nhóm trên gần như đã thất bại trong việc chiêu mộ vây cánh cho mình tại Việt Nam.

Thực tế, cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự”, “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” không hề mới. Đơn cử, tháng 9/2006, Nguyễn Văn Đài (sống lưu vong tại Đức, người từng lĩnh án 15 năm tù vì hành vi Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999) cùng đồng bọn đã lập ra tổ chức “công đoàn độc lập Việt Nam” để thực hiện các hoạt động chống phá chính quyền.

Sở dĩ trong thời gian qua, một số cá nhân thù địch, thiếu thiện chí rục rịch lập hội, nhóm mới có chiều hướng gia tăng xuất phát từ việc chúng cố tình xuyên tạc quy định mới của Bộ luật Lao động 2019 về việc thành lập Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (Bộ luật này cho phép tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký). Lấy cớ người lao động có quyền bầu ra tổ chức của mình, các hội, nhóm chống phá này công khai ý đồ chia rẽ giai cấp công nhân với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Chúng cố tình phớt lờ sự thật là Tổ chức Lao động Quốc tế ILO và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã định nghĩa cụ thể về tiêu chuẩn để thành lập, gia nhập, lãnh đạo tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp như sau: phải là người lao động làm việc trong doanh nghiệp; được người lao động tại doanh nghiệp bầu; không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phải được thành lập trong chính doanh nghiệp nơi người lao động làm việc.

Vì một tổ chức đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn như vậy mới đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên tổ chức mình trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp, góp phần xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định. Đáng buồn là vẫn có hiện tượng người dân vì thiếu hiểu biết, bất mãn chế độ mà sẵn sàng trở thành công cụ chống phá đất nước của các tổ chức nguy hiểm đó. Chính vì vậy để không bị lôi kéo vào các tổ chức bất hợp pháp, có thể bị liên lụy đến bản thân và gia đình, mỗi cá nhân cần tỉnh táo nhận diện các âm mưu, thủ đoạn núp bóng “bảo vệ người lao động”, “bảo vệ môi trường” để thực hiện các mục đích đen tối./.

                                                                                               VHT.

 

 

 

Không thể phủ nhận dân chủ ở nước ta

Hiện nay, một số đối tượng thù địch luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước bằng cách phủ nhận dân chủ ở Việt Nam. Nhưng thực tiễn sinh hoạt chính trị ở nước ta đã bác bỏ cáo buộc ấy.

Mới đây, bài “Việt Nam đừng nên để già néo đứt giây!” của tác giả Trần Đông A đăng trên VOA sau đó lại được Tiếng Dân News đăng lại ngày 16/4/2022 đã cho rằng: “Dù Hiến pháp quy định người dân được trực tiếp bầu đại diện cho Quốc hội và các cơ quan nhà nước, nhưng hệ thống pháp luật, thông qua nhiều “chiêu” và “võ” đời thường, cả công khai lẫn bí mật, đã thiết lập nên sự độc tôn về quyền lực chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam và dàn dựng bằng nhiều cách để giám sát hầu hết mọi sinh hoạt xã hội” (!).

Điều đó cho thấy, chúng đã cố tình lờ đi sự hiến định của Hiến pháp và các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp của nước ta. Hiến pháp hiện hành của Việt Nam (Hiến pháp 2013) đã hiến định quyền dân chủ trong bầu cử của công dân tại Ðiều 27: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND”. Như vậy, mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, vùng miền, nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính đều có quyền bình đẳng như nhau, được tự do tham gia ứng cử nếu đủ 21 tuổi trở lên và bầu cử nếu đủ 18 tuổi trở lên. Chỉ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự mới không được ghi tên vào danh sách cử tri (Ðiều 30, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HÐND năm 2015).

Vì thế, trong nhiều khóa Quốc hội trở lại đây, các đại biểu tự ứng cử, các đại biểu là người ngoài Đảng trúng cử ngày càng cao và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho hoạt động lập pháp của Quốc hội. Thậm chí, có những đại biểu tự ứng cử 3, 4 nhiệm kỳ mà vẫn đạt số phiếu tín nhiệm cao. Đây chính là minh chứng rõ ràng nhất của tính minh bạch, dân chủ và không cản trở gì người tự ứng cử và người ngoài Đảng ứng cử. Bởi bầu cử ở Việt Nam thực hiện nghiêm bốn nguyên tắc: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử bảo đảm mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử.

Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm mọi công dân đều có cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau, không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo... Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu phù hợp.

Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.

Nguyên tắc bỏ phiếu kín trong bầu cử thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri, nhằm đảm bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri. Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu.

Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử ở Việt Nam. Vì thế, qua 15 kỳ bầu cử từ năm 1946 đến nay, nhiều người tự ứng cử đã được lựa chọn, đưa vào danh sách chính thức (như: bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII năm 2011 có 82 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV năm 2016 có 162 người tự ứng cử; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, số người tự ứng cử gấp đôi số người tự ứng cử khóa XIV) và nhiều người đã trúng cử.

Quy định của Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp cùng thực tiễn số đại biểu tự ứng cử bầu đại biểu Quốc hội nói trên ở Việt Nam đã bác bỏ sự phủ nhận dân chủ ở nước ta. 

GIỮ VỮNG TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN

 


Quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân. Gắn bó mật thiết với nhân dân là thể hiện bản chất cách mạng, bản chất giai cấp công nhân của quân đội. Hơn nữa, cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của quân đội là nhân dân, sức mạnh từ gốc của quân đội là trận địa lòng dân. Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị phải coi trọng giữ vững, tăng cường quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tiến hành và nâng cao chất lượng công tác dân vận.

Lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị cần xác định nghị quyết, chủ trương, kế hoạch công tác dân vận và tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục. Thường xuyên giáo dục, quản lý, duy trì bộ đội chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân dân. Bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của lực lượng vũ trang; bản chất, truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang; mục đích, ý nghĩa, nội dung nhiệm vụ của công tác dân vận; mười lời thề danh dự, mười hai điều kỷ luật quan hệ quân dân; tình hình kinh tế - xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của địa phương; chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương. Quản lý, duy trì đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật quan hệ quân - dân.

Hồ Chí Minh đã dạy: “Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, phải làm thế nào để khi mình chưa đến thì dân mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân, mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của mình”.

Tổ chức tốt việc tuyên truyền, vận động nhân dân. Đổi mới nội dung, đa dạng hoá các hình thức, biện pháp tuyên truyền vận động nhân dân. Tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của địa phương vững mạnh; bảo vệ, giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống, phòng chống thiên tai, huấn luyện lực lượng vũ trang địa phương, giáo dục thế hệ trẻ và cùng địa phương kịp thời giải quyết tốt các mâu thuẫn nảy sinh trong quan hệ quân dân.